Kết cục buồn của “cha đẻ” bom nguyên tử Mỹ

Ngày 6/8 rồi tiếp theo là 9/8/1945, 2 quả bom nguyên tử được người Mỹ ném xuống Hiroshima và Nagasaki, dẫn đến sự đầu hàng của Phát xít Nhật, Thế chiến II kết thúc. Trước đó 2 tháng, Giáo sư Robert Oppenheimer, cha đẻ của loại vũ khí hủy diệt khủng khiếp này đã ăn mừng bằng cách chắp tay trước ngực, giống như võ sĩ giành đai vô địch trong tiếng reo hò nồng nhiệt của đám đông ở bãi thử Los Alamos khi quả bom đầu tiên thử nghiệm thành công…

1. Ngày 25/10/1945, hơn hai tháng sau ngày 2 quả bom nguyên tử ném xuống đất Nhật, giáo sư Robert Oppenheimer nhận lời mời gặp Tổng thống Mỹ Harry S. Truman tại Nhà Trắng. Tác giả Ray Monk trong cuốn “A Life Inside the Center” viết về cuộc đời giáo sư Oppenheimer, xuất bản năm 2012 cho biết: “Đây là lần đầu tiên Oppenheimer đặt chân vào căn phòng quyền lực nhất nước Mỹ nhưng không lâu trước đó, cảm giác vui sướng, tự hào của Oppenheimer vì đã góp phần quyết định kết thúc chiến tranh bỗng vỡ tan khi ông biết 2 quả bom do ông tạo ra, giết chết ngay lập tức 200.000 người, hơn 140.000 người khác chết trong những ngày kế tiếp vì chấn thương và vì bỏng...”.

Kết cục buồn của “cha đẻ” bom nguyên tử Mỹ -0
Oppenheimer nói về nguyên lý cấu tạo bom nguyên tử tại căn cứ Alamos.

Buổi gặp gỡ Tổng thống Truman diễn ra trong không khí trang trọng với sự có mặt của hầu hết các tướng lĩnh cao cấp thuộc Bộ Chiến tranh Mỹ, kể cả Bộ trưởng Henry Stimson. Tuy nhiên, khi nhìn thấy khuôn mặt thẫn thờ của Oppenheimer, ông Truman hỏi: “Có chuyện gì về sức khỏe không?” thì Oppenheimer đáp: “Thưa tổng thống, tôi thấy tay mình đã vấy máu…”. Trong cuốn “A Life Inside the Center”, Ray Monk viết: “Sững người vài giây, Tổng thống Truman lấy lại vẻ bình tĩnh. Ông nói với Oppenheimer: “Ông không nên mang cái gánh nặng ấy vào người. Tay tôi cũng vấy máu như ông vậy. Hãy để tôi lo về điều đó”.

Buổi gặp gỡ kéo dài khoảng nửa tiếng trong bầu không khí nặng nề. Khi  Oppenheimer đã ra khỏi phòng, Tổng thống Truman quay sang tướng McAthur, Tư lệnh quân đội Mỹ ở mặt trận Thái Bình Dương: “Máu trên tay ông ta à? Chết tiệt! Ông ta có biết rằng số máu ấy chỉ bằng một nửa so với tay tôi không?”. Còn với Ngoại trưởng  Dean Acheson, ông Truman gằn giọng: “Tôi không muốn gặp lại thằng đó (nguyên văn: Son of bitch - Thằng chó đẻ) trong văn phòng này nữa”.

Đó là lần duy nhất và cũng là lần cuối cùng Oppenheimer gặp Tổng thống Truman, khác hẳn với tâm trạng của ông hôm 16/7/1945, khi một quan sát viên tại Phòng thí nghiệm Los Alamos hét lên: “Nó đã nổ”. Đó chính là lúc một số ít nhân vật cao cấp trong chính quyền Mỹ nhìn thấy ánh sáng chói chang rồi tiếp theo là tiếng nổ trầm đục đi cùng với sóng xung kích và một đám khói hình nấm bốc lên, khiến cho tất cả dù đã ở trong căn hầm bê tông cốt thép dày 10m, cách xa tâm nổ 6km vẫn cảm thấy tức ngực. Tướng John Leslie R. Groves, người đứng cạnh Oppenheimer nhớ lại: “Khuôn mặt Giáo sư Oppenheimer tràn ngập niềm phấn khích. Ông ấy là người đầu tiên trên thế giới kiểm soát được sức mạnh hạt nhân. Quay sang tôi, ông ấy lắp bắp: “Anh John, chiến tranh sẽ chấm dứt, chấm dứt và mãi mãi chấm dứt”.

Kết cục buồn của “cha đẻ” bom nguyên tử Mỹ -0
Quả bom nguyên tử đầu tiên trong giai đoạn hoàn thành.

Vẫn theo tướng John, khi quay ra xe, thái độ phấn khích của Oppenheimer còn được thể hiện bằng dáng đi khệnh khạng: “Tôi không lấy đó làm phiền lòng. Tôi hiểu Oppenheimer. Ông ấy đã thắng. Nước Mỹ và đồng minh cùng các nạn nhân của chủ nghĩa quân phiệt, phát xít mang ơn ông ấy!”.

2. Ngược dòng thời gian, ngày 9/10/1941, không lâu sau khi nước Mỹ chính thức can dự vào Thế chiến II, Tổng thống Mỹ lúc này là Franklin Roosevelt đã phê chuẩn một chương trình khẩn cấp phát triển bom nguyên tử với tên gọi “Dự án Mahattan” và người đầu tiên được mời tham gia là Oppenheimer, biệt danh “Người điều phối Đứt gãy nhanh”. Cái biệt danh ấy ám chỉ đến sự thành công của Oppenheimer trong việc tạo ra phản ứng dây chuyền neutron - là nguyên lý cốt lõi của bom nguyên tử.

Nhận lời mời tham gia “Dự án Mahattan”, Oppenheimer quy tụ một số nhà vật lý châu Âu gồm nhà bác học thiên tài Albert Einstein, Robert Serber, Emil Konopinski, Felix Bloch, Hans Bethe và Edward Teller. Đến tháng 6/1942,Lục quân Mỹ thiết lập khu vực Công trình Manhattan để tiến hành chế tạo bom nguyên tử rồi 3 tháng sau, Oppenheimer được tướng John chỉ định là người lãnh đạo phòng thí nghiệm, một lựa chọn khiến nhiều người ngạc nhiên bởi lẽ Oppenheimer nổi tiếng là không gần gũi về mặt chính trị với nhánh quân đội bảo thủ. Trong cuốn “A Life Inside the Center”, Ray Monk viết: “Thoạt đầu, tướng John có phần e ngại vì Oppenheimer chưa từng đoạt giải Nobel nên ông ấy có thể không đủ uy tín để chỉ huy những nhà khoa học khác vì nhiều người trong số họ, nhất là những người đến  từ châu Âu đều có giải Nobel...”.

Tuy nhiên khi bắt tay vào việc, tướng John thật sự ấn tượng với những kiến thức của Oppenheimer bởi lẽ Oppenheimer không chỉ xuất sắc trong lĩnh vực vật lý, mà còn giỏi về hóa học, luyện kim và vật liệu nổ. Theo tướng John: “Tôi nhìn thấy trong con người Oppenheimer có những cái mà người khác không có. Ông ấy thể hiện một tham vọng choáng ngợp, là thứ cần thiết để cung cấp động lực thúc đẩy dự án thành công”. Nhà bác học Einstein nhận xét: “Sự bổ nhiệm Oppenheimer thực sự là nước cờ thiên tài của tướng John mặc dù John không được… thiên tài cho lắm!”.

Nhằm bảo đảm an ninh và nhất là bí mật, Oppenheimer quyết định đặt phòng thí nghiệm tại một khu vực hẻo lánh ở bang New Mexico, nơi có trại chăn nuôi Los Alamos. Việc xây dựng cơ sở vật chất được công binh Mỹ tiến hành rất nhanh chóng và hoàn thành vào đầu năm 1943. Lúc ấy, Los Alamos chỉ có hơn 300 người nhưng 2 tháng trước khi quả bom nguyên tử hoàn thành hồi tháng 2/1945, con số này là 6.000 người. 

Thoạt đầu, ý tưởng của Oppenheimer là chế tạo một khẩu súng bắn loại đạn Plutonium, gọi là “Thin man - Thằng gầy” nhưng những thí nghiệm sau đó khiến ông nhận ra rằng chỉ có thể làm ra súng với lượng Plutonium rất nhỏ. Nhà bác học Albert Einstein nói: “Tháng 7/1944, Oppenheimer đề xuất với tôi chuyển từ thiết kế dạng súng sang bom nổ kép mà vật liệu nổ là Uranium 235. Nó chỉ cần một khoảng cách di chuyển rất ngắn để có thể hội tụ lại thành khối lượng tới hạn”.

Ngày 28/2/1945, quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới ra đời với mật danh “Trinity”. Đến ngày 16/7/1945, Trinity được cho nổ tại bãi thử Los Alamos. Chuẩn tướng Thomas Farrelll, người có mặt trong hầm an toàn với Oppenheimer khi diễn ra vụ nổ nhớ lại: “Ngay trước lúc bom nổ, tôi thấy  Oppenheimer nín hơi, khuôn mặt ông ấy cực kỳ căng thẳng vào những giây cuối cùng. Chỉ đến khi một quầng lửa bừng lên, các cơ mặt ông ấy mới giãn ra với đầy vẻ vui sướng…”.

Kết cục buồn của “cha đẻ” bom nguyên tử Mỹ -0
Oppenheimer và tướng John Leslie tại bãi thử Alamos sau khi quả bom đầu tiên thử nghiệm thành công.

3. Thế nhưng chỉ 2 tháng sau ngày người Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống đất Nhật, cuộc sống của Oppenheimer rẽ sang một hướng khác. Ông hút thuốc lá liên miên và thần kinh thì suy nhược trầm trọng. Sau khi gặp gỡ một số tướng lĩnh Mỹ trực tiếp cầm quân đánh nhau với người Nhật và được biết nếu Mỹ không ném bom nguyên tử, Đế quốc Nhật cũng sẽ phải đầu hàng. Việc ném 2 quả bom chỉ rút ngắn thời gian chấm dứt chiến tranh, tiết kiệm xương máu lính Mỹ nhưng ngược lại, người dân Nhật vô hình trung thành vật tế thần.

Ngày 17/8/1945, Oppenheimer từ chức Giám đốc Phòng thí nghiệm Los Alamos đồng thời gửi bản kiến nghị đến Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Henry Stimson, kêu gọi cấm sử dụng vũ khí hạt nhân trong tất cả các cuộc xung đột. Trong cuốn “A Life Inside the Center”, Ray Monk viết: “Khi đã thành công trong vụ nổ thử nghiệm, Oppenheimer tin rằng nó sẽ chỉ được dùng làm vũ khí răn đe nhưng lúc quả bom thứ nhất ném xuống Hiroshima, ông đã sửng sốt trước sự hủy diệt của nó. Lúc ấy, ông không hề muốn ném tiếp quả bom thứ hai nhưng mọi ý kiến của ông với những tướng lĩnh hàng đầu trong Bộ Chiến tranh đều bị gạt sang một bên…”.

Vẫn theo Ray Monk thì trong cuộc gặp Tổng thống Truman tại Nhà Trắng ngày 25/10/1945, Oppenheimer tin rằng ông có cơ hội để thuyết phục Truman từ bỏ chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử trong lúc Truman lại hy vọng với uy tín của Oppenheimer, ông sẽ nhận được sự ủng hộ của Quốc hội thông qua Dự luật May-Johnson, cho phép Quân đội Mỹ kiểm soát vĩnh viễn năng lượng hạt nhân. Ray Monk viết: “Oppenheimer tỏ ra bối rối khi Tổng thống Truman đề nghị ông đoán xem người Nga sẽ mất bao lâu để có được quả bom nguyên tử của riêng họ?Lúc nghe Oppenheimer trả lời rằng “Thưa tổng thống, tôi không biết” thì Truman chỉ nói vỏn vẹn một câu: “Không bao giờ!”. Ngay lập tức, Oppenheimer siết chặt hai bàn tay của mình vào nhau: “Thưa tổng thống, tôi thấy tay mình đã vấy máu…”. Thư ký Nhà Trắng Sherwin cho biết khi nghe Oppenheimer nói thế, Truman đã rút chiếc khăn tay từ túi áo của mình rồi đưa cho Oppenheimer: “Ôi chà. Đây, anh có muốn lau sạch không?”.

Sau khi Oppenheimer từ chức Giám đốc Phòng thí nghiệm Los Alamos và bản kiến nghị gửi Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Henry Stimson về việc cấm sử dụng vũ khí hạt nhân không được hồi âm, ông gần như suy sụp. Tuy vậy,  năm 1946 Tổng thống Truman vẫn vinh danh Oppenheimer với bằng khen và Huân chương công trạng, trong đó Bộ trưởng Stimson mô tả sự thành công của bom nguyên tử “phần lớn nhờ vào thiên tài của Oppenheimer cũng như nguồn cảm hứng và khả năng lãnh đạo mà ông đã truyền cho các đồng nghiệp của mình”.

Năm 1947, trước lời mời tha thiết của Ủy ban Năng lượng nguyên tử Mỹ (AEC), Oppenheimer nhận lời tham gia nhưng chỉ giữ vai trò cố vấn. Ở vị trí này, ông đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc phát triển bom khinh khí. Cũng trong thời gian ấy và kéo dài đến năm 1966, Oppenheimer đồng thời còn là giám đốc Viện Nghiên cứu cao cấp về giải phóng năng lượng hạt nhân thuộc Đại học Princeton. Tại đó, ông khuyến khích các sinh viên nghiên cứu vật lý lượng tử, phục vụ cho mục đích hòa bình

Ngày 29/8/1949, Liên Xô thử nghiệm thành công quả bom RDS-1 ở bãi thử Semipalatinsk, Kazakhstan và trở thành quốc gia thứ hai trên thế giới sở hữu vũ khí hạt nhân. RDS-1 có sức công phá tương đương 22.000 tấn thuốc nổ TNT, mạnh hơn cả hai quả bom Mỹ thả xuống Nhật. Nghe được thông tin này, Oppenheimer chua chát: “Cuộc chạy đua vũ khí hủy diệt tương lai nhân loại đã bắt đầu”.

Năm 1953, ở giai đoạn đỉnh cao chống Cộng của chính quyền Mỹ, Oppenheimer bị buộc tội có cảm tình với Cộng sản và giấy phép an ninh đặc biệt của ông trong Ủy ban Năng lượng nguyên tử bị tước bỏ. Điều này đồng nghĩa với việc ông không còn là cố vấn. Mãi đến năm 1963, Tổng thống Kennedy mới khắc phục bằng cách vinh danh Oppenheimer với giải thưởng Enrico Fermi - là giải thưởng cao quý nhất mà nước Mỹ dành cho các khoa học gia.

Ngày 18/2/1967, Oppenheimer qua đời tại thành phố Princeton, bang New Jersey, Mỹ, vì bệnh ung thư vòm họng. Năm 1970, một hố thiên thạch trên mặt trăng được đặt tên ông rồi ngày 4/1/2000, một tiểu hành tinh do Nasa phát hiện cũng được gọi là Oppenheimer 67085 nhưng mãi đến tháng 12 năm 2022, Bộ Năng lượng Mỹ  mới hủy bỏ quyết định thu hồi giấy chứng nhận an ninh của Oppenheimer đồng thời chính thức thừa nhận những cáo buộc với ông là không công bằng…

Vũ Cao (Theo A Life Inside the Center)

Các tin khác

Bóc tách mạng lưới do thám cộng đồng tại Anh

Bóc tách mạng lưới do thám cộng đồng tại Anh

Một sĩ quan Lực lượng Biên phòng Anh cùng một quan chức thương mại Hồng Kông tại London đã bị tòa án kết tội liên quan hoạt động gián điệp và theo dõi những người bất đồng chính kiến dưới vỏ bọc “cảnh sát ngầm”.

Bí ẩn “nữ thánh chiến”

Bí ẩn “nữ thánh chiến”

Trong nhiều năm, phụ nữ trong các tổ chức thánh chiến thường được nhìn nhận như “cô dâu thánh chiến”, họ vừa đảm nhiệm hậu cần hoặc thực hiện đánh bom liều chết. Tuy nhiên, hiện nay cách nhìn này không còn chính xác.

Điệp viên Lovchikov và cuộc “hội ngộ bất ngờ” ở Rotterdam

Điệp viên Lovchikov và cuộc “hội ngộ bất ngờ” ở Rotterdam

Thượng úy Vasily Lovchikov bất ngờ nhận lệnh triệu tập tới sở chỉ huy quân đoàn ở Blagoveschensk. Tại đây, ông có cuộc gặp riêng với một đại tá hải quân, người được cho là phái viên của Tổng cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu (GRU) từ Moscow đến để tuyển chọn nhân sự cho Học viện Ngoại giao Quân sự. Trước sự ngỡ ngàng của Vasily về cơ hội đào tạo và làm việc ở nước ngoài, vị đại tá trực tiếp đưa ra lời đề nghị mời ông tham gia kỳ thi tuyển sinh.

Oleg Lyalin: Điệp viên KGB và vụ đào tẩu làm rung chuyển London

Oleg Lyalin: Điệp viên KGB và vụ đào tẩu làm rung chuyển London

Một cuộc tình, một vụ bắt giữ vì lái xe trong lúc say rượu và quyết định đào tẩu của một sĩ quan KGB đã dẫn tới một trong những vụ trục xuất nhân viên tình báo lớn nhất thời Chiến tranh Lạnh. Tháng 9/1971, Anh trục xuất 105 quan chức Liên Xô bị nghi hoạt động tình báo; Moscow đáp trả bằng việc trục xuất 18 nhân viên ngoại giao Anh. Nhưng đằng sau vụ bê bối tưởng như bắt đầu từ một cuộc say rượu ấy là cả một chiến dịch phản gián đã được MI5 chuẩn bị từ nhiều năm trước.

Jos Leijdekkers- Kẻ làm chao đảo hai châu lục

Jos Leijdekkers- Kẻ làm chao đảo hai châu lục

Dư luận quốc tế vẫn còn xôn xao trước tin Ủy ban Châu Âu (EC) ngừng mọi hoạt động viện trợ Sierra Leone từ ngày 1-10-2026. Trước đó Liên minh Châu Âu (EU) có kế hoạch viện trợ quốc gia Tây Phi 18 triệu euro vào năm 2026 và 20,5 triệu euro vào năm 2027. Lý do được EC đưa ra là chính phủ Sierra Leone từ chối trục xuất ông trùm ma túy Jos Leijdekkers về Hà Lan.

Con đường biến bác sĩ trẻ trở thành “siêu trộm”

Con đường biến bác sĩ trẻ trở thành “siêu trộm”

Sau khi đột nhập liên tiếp 3 tiệm vàng lấy trộm tài sản có trị giá hơn 5 tỷ đồng, Nguyễn Duy Nhật (sinh năm 1966, trú tại phường Thanh Thủy, TP Huế, thời điểm gây án là bác sĩ khoa Đột quỵ, Bệnh viện Trung ương Huế) mới sa lưới Công an. Nhìn lại hành trình đột nhập 3 tiệm vàng để lấy trộm tài sản, mới thấy được vị bác sĩ đã lên kế hoạch từng chi tiết và phương thức, thủ đoạn như những tên “siêu trộm” chuyên nghiệp…

Hải quân Anh sử dụng tàu bẫy trong Thế chiến I và II

Hải quân Anh sử dụng tàu bẫy trong Thế chiến I và II

Trong Thế chiến thứ nhất, người Anh đã sử dụng các tàu bẫy để chống lại tàu ngầm Đức. Bước sang Thế chiến thứ hai, Bộ Hải quân Anh quyết định khôi phục chiến thuật này. Liệu đây có phải là một quyết định sáng suốt? Câu trả lời đã được thể hiện qua trận hải chiến diễn ra vào ngày 29/6/1940 giữa một tàu ngầm Đức và một tàu bẫy của Anh.

Scientology và cộng đồng tình báo Mỹ

Scientology và cộng đồng tình báo Mỹ

Từ lâu, dư luận biết khá nhiều về mối quan hệ đặc biệt giữa Giáo hội Scientology với cộng đồng tình báo Mỹ. Sâu xa Scientology còn có mối quan hệ phức tạp, bí mật với giới quyền lực và bộ máy tình báo phương Tây. Chủ đề đặc biệt này vừa được tạp chí trực tuyến Nga Lưu trữ Lịch sử gián điệp (EAH) cập nhật.

Những dấu vết trong nghi án tình báo Anh

Những dấu vết trong nghi án tình báo Anh

Điều gì đã khiến những liên lạc, thông tin về mục tiêu và các bước chuẩn bị bị cáo buộc trở thành đầu mối của một cuộc điều tra an ninh? Vụ truy tố Joshua Cammidge đang làm lộ những dấu vết dẫn tới một mắt xích trong nghi án tình báo tại Anh.

Leonid Shevchenko - điệp viên hai mang ba lần phản bội Tổ quốc

Leonid Shevchenko - điệp viên hai mang ba lần phản bội Tổ quốc

Trung tâm Quan hệ Công chúng thuộc Cơ quan An ninh Liên bang Nga (FSB) vừa công bố các tài liệu đã được giải mật của Cục An ninh Liên bang Nga tỉnh Kursk, liên quan đến hồ sơ vụ án hình sự đối với Leonid Shevchenko, sinh năm 1922, kẻ bị kết án về tội phản quốc trong những năm chiến tranh và tội hoạt động gián điệp sau chiến tranh.

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.