Hồng tươi xuân biên cương

Biên cương Tây Bắc gắn với nhiều câu chuyện truyền kỳ lịch sử cội nguồn. Hơn một trăm năm trước, sông Nậm Thi, cầu Hồ Kiều ở Lào Cai là điểm nối quan trọng cho quan hệ giao thương giữa hai quốc gia, nơi tuyến đường sắt Hải Phòng - Côn Minh đi qua, động lực phát triển cho cả vùng Tây Bắc Việt Nam và Tây Nam Trung Quốc.

Ngày nay, Nậm Thi - Hồ Kiều với cửa khẩu Lào Cai còn là nơi nhộn nhịp đưa đón du khách nước ta sang khám phá cao nguyên Vân Nam mênh mông bí ẩn và ngược lại, nhất là khi xuân về, Tết đến. Đây cũng là nơi khơi nguồn cảm hứng cho những tình khúc nổi tiếng: "Bên cầu biên giới" của Phạm Duy và "Lào Cai thành phố biên cương" của Huy Thục.

"Hồng tươi mặt sông hồng tươi mặt người, mặt phố"

song nam thi-cau ho kieu.jpg -0
Sông Nậm Thi và cầu Hồ Kiều 1 trong sương sớm.

Hồ Kiều là chiếc cầu bắc qua sông Nậm Thi nối biên giới Việt - Trung. Chớm xuân 2024, lần đầu bước qua Hồ Kiều lòng tôi bồi hồi xúc động lạ thường. Mặc cho mọi người hối đi nhanh qua cửa khẩu Lào Cai để sớm làm thủ tục nhập cảnh sang nước bạn, nhưng tôi cứ mãi đứng ngẩn ngơ ngắm dòng sông nhỏ xanh trong lặng lờ chảy qua bao thăng trầm lịch sử. Mờ mờ trong sương sớm là ngã ba sông nơi Nậm Thi hợp lưu với sông Hồng cũng từ Vân Nam đổ sang.

Nậm Thi và Hồ Kiều, hai cái tên với tôi nghe vừa lạ vừa quen, như chính con sông, cái cầu biên giới này trong tâm thức người Việt, nhất là đối với đồng bào từ phương Nam xa xôi. Tình khúc "Bên cầu biên giới" của nhạc sĩ Phạm Duy viết từ thời chống Pháp vang lên trong tôi:

Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ
Cầu cao nghiêng dốc bên dòng sông sâu
Sầu vương theo sóng xuôi về cuối trời
Một vùng đau thương chốn làng cũ quê xưa.

Bây giờ đang vào xuân, nước sông Nậm Thi lặng lờ xanh trong chứ không phải nước lũ, nhưng cầu Hồ Kiều thì vẫn cao nghiêng bóng với bao nỗi niềm.

Thuộc địa phận tỉnh Lào Cai vùng biên giới Tây Bắc nước ta, Nậm Thi trước đây còn có tên sông Ngâu hay sông Ngưu. Khởi dòng từ trấn Minh Thứu phía Đông huyện Mông Tự, châu Hồng Hà thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ở thượng nguồn gọi là sông Bắc Khê, xuống dưới sông có tên Nam Khê, chảy vào Việt Nam gọi là Nậm Thi tạo thành một đoạn ranh giới tự nhiên giữa hai nước Việt - Trung trước khi hợp lưu với sông Hồng tại cặp cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu, như lời bài ca "Lào Cai thành phố biên cương" của nhạc sĩ Huy Thục:

Nậm Thi gặp Hồng Hà òa niềm vui
Nậm Thi gặp Hồng Hà òa hồng tươi
Hồng tươi mặt sông hồng tươi mặt người, mặt phố
Thắm tươi lá cờ, cột mốc biên cương.

Sông Nậm Thi có chiều dài gần 170km, lưu lượng trung bình 84,7m³/s, với hơn 20 phụ lưu tiếp thêm nước. Chỗ hợp lưu giữa sông Nậm Thi với sông Hồng có độ cao 76,4m, là điểm có độ cao thấp nhất tính từ vùng thượng nguồn ở cao nguyên Vân Nam. Sông Nậm Thi bên phía Trung Quốc có lưu vực gồm phần Đông Nam của châu Hồng Hà và một phần Tây Nam của châu Văn Sơn thuộc tỉnh Vân Nam. Khi chảy vào Việt Nam, lưu vực dòng sông này gồm hai huyện Mường Khương, Bảo Thắng và thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai.

Do địa hình núi cao rừng rậm, nhiều loài động thực vật quý hiếm sinh sống tạo nên những khác biệt nên khí hậu lưu vực sông Nậm Thi cũng rất chênh lệch. Đến nay, nhiệt độ tối đa vùng này từng lên tới 40,9oC, còn thấp nhất là 2,1oC. Ở đây, lượng mưa lớn, độ ẩm cao, mùa hè kéo dài. Nhờ đó, thung lũng sông Nậm Thi có thể trồng trọt hai vụ một năm với các loại cây nông sản phổ biến là lúa, ngô, đỗ tương, đậu phộng và các cây trồng khác như chuối, dứa, hạt tiêu, quế, cao su,… Nằm gần quốc lộ 70 từ lâu đã mọc lên một nông trường cao su quốc doanh bên sông Nậm Thi mang lại nhiều lợi ích kinh tế.

Ngoài việc cấp thoát nước tưới tiêu cho trồng trọt, sông Nậm Thi còn có trạm bơm cung cấp nguồn nước cho Nhà máy Nước Lào Cai với công suất 12.000m³/ngày đêm, phục vụ cho đời sống an sinh xã hội của thành phố Lào Cai. Đồng thời, sông Nậm Thi còn là tuyến giao thông đường thủy gắn liền với đường bộ và đường sắt. Từ trấn Chỉ Thôn bên châu Hồng Hà, sông Nậm Thi chạy song song với đường sắt Côn Hà đến Hà Khẩu. Đây là một phần của tuyến đường sắt Côn Minh - Hải Phòng. Khi đổ vào Việt Nam, sông Nậm Thi cũng chảy song song với đường bộ đoạn qua tỉnh Lào Cai của quốc lộ 70, tuyến giao thông huyết mạch nối Lào Cai với các tỉnh thành đồng bằng sông Hồng. Đoạn cửa sông Nậm Thi trước khi hợp lưu với sông Hồng có hai cây cầu đường bộ và đường sắt cùng mang tên Hồ Kiều bắc qua cửa khẩu biên giới Việt - Trung.

"Bên cầu biên giới… lặng nghe dòng đời từ từ trôi"

trung tam thuong mai cua khau lao cai.jpg -1
Một trung tâm thương mại ở cửa khẩu Lào Cai.

Nhà văn Đoàn Hữu Nam, một người gắn bó lâu năm với Lào Cai cho biết, sông Nậm Thi và cầu Hồ Kiều là "chứng nhân" lịch sử thăng trầm của vùng biên giới này. Khi từ đồng bằng lên núi rừng biên cương lập nghiệp và sáng tác, chiếc cầu và dòng sông trở thành người bạn tri kỷ cho ông những lúc vui buồn và bước vào trang văn ông một cách tự nhiên. Tâm trạng của nhà văn họ Đoàn có gì đó giống như nhạc sĩ họ Phạm năm xưa:

Bên cầu biên giới
Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi
Sông nước xa xôi
Mây núi khắp nơi
Không tỏ một đôi lời…
Ôi giấc mơ qua
Mộng đời phiêu lãng giang hồ
Sống trong lòng người đẹp Tô Châu
Hay là chết bên bờ sông Danube
Những đêm sáng sao…

Hơn một trăm năm trước khi chưa xây dựng cầu Hồ Kiều cũng như tuyến đường sắt Điền - Việt thì vì cách biệt núi cao sông sâu nên giao thương giữa hai vùng biên giới rất khó khăn hạn chế, chủ yếu bằng thuyền nhỏ, với hàng hóa hiếm hoi trao đổi qua lại. Ngày 28/3/1898, cầu Hồ Kiều bắc qua dòng Nậm Thi được khánh thành là một sự kiện quan trọng không chỉ đối với Lào Cai.

Đặc biệt, 12 năm sau, vào ngày 1/4/1910, đường sắt Hải Phòng - Côn Minh, tức dự án đường sắt Điền - Việt hoàn thành, chính thức giao thông toàn tuyến sau gần 10 năm khởi công, đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng mở ra một thời kỳ phát triển kinh tế, xã hội cho vùng Tây Bắc Việt Nam và Tây Nam Trung Quốc, nơi có trữ lượng lớn tài nguyên khoáng sản và lâm sản mà thực dân Pháp âm mưu khai thác.

Từ đó, cầu Hồ Kiều bắc qua sông Nậm Thi đóng "hai vai", vừa đường bộ vừa đường sắt. Cùng với tuyến đường sắt Hải Phòng - Côn Minh, cầu Hồ Kiều góp phần tạo động lực cho việc hình thành các đô thị nơi đường sắt đi qua, như Hải Phòng, Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai của Việt Nam và Hà Khẩu, Tân Cai, Kiến Thủy, Trình Cống rồi vươn lên tận Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Lào Cai trở thành một trong những cửa khẩu lớn nhất nước. Chợ Cốc Lếu bên dòng Nậm Thi được khai trương, nhân dân hai nước qua lại mua bán tấp nập cho tới ngày nay, như lời nhạc Huy Thục: "Cốc Lếu ơi còn nghe tiếng ngựa thồ/ Mang đào Sa Pa về chợ/ Ngọt mận đường Tam hoa phố đón gió rừng/ Thơm mùi rượu San Lùng/ Em gái bản Mông, em gái bản Thái".

Hơn 125 qua, trải bao mưa nắng thăng trầm, có lúc cầu Hồ Kiều bị đánh sập một phần trong chiến tranh Biên giới phía Bắc năm 1979. Đến lúc quan hệ hai nước bình thường hóa thì cầu cũng được phục dựng nối nhịp trở lại. Khi chuẩn bị bước sang thế kỷ XXI, quan hệ giao thương Việt - Trung cần nâng cao, nhu cầu vận tải hàng hóa ngày càng lớn. Chính quyền hai nước đàm phán thống nhất xây dựng thêm một cây cầu đường bộ bắc qua sông Nậm Thi mang tên cầu Hồ Kiều 2.

Khởi công xây dựng từ ngày 16/9/1999, cầu Hồ Kiều 2 do cán bộ kỹ sư hai nước Việt Nam và Trung Quốc hợp tác thiết kế, thi công với kinh phí từ ngân sách của chính phủ hai nước. Cầu Hồ Kiều 2 dài 138m, rộng 14m, được chính thức đưa vào sử dụng ngày 8/1/2001. Kể từ khi khánh thành cầu đường bộ Hồ Kiều 2 thì cầu Hồ Kiều 1 chỉ còn đảm nhiệm chức năng là cầu đường sắt.

Những năm đại dịch COVID-19, có thời điểm Việt Nam và Trung Quốc đã thống nhất tạm thời ngưng giao thông, giao thương qua cây cầu lịch sử Hồ Kiều để phòng, chống dịch bệnh. Gần một năm nay, mọi sinh hoạt mới dần trở lại bình thường, dù chưa thực sự phồn thịnh như trước đây. Hai chiếc cầu Hồ Kiều trở lại sứ mệnh quan trọng của mình, nối nhịp đôi bờ Nậm Thi đưa những chuyến hàng xuất nhập khẩu thông thương.

Bước vào xuân con Rồng 2024, Lào Cai hứa hẹn càng nhộn nhịp, thịnh vượng hơn hòa trong sự phát triển chung của đất nước. Mặt trời bình yên nắng ấm chiếu rọi sông núi biên cương tươi hồng hoa cỏ sau mùa đông sương mờ giá lạnh!

Phan Phú Yên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).