Hồn quê thấm đẫm trong “Người đánh hòa trời”

Tác phẩm “Người đánh hòa trời” (Nhà xuất bản Nghệ An, quý 1/2020) gồm 45 tản truyện và một phụ lục là tác phẩm văn chương mới nhất của nhà thơ Vương Cường. Ở đó, nhà thơ của “Canh chừng và lãng quên” đã trải hết tâm hồn mình, nỗi nhớ mặn lòng của mình để viết ra những ký ức nhung nhớ xưa.

Vương Cường nói với tôi: “Khi mình đưa bản thảo cho một số người bạn thì nhận được lời động viên, đọc phần đầu thì cười, đọc phần 3 thì có thể khóc. Mình nói, viết mà để người đọc cười và khóc được thì đúng là văn rồi. Có bạn nói không nên gọi tản văn. Mình suy nghĩ và gọi tác phẩm này là tản truyện”. Vâng, tản truyện gần như ít gặp trong các tác phẩm văn chương.

Tôi cũng sinh ra ở làng, nói như nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh “Ngày xưa tôi sống ở làng/ Bây giờ làng sống trong tôi”, nên khi mở “Người đánh hòa trời” ra, tôi như được trở về thời thơ bé. Chắc chắn, với những người sinh ra, lớn lên ở quê, đọc “Người đánh hòa trời” sẽ “giật mình” như thế.

Trong 45 tản truyện thì những câu chuyện thời thơ bé của Vương Cường nằm ở phần I, dù cách chia phần của tác giả chỉ là một “tờ gác”, gồm 17 tản truyện.

Nhà thơ Vương Cường.
Nhà thơ Vương Cường.

“Làng Đông Bích xưa của tôi” được xếp thứ tự 17 của mục lục sách và cũng là tản truyện cuối của phần I. Trước đây, đọc “Canh chừng và lãng quên” (thơ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2016) của ông, tôi đã gặp ngôi làng ấy trong bài “Về làng”: “Cây đa, cây đa ba chánh chín chồi/ cà cưởng phân bua chiếm nhà chim sáo/ diều về họp báo tối mịt chưa tan/ chèo bẻo bay rung hoa phấn chiều vàng...”, bây giờ mới thực sự gặp làng Đông Bích trên trang văn.

Làng Đông Bích qua văn, thật thanh bình, con người nhân hậu. Làng có cây đa “ba chánh chín chồi” không ai biết mấy trăm năm tuổi. “Ai lớn lên cũng đều thấy cây đa đã già và tươi xanh như thế. Nó tỏa ra chín chánh lá đan nhau xanh suốt bốn mùa. Rễ đa không bao giờ ăn xuống ruộng mà chạy theo dọc đường làng. Trong các hốc cây có con bửa củi đen, ấn nhẹ vào lưng là đầu gật gật, hốt trọn tuổi thơ của trẻ con làng”. Nhưng rồi cây đa già cũng phải chết. Cây đa cũng như có hồn, gắng gượng để kéo dài thêm thời gian sống cùng dân làng.

“Hình như đa cũng biết nỗi thương tiếc của người làng hay lưu luyến với làng nên kéo dài cuộc ra đi gần đến mấy năm? Người làng như mất người thân yêu của mình. Dường như trong lòng ai cũng chịu tang. Người ở xa, nghe tin thì sửng sốt. Trai gái làng mất đi một nơi tụ họp dưới trăng. Trẻ con mất đi những ngày tháng leo trèo bắt bửa củi. Làng trở nên u buồn mất đến hàng năm” (trang 95).

Ông nâng niu từ tiếng chim, con tôm, con tép, cây đa, rú Cuồi, lễ hội dân gian, truyền thống hiếu học, và những thơm thảo trên quê hương mình. Ở cái làng quê ấy, tác giả và bạn đồng môn đã lớn lên, sống một thời đầy ắp kỷ niệm tuổi thơ. Qua các tản truyện “Trộm gai thăm thầy”, “Coi phim chui”. “Trộm lạc nhà mình”, “Trộm nhãn o Thuấn”, “Rập dơi”... Tuổi thơ với các trò chơi đánh đáo, đánh khăng, ô ăn quan, cờ lật, chơi ù, đá kiện, vật nhau, đánh trận giả, bắt ong, hái sim... lần lượt hiện lên sống động. Ngày nay những trò chơi dân gian ấy dường như không còn. Mảng tản truyện này như cái bảo tàng bé nhỏ lưu lại một góc văn hóa xưa trong văn để người sau có thể hình dung cuộc sống của người làng xa xưa.

Người đọc còn biết đến làng Đông Bích với những con người hồn hậu qua các tản truyện. Ấy là những người thầy yêu nghề và vô tư, trong sáng với nghề dạy học của mình “Thầy Tiếu”, “Thầy Hoe Sân”... Người đọc cũng bắt gặp tấm lòng bao dung trọng tình làng, nghĩa xóm trong “Ông Đỗ Tường” và khảng khái, trọng nghĩa khinh tài trong “Ông Hoài”. Hay mối tình lạ trong “Bốn o, năm dượng”...

Thầy Tiếp, cố Chắt Phiêng, chú Trịnh, chú Hữu... hiện lên sống động trong những câu chuyện ngây thơ của đám trẻ nhà quê những năm đói khát. Thời mà trẻ con áo không đủ mặc, bụng ỏng đít beo, mùa đông “Hai hàm răng cứ đánh vào nhau cầm cập”; “Ngồi trên lưng Tru thì ấm đít, thả Tru rồi thì lạnh toàn thân”; “Mũi quệt ngang thành vạch chia mặt thành ba phần...” (trang 31).

Đây là hình ảnh chú Hữu: “Chú cao to, hay ăn trắt... Chú tích vỏ trú (trấu) kín cả hai môi. Chú nói chuyện mà vỏ trú không rớt” (trang 27). Một chi tiết tưởng như đơn giản nhưng chứa đựng khá điển hình của nông thôn xưa mà nay thì mất hẳn. Chỉ những người năm nay chừng 50 tuổi trở lên mới hiểu được “ăn trắt” và hình ảnh “vỏ trú đầy môi” này.

Thiên nhiên trong tản truyện cũng hiện lên thật tự nhiên và đẹp mà giờ đây cuộc sống hiện đại ngày càng làm biến mất dần những vẻ đẹp hoang dã xưa. Đó là những khe nước trong xanh, cá rô thia nhả bọt trắng trong những ngọn cỏ thia lơ phơ, khe Lò rèn mùa mưa, chảy từ đỉnh rú Cuồi như thác, những giọt sương sớm treo óng ánh đầu ngọn cỏ như muôn vàn ngọn đèn bé xíu ai rải tưng bừng trên bờ ruộng khi lúa thì con gái. Những con cào cào to bằng ngón tay bay, đỗ lách tách trên những ngọn cỏ úa gầy hay những con chim lúc ngúc kiếm ăn lẫn vào trong đá. Những cánh đồng, những đỉnh núi... được nhắc đến như những hoài niệm... Nó vừa làm người từng chứng kiến tiếc nuối và gợi ý với người sau về đời sống nhất là văn hóa làng đã từng có. Để rồi chính chúng ta sẽ có trách nhiệm hơn trước thiên nhiên trong quá trình phát triển hiện nay.

Mặc dù vừa xuất bản, nhưng “Người đánh hòa trời” đã tạo ra hiệu ứng với bạn đọc.  “Người thật, việc thật cuốn hút, bắt người ta phải đọc tiếp, phải trăn trở suy nghĩ sau khi khép sách lại. Chính các chi tiết đã tạo ra cái thần, cái hồn của tản truyện. Điều đó không hề dễ. Văn của nhà thơ Vương Cường có tính khơi gợi, khó quên”, GS. TSKH Lương Phương Hậu sau khi đọc “Người đánh hòa trời” đã viết trên trang cá nhân như vậy.

Tác phẩm mới của nhà thơ Vương Cường.
Tác phẩm mới của nhà thơ Vương Cường.

“Người đánh hòa trời” - các tản truyện xuyên suốt từ thời thơ ấu đến trưởng thành, trong biến động của lịch sử đất nước... Giàu chất thơ, phong phú về nội dung, linh hoạt về hình thức thể hiện... những ký ức thân thương và lối sống tích cực trong tập tản truyện này”, tôi đồng cảm với đánh giá này của Nhà xuất bản Nghệ An trong “Lời giới thiệu” sách.

Là người đọc xứ Nghệ, chắc chắn sẽ thấy thú vị ở một khía cạnh khác của tản truyện. Vương Cường đã có công trong việc dựng nên một “ngân hàng” phương ngữ xứ Nghệ. Nhiều cách gọi, phương ngữ Nghệ, thậm chí cả một số loài thực vật, động vật xưa thân thương ở làng quê, nay trong đời sống hiện tại đã không còn. Chắc chắn lớp trẻ ngay xứ Nghệ bây giờ cũng cần “phiên dịch” mới hiểu chứ không riêng các vùng quê khác. Tôi phải gọi ông là một “Tổng giám đốc Ngân hàng phương ngữ Nghệ”. Tản truyện cho thấy Vương Cường thời bé đã giỏi quan sát và nay đã ngoài thất thập nhưng ông nhớ cực giỏi, văn của ông giàu hình ảnh và đầy chất thơ.

Khi tôi nói điều này, Vương Cường hào hứng: “Đúng, đúng, mình cố nhớ, cố dựng lại những hình ảnh xưa, cách gọi xưa, với mình đó là những tình cảm với làng quê xứ Nghệ. Sau này những người  trẻ có thể hình dung về thiên nhiên, về con người xưa để tự hào và có trách nhiệm giữ gìn cả quá khứ”.

Vương Cường là người sống tình cảm, nâng niu quá khứ, có trách nhiệm với cả hiện tại và tương lai. Chính vì vậy, ông viết về làng với tất cả đắm say, trân trọng và tự hào. “Những người con của làng gặp nhau thường kể những chuyện xa xưa của thời trẻ nhỏ. Đó có thể là những trò chơi nghịch ngợm của thuở chăn trâu, cắt cỏ, bắt ong, bắt bướm, hái sim, nhặt phân trên rú Cuồi. Đó có thể là những lần rủ nhau trộm bưởi, trộm lạc của những đứa trẻ vừa lớn. Trước những trò chơi bất thường ấy, dân làng không bao giờ ác cảm nặng nề. Người làng bao dung vẫn dành cho trẻ con những khoảng không gian thật đặc biệt. Bao nhiêu đứa trẻ ngày xưa, lớn lên, khi Tổ quốc cần đã cầm súng lên đường chiến đấu khắp các chiến trường. Những người con của làng đã làm tất cả những gì tốt đẹp, bồi đắp thêm cái đẹp cho làng” (trang 107).

“Làng quê cho ta nhiều cảm giác và cứ thế kỷ niệm xây trong tâm thức, đi đâu, ở đâu làng quê cũng đi theo” (trang 41). Chắc chắn là thế rồi, nhất là đối với ông, một người luôn cảm thấy như mình bị nợ với làng. Chính vì thế, ông luôn luôn đau đáu và trăn trở, khi về lại làng Đông Bích xưa “ít gặp người quen thấy nhiều người lạ/ tôi đi với chiều bao nhiêu là gió/ đường trở về làng, càng đi càng xa...” (Về làng).

Ngô Đức Hành

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.