Học ăn, học nói, học gói, học mở

Một thống kê đáng chú ý: thành ngữ, tục ngữ của người Việt có động từ “ăn” đứng ở vị trí đầu câu có số lượng tới 400 câu...

Ví như nhắc nhở con người phải biết ơn người đi trước thì: “Ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi”. Dạy người ta cư xử điềm đạm, từ tốn, vừa phải, chừng mực: “Ăn bớt bát, nói bớt lời”. Phê phán những kẻ bội nghĩa, bạc tình: “Ăn cháo đái bát”. Chê những kẻ thô lỗ: “Ăn bốc đái đứng”. Nói về tình trạng cuộc sống bấp bênh: “Ăn bữa sáng, lo bữa tối”; về lối sống tạm bợ: “Ăn đường ngủ chợ”...

Đấy là chưa kể tới những từ đồng nghĩa Hán Việt, như: “Thực bất tri kỳ vị” (Ăn mà chẳng biết mùi vị gì) chê những người thông tục, nông cạn. Cũng là chưa kể những từ “ăn” là tính từ như “Ăn ảnh” chỉ những người được chụp ảnh có thần thái tươi tắn, sắc nét (Cô ấy rất ăn ảnh!)...

Từ “ăn” này phong phú bậc nhất về nghĩa so với các từ đồng nghĩa ở các ngôn ngữ khác trên thế giới.

Bìa cuốn “Trạng ăn Lê Như Hổ”.
Bìa cuốn “Trạng ăn Lê Như Hổ”.

Trở lại với tiêu đề bài viết thì dễ thấy dân gian rất coi trọng hành vi ăn uống nên mới đặt nhiệm vụ việc học đầu tiên là “học ăn”. Cũng phù hợp với quy luật sinh trưởng của đứa trẻ bắt đầu là “ăn” sau là “nói”. Nhưng tại sao là “học gói” trước, “học mở” sau? Là vì “học gói” tức khoảng thời điểm kết thúc công việc (đóng gói thóc lúa rạ rơm rồi xem cái nào để giống, cái nào nộp thuế, cái nào ăn...) tức phải coi trọng tính mục tiêu, tính hiệu quả. Chính điều này lại chi phối quá trình “mở” là bắt đầu...

Từ “ăn” luôn có nét nghĩa hưởng thụ thành quả. Cụ Nguyễn Trãi có câu cực hay giáo dục lòng biết ơn nông dân “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”. Người Việt rất coi trọng miếng ăn, bữa ăn: “Trời đánh tránh miếng ăn”, vì quan niệm không phải là “sống để ăn” chỉ biết hưởng thụ mà là “ăn để sống” tức ăn để lấy sức làm việc. Chỉ đến bữa ăn gia đình mới tập trung đông đủ để chia sẻ, góp ý, phân công, nhắc nhở. Quan trọng nhất là cả nhà cùng nhau thưởng thức thành quả lao động chung.

Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã rất Việt Nam khi để nhân vật người mẹ trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” nổi tiếng, nói chỉ cần nhìn thấy các con ăn đã là hạnh phúc, dù để có cái ăn ấy phải trả bằng sự vất vả, thậm chí khổ đau.

Trong lúc ăn sẽ thể hiện rõ nhất con người văn hóa. Có người “ăn như hùm đổ đó”, “ăn sống ăn chết”, “ăn như thằng chết đói” vội vã, nhồm nhoàm thô tục. Có kẻ cảnh vẻ kén chọn, ra vẻ ta đây “kén ăn”. Có người chăm chăm chọn miếng ngon cho mình. Có người làm cơm rơi thịt vãi mà không có ý thu vén, nhặt nhạnh. Có kẻ vừa ăn vừa nói...Thế nên ngày trước các cụ ta chọn người (kén rể) thì thường là mời cơm. Chỉ hai ba người ăn cơm nhưng có tới hàng chục đôi mắt kín đáo, ý tứ săm soi...

Nếu là chọn rể thì “cô dâu” thường được bố trí ngồi buồng trong nhưng quan sát, nghe ngóng được rõ nhất (qua khe cửa). Người ăn biết ngồi đúng chỗ, biết mời người trên, hành vi từ tốn, ý tứ, biết quan tâm, nhường nhịn, trân trọng miếng ăn, vừa ăn vừa biết thưởng thức, biết dừng đúng lúc... hẳn nhiên là người được chọn!

Ngày xưa, trong các sách nói về chọn quân sư hay đi sứ hoặc tướng tiên phong... còn khắt khe hơn nhiều. Về chuyện này thì các sách Tàu cổ rất phong phú, chỉ xin dẫn một câu của Khổng Tử trong sách “Luận ngữ”: “Người quân tử không làm trái đức nhân dù chỉ trong khoảng một bữa ăn”.

Thế giới từng tổ chức những giải về ăn nghe có vẻ lạ nhưng rất thực. Vì người ăn nhiều cũng phải hơn người, xuất chúng. Như Giải vô địch ăn kim chi thế giới (Mỹ) được tổ chức ở Chicaho (2010) trong một lễ hội Hàn Quốc. Người tham dự ăn nhiều kim chi nhất có thể trong khoảng thời gian tối đa 8 phút. Giải thưởng năm đó trao cho người ăn được 3,8 kg trong 6 phút. Rồi thi ăn tỏi sống thế giới ở Dorset (Anh - 2013), phải ăn nhiều tỏi nhất trong vòng 1 phút. Người giữ kỷ lục là anh Deepak Sharma Bajagain (Nepal) ăn được 34 nhánh tỏi.

Lại có cuộc thi ăn cánh gà (thành phố Philadelphia - Mỹ, 2009), người nhai nuốt nhiều nhất được 203 chiếc cánh trong vòng 20 phút…Phổ biến hơn cả là thi ăn xúc xích. Có người ăn được tới 69 chiếc trong 10 phút. Những cuộc thi này thực ra mang tính quảng bá và “vui vẻ”, chứ thực ra nó phản khoa học, và có người đã chết...no!

Ăn thế đã là nhiều nhưng chưa thể so sánh với Thánh Gióng của thần thoại Việt Nam: ăn hết bảy nong cơm, ba nong cà, uống cạn một khúc sông. Chi tiết này ít nhất có mấy ý nghĩa: khẳng định sự phi phàm của nhân vật (Gióng); Ăn càng nhiều thì càng khỏe (Nhân vật chàng Khỏe trong cổ tích luôn ăn cũng rất...khỏe); Sự tốn kém về mặt hậu cần trong chiến tranh (chỉ một mình Gióng đánh giặc, trong khi đó thực tế thì phải có nhiều người như thế cùng đuổi giặc)...

Tranh minh họa cảnh Trạng Quỳnh dâng Chúa món ăn “Mầm đá”!
Tranh minh họa cảnh Trạng Quỳnh dâng Chúa món ăn “Mầm đá”!

Với quan niệm “Chứa vào càng khỏe, phát ra càng to”, những câu chuyện Trạng Ăn của người Việt đều miêu tả Trạng ăn rất khỏe, làm việc rất giỏi. Trong sách “Công dư tiệp ký” ghi truyện Lê Nại (Mộ Trạch, Hải Dương) sức ăn khỏe khác người. Nhà Nại nghèo được quan Thượng thư Vũ Quỳnh gả con gái. Thời kỳ ở rể, Nại hết ăn lại nằm không chịu học hành gì. Cha Nại bèn nói với thông gia Nại chỉ chịu học khi được ăn no.

Quan Thượng bảo người nhà mỗi bữa thổi nồi năm cơm (khoảng 3-4 kg). Nại ăn hết rồi chí thú học hành. Cuối cùng thi đậu Trạng cùng làm đến Thượng thư như bố vợ. Cụ Thượng bèn làm thơ rằng: “Tiên sinh Mộ Trạch, ăn khỏe nổi danh/ Mười tám bát cơm, mười hai bát canh/ Đi thi đỗ Trạng, tên trùm làng Nho/ Chứa vào càng khỏe, phát ra càng to”. Có thể truyện ăn này chỉ là giai thoại nhưng trong lịch sử thì có Lê Nại bằng xương bằng thịt. Ông làm quan đến chức Hữu thị lang bộ Hộ, tác phẩm để lại có“Việt sử thông giám”.

Cùng môtip truyện Lê Nại là truyện về Lê Như Hổ (Tiên Châu, Hưng Yên) là một anh học trò to cao, ăn khỏe như hổ, nên gọi là Như Hổ. Hơn cả Lê Nại, Như Hổ ăn hết một nồi bảy cơm (khoảng 5-6 kg). Hổ rất khỏe, phát cỏ nhanh đến nỗi cá chạy không kịp, chết nổi đầy đồng. Lúa chín Hổ gặt nửa ngày xong hai mẫu...Hổ học giỏi, không bao lâu thi đậu ông nghè.

Như vậy chùm truyện Trạng Ăn này đều ca ngợi các học trò ăn khỏe, làm khỏe, học giỏi, đỗ cao. Đúng là mơ ước của bất kỳ ai. Điều này là sự minh họa cho một phương ngôn Nho gia: “Dĩ thực vi tiên” (Lấy cái ăn làm đầu). Khi cả hai Trạng ăn chưa đủ nên làm việc chưa ra gì, học hành bê trễ nhưng ăn no thì khác hẳn. Ý nghĩa phổ quát của nó nhắc nhở mọi người muốn con mình khỏe mạnh, học giỏi để thành tài thì trước hết phải lo đủ cái ăn! Đồng thời cũng có bóng dáng của thành ngữ Hán Việt: “Nam thực như hổ, nữ thực như miêu” (Trai ăn khỏe, nhanh như hổ, gái ăn ít, nhỏ nhẻ như mèo). Là sự “chọi” lại với thành ngữ châm biếm: “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa” giễu những kẻ ăn nhiều, nói giỏi mà làm chẳng ra gì...

Người Pháp cũng có những truyện tương tự như truyện Trạng Ăn của ta nhưng không nằm trong văn hóa thi đỗ làm quan nên chỉ là thiếu niên nghèo và thêm cái humua rất Pháp là “chơi khăm nhà giàu”. Truyện kể khi cậu bé nọ đến làm thuê ra điều kiện với chủ: Không dậy trước 5 giờ sáng; Ăn đủ no; Cuối năm trả thóc vừa đủ sức mình mang. Chủ trại chấp nhận. Chủ cho dọn một bát súp nhỏ, cậu ta đòi “Phải một nồi súp và 3 ổ bánh to”. Chủ cho ăn đủ. Khi lấy củi về cậu còn nhổ 4 cây to chất lên xe, ngựa không kéo nổi. Cậu ta tự tay kéo, còn về trước cả mọi người. Khi đòi tiền công. Chủ đưa hai bao thóc, cậu không lấy; đưa 8 bao, cậu chỉ nhấc bằng một ngón tay; đưa 32 bao nhấc bằng 2 ngón. Cuối cùng chủ phải đưa 100 bao.

Các truyện của Đức do Grim sưu tầm hay của Hy Lạp cũng có nhiều truyện tương tự...Điều đó cho thấy khát vọng ăn khỏe, làm khỏe và được trả công tương xứng như là một mẫu số chung của văn hóa nhân loại.

Lấy cái ăn để giáo dục cả vua thì chỉ thấy ở ta với truyện “Mầm đá” gắn với nhân vật Trạng Quỳnh. Thấy Chúa Trịnh quanh năm ăn toàn sơn hào, hải vị, chả thiếu thức gì, mà vẫn kêu không thấy ngon miệng. Quỳnh nghĩ kế ra “món ăn mầm đá”. Chúa đã đói lả mà chưa có “mầm đá” Quỳnh bèn dâng cơm rau dưa mời Chúa ngự tạm. Chúa khen ngon. Quỳnh tâu: Món “Mầm đá” đấy ạ!

Chúa mắc lỡm còn mọi người vừa được cười vừa được thêm một triết lý: cứ bình dân mà sống mới thấy đủ cái hương vị cuộc đời. Là vua quan ăn sung mặc sướng mãi cũng chẳng hạnh phúc gì!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).