Họa sĩ Phạm Lực: Làm việc theo giấc mơ để tạo ra cái chưa thấy

Nhân triển lãm tranh "Bút lực"- trong bộ sưu tập của nhà sưu tầm Nguyễn Sĩ Dũng (do họa sĩ Lê Thiết Cương giám tuyển), ngày 20-4 tới đây, tại Trung tâm Nghệ thuật đương đại Vincom, họa sĩ Phạm Lực- tác giả của  hàng vạn bức tranh đủ kích cỡ, chất liệu đã có những chia sẻ xung quanh việc sáng tác của mình.

- Được biết, ông sinh ra ở Huế - quê cha, đến năm 3 tuổi (năm 1945) trở ra Hà Tĩnh quê mẹ. Sau khi tốt nghiệp Trung cấp hội họa Trường Mỹ thuật Việt Nam, giữa thập niên 60, ông vào bộ đội. Vào bộ đội và con đường trở thành một họa sĩ phục vụ cho chiến trường có phải là lựa chọn duy nhất của ông lúc bấy giờ?

+ Cha tôi là một viên quan nhỏ của Triều Nguyễn. Ông gặp mẹ tôi ở Hà Tĩnh, rồi sinh tôi ở Huế. Năm 1945, tình hình Huế có nhiều biến động do sự phản kháng của người Việt với thực dân Pháp, cha quyết định để mẹ và ba anh em chúng tôi rời Huế về Hà Tĩnh.

Tôi lớn lên ở quê mẹ, từ nhỏ đã ham mê vẽ, giỏi vẽ hơn các môn học khác. Hết cấp 2 tôi ra Hà Nội, thi đỗ rồi vào học hệ Trung cấp trường  Cao đẳng Mỹ thuật. Tốt nghiệp, tôi về làm ở Ty Văn hóa Hà Đông một thời gian ngắn rồi xung phong vào bộ đội.

Hồi đấy chúng tôi cùng học một lớp thì cả lớp giơ tay đi bộ đội. Một phong trào nhưng đầy thiêng liêng, mọi người đều nghĩ không gì có thể níu giữ mình lại, được vào bộ đội là hạnh phúc, nó gần như là lý tưởng duy nhất lúc bấy giờ.

Các thôn nữ thời chiến (Sơn dầu trên giấy, 1975).
Các thôn nữ thời chiến (Sơn dầu trên giấy, 1975).

- Xuất phát từ lý tưởng, nhưng ông có cho rằng khi phải chấp hành và hoàn thành công việc được giao trong quân ngũ, tính sáng tạo nghệ thuật của họa sĩ sẽ giảm đi?

+ Trong quân ngũ tôi chủ yếu làm việc ở Phòng Văn nghệ quân đội, công việc chính là dạy vẽ. Cứ 3 tháng chúng tôi mở một lớp để đào tạo bộ đội làm công tác tuyên huấn hoặc đưa họ vào các chiến trường như miền Nam, Lào, Campuchia.

Cũng có thời gian tôi đi biệt phái, tức đơn vị quân binh chủng nào cần thì tôi tới dạy vẽ cho họ. Công việc không cản trở việc sáng tác của tôi, thậm chí vì những yêu cầu phục vụ chiến trường tôi còn mày mò học thêm in lưới, vẽ tranh lụa, tranh sơn mài.

Trước đấy trong nhà trường tôi chỉ học làm tượng, vẽ sơn dầu và học một lớp đồ họa trước khi vào bộ đội. Mặt khác, việc đi thực tế các đơn vị, tiếp xúc với đời sống hằng ngày của người lính và người dân ở những địa phương khác nhau còn cho tôi nhiều chất liệu và cảm xúc để thể hiện những bức tranh của mình.

- Ở triển lãm lần này, số lượng các bức tranh vẽ trong giai đoạn chiến tranh không nhiều (chỉ chiếm 10/60 bức) nhưng đã để lại dấu ấn đặc biệt về cả chất liệu, màu sắc và bút pháp mà họa sĩ sử dụng để khắc họa nhân vật. Đây có phải là giai đoạn sáng tạo đặc sắc của Phạm Lực?

+ Do hoàn cảnh thường xuyên di chuyển trong chiến tranh và không có chỗ lưu trữ, cất giữ cẩn thận nên số tranh tôi vẽ giai đoạn này còn lại ít hơn rất nhiều so với số mà tôi đã sáng tác. Xưởng Mỹ thuật quân đội khi đó nhận họa phẩm viện trợ từ các nước như Liên Xô, Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Đức, họa sĩ chúng tôi vẫn có đủ màu để lựa chọn, nhưng toan thì chủ yếu làm từ vải bố - thường phải quét lót lòng trắng trứng gà hoặc keo da trâu trước khi vẽ, cho nên tranh dễ bị mốc, bị hỏng.

Điều kiện thời chiến không cho phép chậm trễ và do cả sở trường đam mê, tôi vẽ rất nhiều và nhanh. Tôi tận dụng cả những vỏ bao tải đựng súng ống, đạn dược, thuốc men hay những tấm lót linh kiện điện tử, máy móc rồi "bịa" một số màu đơn giản từ ống xả xe máy, nhọ nồi, sơn ô tô để vẽ.

Việt Nam là đất nước nhỏ bé, chiến tranh phần nhiều theo lối du kích, nếu vẽ cận cảnh các trận đánh trực tiếp thì mình không so được với các nước khác như Nga hay Trung Quốc đã làm. Tôi thường vẽ chân dung những con người "đằng sau" cuộc chiến như những dân công, anh nuôi hay số phận của những người phụ nữ mất chồng con, thay đàn ông làm mọi việc trong gia đình. Những cái đó, thế giới không có, chỉ Việt Nam mới có.

Tôi cũng hay dùng màu trầm, cuộc sống hồi đấy là như vậy. Chiến tranh mà. Áo chỉ có hai màu, màu xanh cỏ úa và màu nâu. Quần thì màu đen. Nón cũng phải sơn màu, không để nón trắng, thậm chí không được mặc áo trắng để tránh bị máy bay phát hiện. Sinh hoạt (đi học, đi chơi, cưới xin…) cũng vào ban đêm.

Sen trắng (Sơn dầu trên toan, 1976).
Sen trắng (Sơn dầu trên toan, 1976).

Thời kỳ chiến tranh là giai đoạn thứ hai trong quá trình sáng tác của tôi, tiếp sau giai đoạn thứ nhất học trong nhà trường. Ở nhà trường, tôi vẽ rất thật, tuân thủ quy tắc, tỉ lệ… như thầy dạy. Nhưng khi vào bộ đội, tôi đã đủ lớn, không còn trẻ con lơ mơ và hơn nữa, chính thực tế cuộc chiến đã làm tôi xúc động. Trong khung cảnh bom thả trên đầu, không cho phép anh ngồi lâu tỉa vẽ tỉ mỉ. Cảm xúc nhanh, vẽ nhanh, lược bớt chi tiết rườm rà mà vẫn thể hiện đúng tinh thần, dáng dấp từng người; tranh vì vậy cũng tự nhiên, phóng khoáng. 

- Lối vẽ nhanh và phóng khoáng cũng trở thành dấu ấn đậm nét trong tranh của Phạm Lực sau chiến tranh, Phạm Lực chủ yếu tả không khí chứ không đi vào tả không gian trong từng bức tranh?

Tôi nhớ một câu ca dao: "Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa"  tưởng sai mà hóa rất đúng. Nếu mổ xẻ thì anh chồng cày bằng con gì gì, hay là con trâu tự đi bừa; nhưng người ta không để ý chi tiết đó, mà để ý đến cái không khí nhộn nhịp của đồng áng, người và vật ai cũng có việc làm. Nghệ thuật cũng vậy, không thực mà lại thực.

Khi đã nắm vững kiến thức học trong nhà trường (bố cục, quy luật,…), đi vào sáng tác anh phải tập giao lại bút cho Thượng đế, quên mình đi, mình chỉ là tay sai, có lực như con trâu đi cày thì mới có cái mới được. Nếu anh tỉnh quá, mà lại giữ quan niệm lấy cái đúng sẵn có làm khuôn mẫu thì không có sáng tạo được. Nhiều khi người ta phải làm việc theo giấc mơ, để tạo ra cái chưa nhìn thấy.

- "Cái chưa nhìn thấy" có cần chú trọng vào ý của bức tranh không, thưa ông?

+ Mặc dù nghệ thuật không có mổ xẻ, không có đáp số cụ thể nhưng mục đích vẽ theo tôi, là truyền lại những cái mình nghĩ hoặc cảm xúc của mình thông qua bức tranh. Bức tranh đẹp là để người ta phải đặt dấu hỏi, chứ không phải nhìn vào đã đâu ra đấy ngay lập tức. Tức là để người xem, qua bức tranh suy nghĩ và thấy được điều mà trước đó họ chưa thấy.

Mặc dù không phác thảo nhưng tôi thường suy nghĩ trước khi cầm bút vẽ, cách vẽ gần với trừu tượng song vẫn có hình để hình dung được hình dáng chính của chủ thể, nhân vật trong bức tranh. Hình và màu trong tranh nhiều khi là cái cớ để tôi gửi gắm suy nghĩ của mình.

- Xin cảm ơn ông!

Triển lãm "Bút lực" mở cửa tự do từ ngày 20 - 4 đến hết ngày 20-5 tại Trung tâm nghệ thuật đương đại Vincom (VCCA), B1-R3 Vincom Royal City, 72 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.

Trong khuôn khổ triển lãm, buổi tọa đàm nghệ thuật chủ đề "Chiến tranh và hòa bình" (22-4) với sự tham gia của họa sĩ Phạm Lực, nhà sưu tập Nguyễn Sĩ Dũng, họa sĩ Lê Thiết Cương cũng được diễn ra.
Hải An (thực hiện)

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.