Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.

Tín ngưỡng "vạn vật hữu linh" của đồng bào Tây Nguyên

Đối với đồng bào Tây Nguyên, núi non, cây cối, dòng sông, con suối đều thiêng liêng, là nơi trú ngụ của những vị thần (Yàng). Họ có rất nhiều Yàng. Đứng đầu là Yàng Ndu, vị thần khai sáng dựng lên trời đất, có quyền năng tuyệt đối.

Bên dưới là các vị thần trong vũ trụ như Yàng Máttơngai (thần Mặt Trời), Yàng Kơnhai (thần Mặt Trăng), Yàng Tiah (thần Mặt Ðất), Yàng Trồ (thần Bầu Trời). Các vị thần trú ngụ ở núi rừng như Yàng Bnơm (thần Núi), Yàng Bri (thần Rừng), Yàng Ù (thần Ðất), Yàng Dà (thần Nước), đến những vị thần gần gũi với cuộc sống hàng ngày như Yàng Kòi (thần Lúa), Yàng Hìu (thần Nhà)...

3.jpg -1
Cổ vũ người chơi trong phần hội.

Trong tâm tưởng của đồng bào, mỗi thần lo mỗi việc nhưng tất cả đều chở che, phù trợ cho người dân, đồng thời là đấng tối cao chứng giám những điều hay lẽ phải, xử phạt những điều sai trái, hành vi phạm vào luật tục của buôn làng. Do đó, làm việc gì họ cũng cúng bái, xin phép Yàng, từ việc chung của buôn làng đến việc của gia đình, được việc rồi thì cúng tạ ơn, dùng các lễ vật dâng lên Yàng, bày tỏ lòng thành kính, lớn thì bò trâu, nhỏ thì dê gà, thóc lúa…

Từ xa xưa, đời sống của đồng bào Tây Nguyên gắn liền với rẫy nương, với cây lúa. Sự đói no, tồn vong của buôn làng phụ thuộc hoàn toàn vào mùa vụ. Họ kính trọng cây lúa, gọi là "lúa Mẹ", và rẫy là nơi trú ngụ của thần và hồn lúa, cần được giữ gìn thanh khiết, bất cứ sự uế tạp nào cũng khiến cho thần nổi giận, hồn lúa bỏ đi. Lúc thu hoạch, phải dùng tay tuốt, không được dùng dao cắt, như thế là cắt ngang hồn lúa, khiến hồn sợ hãi đi mất, làm cho mất mùa, đói kém.

Từ sự kính ngưỡng đó, mỗi dân tộc đều có chuỗi nghi lễ theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa. Với người Cơ Ho có lễ Nhô dơng cầu mưa trước khi xuống giống, lễ Nhô sih srê mừng gieo sạ, lễ Nhô rào jơng rơpu mừng rửa chân trâu, lễ Nhô wèr khi lúa trổ đòng, lễ Nhô lir bờkao lúc lúa lên bông, Nhô lềrbong mừng vụ mùa kết thúc... Từ "nhô" có nghĩa là uống, và mỗi dịp "Nhô" là một lần lễ hội, sau các nghi thức cúng Yàng, người dân ăn uống vui chơi, ca hát trong âm thanh của cồng chiêng, trong điệu múa xoang nhịp nhàng, là dịp gắn kết mọi người trong buôn làng.

Nhơ dơng của người Cơ Ho

Trong lần về miền đại ngàn Đam Rông (tỉnh Lâm Đồng), tôi được tham dự chương trình phục dựng lễ cầu mưa (Nhô dơng) của người Cơ Ho nhánh Cil. Nhô dơng thường diễn ra vào tháng 3, tháng 4 là tháng nóng gay gắt và khô hạn nhất ở vùng đất phía tây nam Tổ quốc. Người dân làm lễ cầu mưa trước khi bắt đầu vụ mùa để mong các vị thần cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng bội thu.

Để chuẩn bị cho Nhô dơng, người dân dựng 5 cây nêu lên khoảng đất chung của buôn, 1 cây chính và 4 cây xung quanh, gọi là cây nêu anh, nêu em. Dưới gốc cây nêu anh, già làng và những người phụ lễ đặt xà gạc, dao phát, cối chày giã gạo, gùi… hạt giống lúa, bắp, bầu, khoai, sắn, đậu… là những đồ vật gắn bó với cuộc sống nông nghiệp tự bao đời của người dân; những lễ vật dâng lên Yàng như xôi, gà, trứng, cá, bắp… được bày biện trang trọng và thành kính, cùng với vật hiến sinh là con gà còn sống và con dê để tiến hành nghi thức cầu mưa. Dưới các cây nêu em đặt các ché rượu cần, gùi, dựng các bó lúa và nhiều vật dụng dùng trong nông nghiệp khác.

1.jpg -0
Nghi thức khấn dâng lễ vật tạ ơn Yàng.

Người dân trong buôn, già trẻ, gái trai mặc trang phục thổ cẩm truyền thống, cùng nhau tụ họp. Khi dân làng có mặt đông đủ, già làng K'Tư cùng các phụ lễ đi quanh cây nêu, xin phép Yàng mở hội cầu mưa. "Ơ… ơ… Yàng! Lời nói muốn được đúng, già trẻ được nhiều vui vẻ, hạnh phúc, mọi người muốn được yêu thương nhau, đoàn kết gắn bó, không chia rẽ, nhiều như cá dưới nước, đông như kiến bu cơm, muốn trời sáng thần soi. Hỡi Yàng. Xin lạy các Yàng, xin cho buôn làng được mở hội cầu mưa".

Già K'Tư vừa dứt lời, một thanh niên thổi ba hồi tù vang vọng, báo hiệu nghi lễ bắt đầu. Già K'Tư khấn tạ ơn các Yàng và mời Yàng về dự lễ cùng buôn làng: "Ơ… ơ… Yàng, Yàng mây, Yàng mưa, Yàng sấm, Yàng chớp, Yàng sét. Này đây lễ vật dâng cho các thần. Thần dựng nêu anh, thần dựng nêu em, đứng chứng kiến khắp vùng này nhé. Hỡi thần núi, thần sông, thần trời, thần đất. Xin lạy các thần cho mưa thuận, gió hòa, có lúa, có thóc, có bắp đầy nhà. Muốn có trăm gùi bắp, muốn có ngàn gùi lúa, ăn được chắc, bán được giá, con cái được ấm no. Ở nơi đây xin cho được giàu có, xin cho mọi người được khỏe mạnh, xin cho được bình an. Xin được sống đến già, đến bạc tóc, rụng răng. Sinh con muốn được khỏe mạnh, nuôi con muốn được lớn khôn".

Trong các vị thần không thể thiếu thần Chiêng. Với người Tây Nguyên, chiêng là vật thiêng để kết nối những tâm tư, nguyện cầu của con người đến thần linh. Mỗi mặt chiêng đều có Yàng Chiêng ngự trị. Già K'Tư tiếp tục khấn. "Ơ…ơ… Yàng! Hỡi Yàng Chiêng linh thiêng đang ngự trong các chiêng to, chiêng nhỏ, chiêng mẹ, chiêng con. Có cái ăn cái để, biết nói biết nghe, biết làm theo điều phải là nhờ ơn Yàng. Xin đa tạ và mời Yàng về dự. Xin Yàng cho hạ giàn chiêng xuống và đánh lên vang dội núi rừng, đánh được nghe tiếng vang, thổi được nghe tiếng nhạc, đánh một buôn cả bảy buôn nghe, đánh bên này nghe được bên kia".

Lúc này, giàn chiêng droòng sáu chiếc được hạ xuống. Đội chiêng tấu lên bài nghi thức hiến sinh. Tiếng chiêng Vang, chiêng Rđơm, chiêng Dờn… đồng loạt ngân lên. Chiêng Me, chiêng Rlum với những thanh âm trầm hùng gửi gắm lời nguyện cầu đến thần linh. Cùng lúc đó, các phụ lễ giúp già K'Tư lấy máu vật hiến sinh là con gà bôi lên cây nêu, các mặt chiêng, các lễ vật và lên trán những người dự lễ, mong những lời khẩn cầu Yàng được linh ứng.

Những người tham dự lễ quỳ thành vòng tròn xung quanh, trang nghiêm gửi lời nguyện cầu đến các Yàng. Già K'Tư khai mở ché rượu cần, thành kính dâng lên các vị thần.

Tiếp đến, già K'Tư thực hiện nghi thức tắm dê, múc nước tưới lên mình chú dê được buộc bên cạnh cây nêu. Già K'Tư cho biết, trong quan niệm của người Cơ Ho Cil, việc tắm dê và lấy trứng của con chim đen là hai việc kiêng kỵ, động chạm đến trời đất, khiến Yàng tức giận gieo sấm chớp, gieo mưa xuống. Nếu có ai lỡ mang con dê đi tắm tức là phạm đến Yàng, Yàng nổi giận gây mưa, gió liên tục. Trong lễ Nhô dơng, việc tắm dê sẽ làm cho Yàng giận dữ mà làm mưa để người dân có nước trồng trọt, cho lúa trĩu cành, hạt chắc tới cậy, mùa màng bội thu, buôn làng no ấm.

Nghi lễ kết thúc, buôn làng bước vào phần hội. Mở đầu bằng bài chiêng đón khách với tiết tấu tươi vui, cùng với tiếng khèn bầu dặt dìu, vòng xoang mở ra, các cô gái xoay điệu dân vũ uyển chuyển xung quanh các cây nêu. Lúc này, những ché rượu cần được đem tới mời khách, mọi người vít cong cần rượu, buôn làng cùng nhau ăn uống, hát múa, vui chơi.

Trong phần hội, mọi người cùng tham gia các trò chơi dân gian như leo cột mỡ, lấy nước bằng quả bầu, kéo co, nhảy sạp... Bắt đầu mỗi trò chơi, người dân của buôn chơi trước làm mẫu, sau đó các vị khách cùng tham gia, có người chơi được người không, nhưng ai cũng hào hứng, hăng say, rộn tiếng cười dưới cái nắng chói chang.

Trước đây, Nhô dơng của đồng bào thường kéo dài thâu đêm, trong 2 - 3 ngày. Ngày nay, do sự chuyển biến của xã hội, sự phát triển kinh tế, phần lớn cây lúa được thay bằng cây công nghiệp, cây ăn trái như cà phê, tiêu, sầu riêng; rẫy lúa thiêng thay bằng ruộng hoa màu, bãi dâu; hệ thống đê điều, thủy lợi, máy bơm vào tận xóm làng, nương rẫy… Đời sống đồng bào khấm khá sung túc hơn, và hệ quả tất yếu là những nghi lễ theo vòng đời cây lúa rẫy cũng không còn.

Trong sự nỗ lực giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên, các nghi lễ có nguy cơ mai một như lễ cầu mưa, lễ mừng lúa mới… đã và đang được địa phương cùng các già làng phục dựng để không làm mất đi nét văn hóa độc đáo của núi rừng.

Hoàng Ngọc Thanh

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.