Gương mặt thứ 81!

Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhà văn Phùng Văn Khai tuyển chọn, cho in thành tập "80 gương mặt văn nghệ sĩ quân đội", bìa cứng trang trọng, giấy tốt, in đẹp, nội dung hấp dẫn, văn chương lôi cuốn. Sách chưa phát hành đã được đăng ký mua gần hết, cũng là một sự kiện vui của giới cầm bút và xuất bản.

Theo tôi, tác giả là “gương mặt thứ 81”, tuy không có bài riêng, nhưng qua những trang viết hiện lên rất rõ một chân dung Phùng Văn Khai đáng quý, đáng kính.

Từng là phóng viên, đạo diễn, dựng kịch bản phim truyền hình, rồi chuyển sang nghiệp văn chương, như một cơ duyên, anh trở thành nhà văn sớm có thành tựu. Đa dạng về chủ đề, phong phú về thể loại, năng động, tâm huyết với công việc, Phùng Văn Khai tạo nên một phong cách riêng khó lẫn thể hiện qua hàng chục pho tiểu thuyết lịch sử được nhận nhiều giải thưởng, dăm bảy tập thơ (từng là Trưởng ban Thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội), hàng trăm bài báo mang tính nghiên cứu chuyên sâu về văn học nghệ thuật.

Gương mặt thứ 81! -0
Tác phẩm mới của nhà văn Phùng Văn Khai.

Nhưng trước hết anh là người lính đúng nghĩa, trưởng thành từ binh nhì lên đến sĩ quan cao cấp (đương chức Phó tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội), giàu có vốn sống đời, vốn binh nghiệp, nhiều trải nghiệm nhờ rộng rãi các mối quan hệ… Những điều ấy được biểu hiện rõ trong tập sách này.

Vì một sự dễ hiểu là viết về chân dung thì phẩm chất đầu tiên phải là hiểu biết, hiểu người, hiểu đời, hiểu nghề, hiểu tác phẩm và sự chân thành. Tấm lòng đến với tấm lòng, có con đường nào ngắn nhất, dễ đi nhất, ngoài sự thành thực đâu! Dựng chân dung cũng là một cách đối thoại, với người được nói tới, với độc giả, với chính mình. Không có sự trung thực về nội dung, sắc sảo về cách tiếp cận, mới mẻ về miêu tả, tinh tế về phân tích sẽ không có đối thoại. Vì ai cũng vậy, muốn được nghe cái đúng, cái mới, cái hay, cái lạ, cái nhân văn tốt lành. Càng là đối tượng đặc thù học vấn cao, trải đời, biết nhiều, hiểu rộng càng khó đối thoại là vì vậy.

Nhưng Phùng Văn Khai đã có những đối thoại thành công nhờ sự nắm vững đến “gan ruột” đối tượng, biết nảy ra những nét độc đáo, viết ra với sự thành tâm. Có ba nhóm các gương mặt anh quan tâm: các nhà văn; nhà thơ; các văn nghệ sĩ (họa sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh)… Hẳn nhiên, cũng tương đối vì ngay trong tác phẩm nghệ thuật đường biên ranh giới của thể loại cũng không rõ ràng, nhưng nhìn từ góc độ tác giả, chịu sự quy định của cái tôi luôn khác biệt nên cũng dễ thấy những đặc trưng, bút pháp riêng.

Một đặc thù của văn học viết về chiến tranh và người lính trong 80 năm qua là hầu hết các nhà văn đều từng là người lính cầm súng trước khi cầm bút, nhất là ở lĩnh vực văn xuôi vốn yêu cầu cao về chất liệu thực tế. Cuộc sống chiến trường đã tôi luyện người lính không chỉ dày dạn về kinh nghiệm chiến đấu, còn là sự lớn lên về tâm hồn biết rung động sâu sắc trước cái đẹp, cái ác; sự ngộ ra các chân lý ở đời… Vì chiến tranh là cuộc thử thách khốc liệt nhất, như một lò lửa, nếu ai bước qua sẽ trở thành một con người khác.

Tập sách có 38 chân dung, với lứa các nhà văn chống Pháp: Văn Phác, Siêu Hải, Hữu Mai, Phùng Quán, Nguyễn Khải, Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Phương, Phù Thăng, Dũng Hà, Nguyễn Chí Trung… Nhiều hơn cả là lớp nhà văn chống Mỹ: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Bảo, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trí Huân, Tô Đức Chiêu, Chu Lai… Và những nhà văn thời hậu chiến: Trần Đăng Khoa, Minh Chuyên, Nguyễn Thế Hùng,… Xếp “đội hình” như vậy cũng không hẳn đúng, như Minh Chuyên từng là bộ đội đánh Mỹ, sau này viết nhiều hơn về bối cảnh hậu chiến… Nhưng giới thiệu qua như vậy để thấy “đội ngũ” ấy đều là những nhà văn tiêu biểu, có đóng góp.

Nguyên tắc phác thảo chân dung nhà văn của tập sách là từ không gian trận mạc đi đến trang văn, như một sự đối chiếu cần thiết, bóng dáng cuộc đời nhà văn luôn lấp ló trong trang viết. Lý thuyết nghệ thuật hiện đại quan niệm tác phẩm là mô hình nghệ thuật, thống nhất nhưng không đồng nhất với cuộc sống. Mô hình ấy là thước đo rõ nhất tài năng, vốn sống tác giả. Người đọc quan tâm hơn cả tới cách thức dựng mô hình tức cách kiến tạo/cách kể hơn là nội dung. Chắc chắn Phùng Văn Khai nắm chắc lý thuyết này nên tìm hiểu kỹ hơn quy trình, công thức nhà văn lấy chất liệu từ khói lửa chiến trường đưa vào tác phẩm.

Gương mặt thứ 81! -1

Đấy cũng là cách làm sinh động hóa chân dung, vì người đọc luôn muốn khám phá cái thao tác nhà văn biến hiện thực khốc liệt của chiến tranh thành những thông điệp, những mã văn hóa về hòa bình như thế nào. Thế nên những Phù Thăng, Hồ Phương, Hữu Mai… như được trở về bối cảnh những ngày chống Pháp để tái hiện cái thời rất đỗi trong sáng, đơn sơ nhưng cũng rất mực anh hùng… Những Nguyễn Bảo, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trí Huân… lại được “đặt” vào từng trận đánh, chiến dịch đánh Mỹ cụ thể vừa lột tả cái ác liệt, dữ dội, vừa nói được về con người kiên cường, quật khởi của thời đại.

Cuộc kháng chiến chống Pháp đi vào thơ như một giá trị văn hóa được các nhà thơ soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau. Với Chính Hữu, Vũ Cao, Hoàng Cầm, Thanh Tịnh, Nguyễn Đình Thi… mỗi người mỗi vẻ, bằng phong cách riêng được Phùng Văn Khai phác thảo theo lối bám sát vào những tác phẩm tiêu biểu nhất, phân tích bối cảnh sáng tác với hoàn cảnh thời đại và tâm trạng nhà thơ để làm bật ra nét riêng.

Qua đây bật ra một bài học sáng tạo: để có thi phẩm để đời, thi sĩ phải như cây xanh bám sâu rễ vào mảnh đất đời sống, vươn cành lá lên bầu trời thời đại quang hợp ánh sáng lý tưởng để kết trái cây tác phẩm nồng nàn hương vị thời thế và nhân thế. Những "Đồng chí", "Núi đôi", "Bên kia sông Đuống"… chứng minh cho điều ấy.

Lứa nhà thơ chống Mỹ, với Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Phạm Ngọc Cảnh… cũng được khắc họa theo lối này. Những chân dung sinh động, đúng là anh bộ đội thời chống Mỹ, và đúng với vai trò thi sĩ trong sứ mệnh sáng tạo những mã văn hóa riêng của thời đại, như một câu thơ Tố Hữu: “Vui gì hơn làm người lính đi đầu/ Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa”. Tức người lính Cụ Hồ đánh Mỹ hoàn toàn tự nguyện, xả thân, mang tính tiên phong, đậm đà tính lý tưởng.

Chân dung các nhà thơ thế hệ thứ ba (tham gia quân tình nguyện giải phóng Campuchia, chống xâm lược phía Bắc) như Nguyễn Hữu Quý, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Anh Nông, Hồng Thanh Quang… được đặt trong thế đối chiếu nghề (thơ) và nghiệp (bộ đội) cùng góc riêng đời tư để truy tìm tiếng nói của bản thể, trong những “Khúc rong chơi” (về Hồng Thanh Quang), những nét “xanh” của xưa Trường Sơn, nay Trường Sa (về Nguyễn Hữu Quý)…

Vẽ ra gương mặt các họa sĩ thường khó bởi phải hiểu sâu phong cách cùng giá trị, ý nghĩa của thế giới họa phẩm đã được sáng tạo, trưng bày. Có người trong nghề, dù hiểu sâu tính bếp núc nhưng chưa đủ vốn ngôn ngữ văn học nên chưa thuyết phục. Các bài viết tinh tế, sâu sắc của Thái Bá Vân, Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ, Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng…, gần đây là La Khắc Hòa cũng theo xu hướng phân tích vẻ đẹp họa phẩm hơn là chân dung tác giả.

Các bài viết của Phùng Văn Khai về họa sĩ Mai Văn Hiến, Đức Dụ, Văn Đa, Quách Đại Hải, Lê Duy Ứng… khác hơn, thiên về đời sống để cắt nghĩa, lý giải tác phẩm, từ đó khái quát vẻ riêng của chân dung. Các nhạc sĩ (Nguyễn Đình Thi, Vũ Hùng…); các nhiếp ảnh gia (Hoàng Kim Đáng, Nguyễn Đình Toán…), ca sĩ Tân Nhân… cũng theo nguyên tắc này. Đó là cách khôn ngoan, không dẫm vào người đi trước, lại né được cái khó nhất (bởi sự khống chế câu chữ) là vỉa vàng ròng ẩn sâu, không dễ tìm ra của tác phẩm mà vẫn thỏa mãn người đọc. Cái bí quyết lại nằm ở cách dẫn chuyện với những kỷ niệm ngoài đời, những chi tiết ý vị, dí dỏm…

80 con đò bài viết đưa bạn đọc đi từ bờ cuộc đời tác giả sang bờ bên kia thế giới tác phẩm rồi ngược lại. Không chuyến nào giống chuyến nào, bởi nơi xuất phát khác nhau, cách chèo lái, điểm đến khác nhau nên tạo ra ở cả tập sách sự phong phú, đa dạng. Đó là cách làm chỉ có ở Phùng Văn Khai, được sự ưu ái của nghề nghiệp mà quen thân đối tượng, thêm sự cần cù đi sâu tìm tòi những cái riêng, nét mới ở tác phẩm để có những nhận xét, đánh giá bất ngờ, tinh tế, vừa có tính hàn lâm, kinh viện vừa có chất đời sống động, tươi tắn. Được vẽ bằng ngôn ngữ của sự thấu hiểu cả đời, cả văn rồi được “hô thần nhập tượng” của lòng kính trọng, biết ơn, tri âm, ký thác, nên dù chiêm ngưỡng “80 gương mặt”, vẫn thấy hiện lên tấm lòng thấu cảm liên tài của người viết. Được thế, thật khó lắm thay. Cũng thật kính trọng lắm thay!

Tôi muốn gọi gương mặt thứ 81: Nhà văn Phùng Văn Khai đa tài và liên tài!

PGS.TS Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.