Đỏ mắt kiếm nhạc phẩm hay

Nhiều người cho rằng, hiện nay bài hát mới hay là rất hiếm. Tại các sân khấu biểu diễn, trên màn hình và trên sóng phát thanh vẫn thường xuyên xuất hiện những ca khúc mới, nhưng gây được ấn tượng cho người nghe thì quá ít. Tất cả dường như lào phào, dông dài rồi trôi lướt đi, chẳng còn đọng lại chút gì trong lòng người nghe. 

Nhận định đó đâu phải là khó tính, khắt khe mà đúng sự thật. Hãy thử điểm lại, trong mươi năm trở lại đây, số lượng ca khúc khiến công chúng thích thú, truyền tụng là bao nhiêu? Có lẽ nghĩ mãi người ta cũng không dễ dàng khẳng định đó là bài nào, bởi vì có thể nhắc tới một số bài được coi là nổi tiếng, nhưng không phải mọi tầng lớp công chúng đều thích, nhất là những người có gu thẩm mĩ cao.

Ở đây, lại xin được trở lại một điều mà rất nhiều người ngộ nhận: Khái niệm về "nhiều người ưa thích". Lâu nay, trên các phương tiện truyền thông, nhất là truyền thanh, truyền hình thường hay xuất hiện cụm từ "Nhiều người ưa thích" để nói đến những tác phẩm, nghệ sỹ được một số người ái mộ. Nhưng đó chỉ là một bộ phận công chúng, chủ yếu là lớp trẻ ở thành thị.

Ví như một số "sao", rồi "ông hoàng", "bà hoàng" nhạc Việt hoặc một số nhạc sỹ sáng tác. Còn đại đa số người thưởng thức gồm đủ mọi tầng lớp xã hội, lứa tuổi, khu vực địa lý thì đã không để ý, thậm chí còn dị ứng khi thấy họ xuất hiện bởi cách trình diễn xa lạ với phong cách truyền thống, cách ăn mặc phản cảm, thái độ phục vụ chưa thực sự tôn trọng công chúng. Như vậy thì không thể gọi được là "nhiều người ưa thích" mà chỉ có thể nói là "một bộ phận công chúng" mà thôi.

Lại có người nhận xét: Những năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, chúng ta có nhiều bài hát hay. Quả rất đúng. Bằng chứng là đến tận hôm nay và có lẽ còn rất lâu nữa, người ta vẫn còn mê đắm, thích nghe và thích hát rất nhiều bài mà có thể kể tới một số tiêu biểu ra đời trong kháng chiến chống Pháp như “Làng tôi”, “Ngày mùa”, “Quê em”, “Lên ngàn”, “Con kên xanh xanh”, “Lá xanh”, “Nhạc rừng”, “Sông Lô”, “Hò kéo pháo”, “Hành quân xa”, “Vì nhân dân quên mình” và vô số ca khúc ra đời giai đoạn chống Mỹ...

Dù có dễ tính và sẵn sàng cảm thông cũng không thể chối bỏ một sự thật: Bài hát hay hiện nay quá ít. Vì sao? Do đâu? Để lý giải cặn kẽ, ngọn ngành, có sức thuyết phục rất cần cắt nghĩa ở bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh xã hội, đời sống tâm lý người sáng tác… Ở đây, tôi chỉ muốn nói đến một căn nguyên dẫn đến tình trạng trên. Đó là phương thức tổ chức sáng tác và hoàn cảnh ra đời cụ thể cho những bài hát.

Nhạc sĩ Hoàng Vân với những nhạc phẩm nổi tiếng như: “Bài ca xây dựng”, “Quảng Bình quê ta ơi”,...
Nhạc sĩ Hoàng Vân với những nhạc phẩm nổi tiếng như: “Bài ca xây dựng”, “Quảng Bình quê ta ơi”,...

Bây giờ, giới nhạc sĩ cho ra đời bài hát từ 3 động lực sau: Một là viết theo "com măng". Hai là tham dự những cuộc vận động, cuộc thi và ba là viết theo hứng thú. Còn ngày xưa, lúc kháng chiến, giai đoạn có được nhiều bài hát hay như đã nói, hầu như người ta chỉ sáng tác theo hứng thú, theo sự thôi thúc tự nhiên của trái tim, tức là động lực thứ ba. Cũng có khi sáng tác theo một sự gợi ý cụ thể nào đó của một người nào đó (thường là các đồng chí lãnh đạo) nhưng không hề hứa hẹn, và không có một khoản đãi ngộ nào về vật chất.

Ví dụ như trường hợp Văn Cao sáng tác “Tiến quân ca”; “Công nhân Việt Nam”; Đỗ Nhuận viết “Hành quân xa”, “Trên đồi Him Lam”; Văn Chung viết "Hò dân cày". Tuy có thể từ một sự gợi ý, nhưng các nhạc sĩ ngày trước đã viết bằng gan ruột, máu thịt của mình, bởi họ luôn trăn trở, thậm chí bức xúc điều họ viết. Còn ngày nay?

Một ngành, một địa phương nào đó muốn có bài hát bèn nghĩ tới việc mời một số tên tuổi nhạc sĩ, thường là ở lớp lão thành (hoặc không có tên tuổi nhưng đang chốt giữ một số cửa cần thiết như phụ trách âm nhạc ở các đài phát thanh, truyền hình) mà không hề nghĩ tới họ có am hiểu lĩnh vực địa phương mình không, phong cách sáng tác của họ thế nào, và nhất là họ có còn sức viết tươi trẻ, độc đáo nữa không?

Ngày xưa, khi các nhạc sĩ vừa nhắc ở trên được gợi ý sáng tác, họ đều ở độ tuổi rất trẻ. Trường hợp Văn Cao viết "Tiến quân ca" khi ông mới 21 tuổi là một ví dụ. Bây giờ các nhạc sĩ được "com-măng" đa số là ngoài 60 tuổi. Cho nên đã từng có trường hợp một nhạc sĩ nọ tuổi đã khá cao, tên thì có đấy nhưng tài thì vừa phải, do công tác ở cơ quan Hội Nhạc sĩ mà luôn được các nơi mời mọc, "com-măng". Vì viết nhiều quá nên luôn phải có "lương khô". Ông đã lấy bài hát từng viết cho địa phương trước, tước bỏ lời, đặt lời mới cho phù hợp với địa phương sau. Việc bị phát hiện, vị nhạc sỹ nọ không bao giờ dám trở lại địa phương kia nữa.

Khi hàng loạt tỉnh, huyện được tách ra đã tốn khá nhiều tiền của cho những đợt tổ chức sáng tác tỉnh ca, huyện ca theo cung cách trên, rốt cuộc vẫn hiếm có bài được dân địa phương chấp nhận. Những cuốn băng hình, băng tiếng được phát sóng một lần rồi bỏ xó để vĩnh viễn trôi vào quên lãng. Trong khi đó, chỉ cần bỏ ra một khoản tiền nhỏ hơn để tổ chức công khai một cuộc thi sáng tác thì người ta lại ngần ngại.

Thực ra địa phương nào cũng đều muốn cơ sở mình có được bài hát hay, nhưng công việc lại được trao cho ngành Văn hoá đứng ra tổ chức sáng tác. Họ ngại hình thức vận động rộng rãi vì vừa mất thời gian, lại không mời được những nhạc sĩ có quan hệ thân thiết, như ý. Chưa kể tới những "dích dắc" tế nhị bên trong. Vậy là những chuyện ngoài nghệ thuật đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc cho ra đời sáng tác, mà chất lượng thẩm mỹ chỉ có thể đạt được khi người sáng tạo có cái tâm trong sáng, hồn nhiên.

Ngày xưa, người nhạc sĩ sáng tác bằng trái tim, bằng sự rung động mãnh liệt, sự đồng cảm lớn lao với mọi diễn biến, thăng trầm của đất nước, dân tộc. Rất nhiều tác phẩm nổi tiếng sống mãi trong lòng nhiều thế hệ Việt Nam của các nhạc sĩ Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Thi… cho đến phút cuối cùng, tác giả không hề nhận được tiền ở đâu gọi là nhuận bút.

Tất nhiên, bù lại là sự ngưỡng mộ, cảm phục của triệu triệu trái tim đối với các nhạc sĩ. Còn bây giờ, nhiều bài hát viết ra theo kiểu "com-măng" nói trên mãi mãi chỉ là một mảnh giấy, thậm chí nghe lần đầu người ta còn thấy nhạt nhẽo, mỏi mệt.

Còn các cuộc vận động hoặc thi sáng tác? Thực tế gọi là "vận động" cốt để cho thoải mái, thoáng hơn, cho bớt sự gò bó, có vẻ quan trọng hoá hoặc cho tế nhị khi phải có người này cho điểm bài của người khác khi cùng là nhạc sĩ, chứ thực chất thì "vận động" và "thi" sáng tác chỉ là một kiểu, vì đều có ban giám khảo để xét và trao giải thưởng ở các mức tiền khác nhau.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý với những nhạc phẩm nổi tiếng như: “Một khúc tâm tình người Hà Tĩnh”, “Dáng đứng Bến Tre”, “Bài ca năm tấn”,...
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý với những nhạc phẩm nổi tiếng như: “Một khúc tâm tình người Hà Tĩnh”, “Dáng đứng Bến Tre”, “Bài ca năm tấn”,...

Tình hình cho thấy là càng ngày, những cuộc như thế càng ít đi. Đã ít, lại tổ chức thiếu thuyết phục, gây sự phản ứng trong giới nhạc sĩ. Thứ nhất là có những cuộc viết viết không công khai, rộng rãi, cứ úp úp mở mở, có tính chất "thông báo trong diện hẹp, ai biết thì gửi, kẻo đông quá, làm sao đọc bài xuể được" (nguyên văn lời nói của một thành viên ban tổ chức một cuộc thi sáng tác).

Thứ hai, nhiều cuộc vận động đã có tình trạng: Hầu hết những người ở cơ quan đứng ra liên đới tổ chức lại trúng giải. Điều này rõ ràng đã hạn chế tính thuyết phục đối với dư luận. Vậy nên để có được bài hát hay, vẫn rất cần gia tăng nhiều cuộc vận động sáng tác. Nhưng cần công bố công khai, rộng rãi; và các ngành, đoàn thể cứ việc độc lập đứng ra tổ chức, chỉ cần mời một vài nhạc sĩ giỏi, có uy tín làm cố vấn. Còn ban giám khảo thì không nhất thiết toàn nhạc sĩ, mà chỉ cần một hai bậc thầy nào đó, vô tư và đàng hoàng, có sức thuyết phục, còn thì hãy sử dụng giám khảo là những đồng chí lãnh đạo ngành (lĩnh vực đó) có hiểu biết, có gu âm nhạc, đặc biệt là tham khảo thêm điểm của một số "giám khảo nhân dân" có thể là những nhà báo sành âm nhạc. Và tất cả phải cho điểm kín, sau khi giấu tên các tác giả. Những người có chân trong ban tổ chức, giám khảo dù chỉ là sơ khảo, cũng dứt khoát không có bài dự. Nếu tiếc tác phẩm, sợ uổng phí - đây cũng là một tâm lý chính đáng- thì xin không làm giám khảo.

Khắp nơi chúng ta đang ủng hộ tính dân chủ. Mong rằng trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc, nhất là công việc tổ chức để cho ra đời các bài hát, rất nên phát huy điều đó. Tình trạng "bế quan toả cảng", "cấm vận", mạnh ai nấy làm, ai có sức cứ việc chạy ("sức" ở đây đáng buồn lại không phải là tài năng sáng tạo mà là những mánh khác nằm ngoài trí tuệ sáng tác) chừng nào còn tồn tại, chừng đó sẽ không thể mong có được nhiều bài hát hay ra đời.

Chỉ có những nỗ lực lớn, sự công minh, sòng phẳng, bình đẳng đối với tất cả các chủ thể sáng tạo mới mong cải thiện được tình hình. Trách nhiệm thuộc về ai? Những cơ quan chức năng trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, các hội âm nhạc, các cơ quan tuyên truyền, phổ biến âm nhạc chắc chắn phải nhận ra vai trò, sứ mạng của mình.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.