"Độ chênh"... mơ hồ!

Ca dao Việt Nam có bài nói hay về tình yêu: "Có yêu thì nói rằng yêu/ Không yêu thì nói một điều cho xong/ Đừng rằng dở đục dở trong/ Lờ lờ nước hến cho lòng tương tư". Cái thi vị, cái hấp dẫn, mời gọi của tình yêu chính là ở cái "lờ lờ nước hến" này, chứ "trắng phớ" ra thì còn gì là thế giới tâm trạng với bao nỗi hồi hộp, phấp phỏng, hy vọng, thất vọng…

Cái tình trạng "lờ lờ" này dân gian cũng để nói về "người khôn": "Người khôn ăn nói nửa chừng/ Để cho người dại nửa mừng nửa lo". Còn khuyên cánh mày râu: "Làm trai nước hai mà nói" tức là không rõ ràng, ỡm ờ, hai mặt… Không phải là vấn đề "bản lĩnh" hay "mất lập trường", "dao động"… mà là cách ứng xử của "phái mạnh" đi "thăm dò" "phái đẹp"… có thể vừa là để "thử thách" vừa là để "gieo" vào họ cái xao xuyến bâng khuâng. Không biết tâm lý học khái quát hiện tượng đời sống này bằng thuật ngữ gì, nhưng lý luận nghệ thuật có hẳn một khái niệm rất cơ bản là "mơ hồ" (ambiguity).

Tranh minh họa Cô Tấm!
Tranh minh họa Cô Tấm!

Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha có bài "Không đề" rất "mơ hồ": "Ðưa người yêu qua nhà người yêu cũ/ Trong cơn mưa ban trưa/ Thấy hồn mình tách thành hai nửa/ Nửa ướt bây giờ nửa ướt xa xưa". Cái tứ lạ kiểu này chỉ có được từ thực tế, nhờ liên tưởng ngược thời gian rồi bấu chặt vào kỷ niệm xưa mà bật ra. Một tâm trạng cứ xốn xang lưu luyến dùng dằng cũ mới xưa nay. Ngoài trời có mưa, trong lòng cũng có mưa. Cơn mưa ở hai đầu thời gian quá khứ và hiện tại: "Nửa ướt bây giờ nửa ướt xa xưa". Cứ mơ hồ, mơ hồ trong nỗi khắc khoải. Đấy đích thực là tình yêu đẹp. Cả hai mối tình xưa và nay đều đẹp.

Tế Hanh cũng có một bài thơ để đời nhờ cái duyên vừa "trời cho" vừa "đời cho": "Cơn bão nghiêng đêm/ Cây gãy cành bay lá/ Ta nắm tay em/ Cùng nhau qua đường cho khỏi ngã/ Cơn bão tạnh lâu rồi/ Hàng cây xanh thắm lại/ Nhưng em đã xa xôi/ Và cơn bão lòng ta thổi mãi" (Bão). Sáu câu đầu tả, đến câu "Nhưng em đã xa xôi" là sự trống vắng. Câu cuối cùng, thật hay, từ cơn bão vật lý (nhìn thấy) chuyển thành cơn bão lòng (không nhìn thấy). Cái hay là ở chỗ không nhìn thấy này. Tức cái mơ hồ, trừu tượng, rất nghệ thuật, diễn đạt một cách tinh tế tâm trạng ngơ ngẩn tiếc nuối... Với thơ thì tứ càng mới lạ càng hay. Muốn vậy phải đọc, sống nhiều, sống kỹ. Gia tài văn chương trời cho thì ít đời cho mới nhiều. Ít vốn thì dựa vào kỹ thuật loanh quanh nói đi nói lại, đến khi hết vốn nên nhạt, cùn, mòn…

Như vậy cái mơ hồ thuộc về bản chất của đời sống cũng là bản chất của nghệ thuật. Nó đi vào khoa học xã hội nhân văn với tư cách một khái niệm. Ở ta ngành ngôn ngữ nghiên cứu từ lâu nhưng bên lý luận phê bình văn học mới được đặt thành hướng nghiên cứu từ 1996 mà mở đầu là bài báo "Tính mơ hồ, đa nghĩa của văn học" của Giáo sư Trần Đình Sử. Cơ sở khoa học của cái mơ hồ có từ khoa học tự nhiên với "lý thuyết tập mờ", "điều khiển mờ", rồi "logic đa trị"... Thuyết tương đối nổi tiếng của Anhxtanh cũng "mờ" vì là "tương đối" (rộng/hẹp, gần đây thêm "tương đối yếu")… Tôn giáo càng mờ. Nhờ vậy mà các lời thuyết giáo càng dễ đi vào lòng người. Phong tục, tập quán cũng mờ. Tâm linh còn mờ hơn. Ngày nay bên cạnh cuộc sống thật, là "cuộc sống ảo", thậm chí nhiều người "sống ảo" nhiều hơn "sống thật". Thế cũng là… mờ. Nghệ thuật càng cần đến mơ hồ là điều phải khẳng định.

image002.jpg -1
Những hình ảnh ma trong văn học Nhật Bản!

Cái mơ hồ có ở ngay trong đặc trưng của nghệ thuật. Lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống nhà nghệ sĩ kiến tạo nên tác phẩm - một mô hình đời sống mới. Mô hình này thống nhất chứ không đồng nhất với hiện thực, do vậy phẩm chất cơ bản của nhà văn là phải giàu có óc tưởng tượng, liên tưởng. Hình tượng nghệ thuật được phản ánh từ hiện thực khách quan đi vào tác phẩm sẽ bị khúc xạ bởi lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ, do vậy tất yếu luôn mang một độ "mờ" nhất định. 

Cái "độ chênh" giữa hiện thực và tác phẩm chính là địa hạt của cái mơ hồ. Thần thoại, truyền thuyết, truyện truyền kỳ… càng mơ hồ vì "độ chênh" ấy rất lớn. Cũng nhờ thế mà theo thời gian, các lớp phù sa hàm lượng ý nghĩa thẩm mỹ của các biểu tượng (tức cổ mẫu/mẫu gốc) cứ ngày càng dày lên. Càng "cổ" càng nhiều ý nghĩa. Ví như hình tượng con rồng là một cổ mẫu "mờ", rất ước lệ. Trong thực tế không có, chỉ có trong nghệ thuật. Đó là sự cách điệu hóa từ con rắn và cá sấu mà thành. Mỗi thời đại lịch sử (triều đại) trước đây đều có biểu tượng rồng, nhưng không giống nhau. Nó trở thành một mã ký hiệu biểu hiện ý nghĩa thời đại nó ra đời.

Thế nên, không chỉ bên hội họa mà mọi nghệ thuật đều theo nguyên tắc: vẽ/viết cái cảm thấy (chứ không vẽ/viết cái nhìn thấy)! Do vậy khái niệm "lạ hóa" là thuộc tính của nghệ thuật chứ không như nhiều người coi đó là thủ pháp, thậm chí là phương pháp (?!). Bàn về tiểu thuyết lịch sử vẫn còn tranh cãi nhau sự thật bao nhiêu phần trăm, hư cấu bao nhiêu phần trăm. Vấn đề này cũ rồi, vì thời trung đại đã đặt ra. Người ta cũng đã nhận ra rằng sự định lượng thật/giả là vô nghĩa. Chiểu theo cái "mơ hồ" thì đã là văn học phải "lạ hóa" tức phải hư cấu. Còn hư cấu bao nhiêu thì tùy vào "khoảng cách sử thi" và độ tỏa sáng của nhân vật, sự kiện. Càng xa "độ chênh" càng lớn và ngược lại.

Trong văn chương, mơ hồ thể hiện rõ hơn cả ở nhân vật và ngôn ngữ. Nhân vật cổ tích luôn mơ hồ. Cô Tấm sẽ được các họa sĩ vẽ thành nhiều cô Tấm khác nhau nhưng có điểm chung (hằng số) là cô gái Việt truyền thống (bản sắc). Nhờ vậy mà thế giới cổ tích là tự do nhất, nhân vật có thể bay từ nơi này sang nơi khác, có thể chết đi sống lại, các ước mơ đều thành sự thật, công lý đều được thực thi… Cái gì ngoài đời không có sẽ có trong cổ tích. Cho nên cổ tích "một đi không trở lại".

Tiếp nhận cổ tích cũng phải đi bằng con đường mơ hồ tưởng tượng, mà nhân vật luôn là ảo nên mỗi người tiếp nhận theo cái "tôi" trải nghiệm của mình. Vì thế không nên nói đúng sai mà chỉ nên nói đã hợp lý chưa mà thôi. Sa vào tranh cãi thì lại chứng tỏ mình "mơ hồ" theo nghĩa đen! Thế mà người ta từng cắt đi cái kết truyện "Tấm Cám" vì cho rằng để thế thì "man rợ"… Làm sao "cắt" được cổ tích? Vì nó đã nguyên khối vĩnh viễn. Chỉ có thể "viết lại" cổ tích theo ý mới mà thôi. Chi tiết Tấm dội nước sôi rồi làm mắm… chính là ánh xạ từ một quan niệm công lý nguyên thủy: kẻ gây ra tội ác gì phải nhận đúng lại tội ác như thế! Rất mơ hồ cũng rất rõ ràng!

Một cách "mơ hồ hóa" thường hay được văn chương sử dụng là các giấc mơ, trong "Hồng lâu mộng" (Trung Quốc), "Truyện Kiều" (Việt Nam), "Cửu vân mộng" (Triều Tiên), "Mộng phù kiều" (Nhật Bản), "Yogavasistha" (Ấn Độ)… Mơ là ảo nhưng nhờ thế mới nói lên được cái triết lý thật. Trang Tử trong thiên "Tề vật luận" kể chuyện Trang Chu hóa bướm. Chu nằm mơ thấy mình hóa bướm, lúc tỉnh dậy ngạc nhiên không biết mình là bướm hay là Chu. Thì ra khi người ta thiếu tỉnh táo, không làm chủ, sẽ rất dễ bị vật hóa. Đúng là một triết lý sâu sắc về bài học làm người. Thứ nữa là kiến tạo nhân vật "ma". Trong "Truyện Kiều" có nhân vật "ma" Đạm Tiên: "Sương in mặt tuyết pha thân/ Sen vàng lãng đãng như gần như xa". Qua nhân vật này Nguyễn Du đã nói lên một quan niệm cũng rất "mơ hồ" là "thiên mệnh"…

Ở phương diện ngôn ngữ thì muôn vẻ. Là biểu tượng lấp lửng hai mặt: "Mười bảy hay là mười tám đây", "Cỏ gà lún phún leo quanh mép"… trong thơ Hồ Xuân Hương. Là nhại âm Nguyễn Khuyến: "Chi chi đã!" (tức Cha cha đĩ!). Là chơi chữ, như Nguyễn Công Hoan có tên truyện "mơ hồ" là "Ngựa người và người ngựa" nhưng lại nói rất sâu sắc về nỗi khổ nhục của kiếp người "làm đĩ" (ngựa người) và kiếp phu xe (người ngựa)… Là phép tỉnh lược chủ ngữ: "Anh cứ hát. Hết sức hát. Gò ngực mà hát. Há miệng to mà hát. Hát như con quốc kêu thương" ("Anh xẩm"- Nguyễn Công Hoan). Trừ câu đầu, bốn câu sau đều bị tỉnh lược chủ ngữ. Người đọc như không còn thấy anh xẩm mù đang hát, chỉ còn nghe thấy tiếng hát não nề khắc khoải. Hình ảnh người nghệ sĩ mù khốn khổ như mờ đi, biến mất, chỉ còn lại tiếng hát bi thương, ai oán cho một kiếp người!

Người xưa đã nhận thấy văn chương giống đời thì mỵ đời, không giống đời thì lừa đời. Nhà thơ Tố Hữu đã rất tinh khi nói: "Thơ phải chăng là điều ấy, mơ ở trong thực, cái vô hình trong cái hữu hình, những màu sắc trong màu trắng". Cũng là nói về cái mơ hồ mờ ảo tinh diệu của văn chương!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).