Đạo “hòa hiếu” của bậc đại nhân

Hiểu người để ứng xử phù hợp với người, thấu hiểu tâm địa, “đi guốc vào bụng” kẻ thù để chiến thắng kẻ thù. Đó là bài học lịch sử cha ông ta để lại cho hậu thế.

Ở bài viết ngắn này chúng tôi xin chứng minh danh nhân Nguyễn Trãi đã dựng lên một mô hình tính cách “tiểu nhân” của bọn xâm lược nhà Minh qua năm đặc trưng cơ bản: hiếu sát, ngu dốt, tham lam, dối trá, hèn hạ. Năm nét tính cách này tương phản triệt để với năm phẩm chất Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín của người quân tử. Nguyễn Trãi không chỉ là quan toà công lý vạch tội kẻ thù mà còn là nhà giáo dục lớn chỉ ra những lỗi lầm của đám học trò ranh để chúng hối cải mà tiến bộ.

Đấu tranh với kẻ thù hiểm ác, trí trá, trắng trợn nên cha ông ta luôn tựa vào những điểm tựa chắc chắn của đạo lý, của chân lý chính nghĩa, điểm tựa của một kiến văn uyên bác thật sự hiếm có, điểm tựa của sự thật lịch sử cũng như sự thật hiển nhiên trong thực tế… Vì thế ta hiểu vì sao mở đầu mỗi lá thư, chiếu, biểu thường có mấy chữ tưởng chừng công thức: “Ta nghe…”; “Ta thường nghe…”; “Cổ nhân nói…”… nhưng chứa đầy sức mạnh của lẽ phải, của sự hiểu biết, của một tấm lòng yêu hòa bình đến vô cùng. Nguyễn Trãi cố ý dùng rất nhiều từ nói về chân lý, đạo lý, chính nghĩa như "Đạo trời, Thánh nhân, đại nhân, cổ nhân, trí giả, nhân giả, nghĩa giả, vương giả, quân tử, bực hào kiệt, đạo chí thành, chí nhân, thành thực"… để đối lập gay gắt làm bật ra bản chất tiểu nhân của đối phương.

Chân dung danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi.
Chân dung danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi.

Trước hết là tội "hiếu sát". Tội này về sau được Nguyễn Trãi nhấn mạnh trong “Cáo bình Ngô” bất hủ với những hình ảnh mang tính tố cáo “nướng dân đen”, “vùi con đỏ”, “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”… Đó là tội diệt chủng. Ở đây ông vạch đích danh chân tướng Liễu Thăng “không xét thời trời, không biết việc người, chỉ lấy việc chém giết làm oai…”. Không xét thời trời là bất chấp đạo lý mà ngạo ngược, không biết việc người là bất chấp nhân luân mà tráo trở. Không chỉ thế còn “mạo hiểm tiến quân vào sâu "chuyên việc chém giết, ý định giết hết không để sót người nào”. Kẻ này hiếu sát đến mức mất hết nhân tính để trở thành loài quỷ!

Đó là tội "ngu dốt": “Bảo cho mày ngược tặc Phương Chính: Kể đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của. Nay bọn mày chỉ chuộng lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương, việc ấy trời đất không dung, người mà đều giận, cho nên liền năm chinh phạt, hằng đánh hằng thua. Thế mà không biết trước tự cải quá, lại còn bới bẩn cho thêm thối, hối sao kịp được! Huống chi bây giờ nước mùa xuân mới sinh, lam chướng bốc độc, thế không thể chịu lâu được”.

Lừa dối là ngu, giết hại kẻ vô tội là ngu, hãm người vào chỗ chết là ngu, vì đó là những việc trái với lẽ trời (trời đất không dung), lẽ người (người mà đều giận). Kẻ ngu thì không thể thấu công lý, tình người và đâu có biết đến phận mình, phận người (tự cải quá), càng không phân tích được thời tiết, môi trường (mùa xuân mới sinh, lam chướng bốc độc).

Đó là cái ngu không phân biệt được mục đích và phương tiện: “… cái nỏ nặng nghìn cân không vì con chuột nhắt mà nẩy máy…”. “Cái nỏ” dù có nặng nghìn cân cũng chỉ là phương tiện thế mà lại ngắm vào mục đích “con chuột nhắt” thì đúng là quá ngu, như… con vật vậy!

Đó là cái ngu không nhìn thấy quân ta có cả một nền văn hóa đánh giặc giữ nước: “nước An Nam binh tướng thì nhiều, tâm lực đều nhau, chiến khí càng tinh, sĩ khí càng mạnh, kẻ sĩ trí mưu, các tướng vũ dũng, chẳng khác cây rừng rậm rạp, răng lược khít nhau vậy… Thế mà không hề lấy làm lo, lại còn giương vây nói mẽ, có khác gì nhà đương cháy mà chim én còn nhơn nhơn vui vẻ cùng nhau, há chẳng đáng cười lắm sao!”.

Đó là cái ngu của những kẻ kém hiểu biết, đã không biết thời thế lại “tùy tiện”: “Các ông là tướng lão luyện của Thiên triều… Sao không xét rõ thời nghi, tùy tiện sắp việc, lui quân ra ngoài bờ cõi, sai một viên sứ giả mang một lá thư đến đây…”.

Đã không biết đến người (tri bỉ), không biết đến thời (tri thời) lại không biết đến cả mình (tri kỷ) nên thất bại là chắc chắn: “Các mặt trông mong ấy đều đã tuyệt vọng, mà quân nhân mỗi ngày một bị chết, lương thực lại hết thì các ông còn đợi gì mà dùng dằng ở lại không đi chứ? Sao mà xét việc câu nệ, mưu việc không sớm thế? Than ôi, chén nước đã đổ khó mà vét lại được nữa…”.

Nguyễn Trãi đưa ra một tương phản trời vực, một bên là “đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của” một bên là hành động của tội lừa trời dối người. Đi cướp nước người, xét đến cùng cũng là ngu:  “Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội, kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên. Nhân nghĩa mà lại thế ư? Nay ở nước mày, dân oán thần giận, kế tiếp đại tang, thế mà không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ, cam lòng xâm lược phương xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi”. Ở đây Nguyễn Trãi vạch cho kẻ thù thấy rõ đối ngoại đã ngu, đối nội cũng ngu nốt, ở chỗ dân tình thì oán giận, lại liên tiếp có đại tang, thế mà vô đạo, vô luân, vô pháp vẫn khởi binh xâm lược!!!

Đó là tội "tham lam" vơ vét, bóc lột tàn ác. Giặc Minh sang xâm lược cướp phá, bóc lột nhưng mồm thì rêu rao “thừa tuyên” tức vâng mệnh Thiên triều “đi tuyên bố giáo hóa, đức hóa của triều đình”. “Kỳ thực”, chúng “chỉ vụ vét vơ”, “chuyên mặt thu lượm, bóc lột lương dân, bắt kiếm ngọc tìm vàng, kiệt chằm trơ núi, đòi hỏi nhặt nhạnh, không sót thứ gì. Muốn tiền của có nhiều, thì đục khoét của dân mà lấp hố dục; muốn nhà cửa cao đẹp, thì cướp việc mùa màng để bắt dựng xây… Quan lại thương dân chúng tuyệt không có ai, mà xem dân như cừu thù”.

Tranh minh họa cảnh tướng giặc Liễu Thăng bị quân ta chém đầu ở Ải Chi Lăng.
Tranh minh họa cảnh tướng giặc Liễu Thăng bị quân ta chém đầu ở Ải Chi Lăng.

Về hình thức, lời văn được tổ chức theo nguyên tắc mỉa mai làm nổi bật chân tướng kẻ nói một đằng làm một nẻo đầy mâu thuẫn. Nói “yên vỗ”, “chăn dân”, “vệ dân” nhưng thực tế, chỉ “chăm bóc lột dân để sung sướng cho mình”.

Đó là tội "lừa dối". “Điếu dân phạt tội” là thương dân mà vâng mệnh trời đánh kẻ có tội để cứu dân. Nhà Minh đã lấy danh nghĩa nhân đạo cao đẹp này để cướp nước ta. Đó là tội lớn nhất, tội lừa dối trời đất, lừa dối đạo lý. Tác phẩm có trên 70 bài viết, dài chưa đầy một trăm trang sách tập hợp những lá thư luận chiến đanh thép nhưng tần số xuất hiện các chữ lừa dối, dối trá, giả dối nhiều tới 36 lần: “…tính mạng của mấy vạn đàn ông, đàn bà ở trong thành, đều bị các ông lừa dối làm hại, làm cho bọn người không tội một mai bị chết”.

Lừa dối để hại người: “Thế là ngài không những lừa dối một mình tôi, lại còn lừa dối cả hơn sáu bảy nghìn người ở vệ sở các thành”. Mang một tội ác man rợ đến cướp một đất nước nhỏ bé yêu hòa bình công lý thì chúng phải có cả một “chiến lược” lừa dối. Nhưng đã phi nghĩa và giả dối thì không thể che mắt được chính nghĩa và sự thật: “…chỉ lấy lời nói suông cùng lừa dối nhau, muốn đợi quân khác đến cứu viện như ngày trước đã làm, ngoài mặt thì hòa giải mà ngầm có mưu khác…”.

Kẻ thù có dã tâm như thế thì đương nhiên là kẻ hèn hạ. Chúng được miêu tả bằng ngôn ngữ chỉ hành vi, tính cách của loài vật nhỏ bé, nhút nhát, yếu đuối, như con cá (trên thớt), con chuột (trong xó hang), con bọ ngựa (giơ càng)… Chúng là loài chim, loài thú “chim cùng thì mổ, thú cùng thì vồ”…

Hèn đến mức thà chịu “cái nhục khăn yếm” chứ không dám đương đầu với nghĩa quân “cứ đóng thành bền giữ như mụ già là làm sao? Ta e bọn mày không khỏi cái nhục khăn yếm vậy”. “Khăn yếm” dịch thoát từ hai chữ Hán “cân quắc” chỉ đồ trang sức chung của phụ nữ. Trong "Tam quốc" có chi tiết Gia Cát Lượng làm nhục Tư Mã Ý bằng cách sai sứ đưa “cân quắc” đến, tức ví Ý như đàn bà. Trong quan niệm Nho giáo xưa, “đàn bà” thuộc “tiểu nhân” với những gì xấu xa, hèn kém, khó “giáo hóa”… Nguyễn Trãi rất hay ví quân giặc với loài chuột và “đàn bà”: “…không nên ở chúi trong xó hang cùng và bắt chước thái độ mụ già như thế!”.

Tôi cứ hình dung với tập sách này Nguyễn Trãi đã xây ngôi nhà tù cải hoá bằng ngôn từ mang tên BÌNH NGÔ có năm bức tường tính cách tiểu nhân (còn có thể gọi là Ngũ giác ngục) để nhốt bọn Vương Thông, Mộc Thạch, Liễu Thăng… Ngôi nhà này có cửa vào mang tên XÂM LƯỢC, cửa ra có tên HOÀ BÌNH…

Nguyễn Trãi đã thả chúng ra theo đạo HOÀ HIẾU của bậc đại nhân!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).