Đại dịch Antonine - Khởi đầu cho sự kết thúc của Đế chế La Mã

Khoảng năm 166 sau Công nguyên, Đế chế La Mã đang ở đỉnh cao quyền lực. Các đội quân La Mã càn quét khắp nơi, dưới sự chỉ huy của Hoàng đế Lucius Verrus, đã trở về Rome sau khi đánh bại kẻ thù Parthia ở biên giới phía Đông của Đế chế La Mã.

Trên đường hành quân về Rome, họ mang theo bên mình chiến lợi phẩm từ những ngôi đền tại Parthia và cả một dịch bệnh khủng khiếp. Căn bệnh đã tàn phá Đế chế La Mã trong suốt hai thập niên tiếp theo đó, trở thành một sự kiện làm thay đổi hoàn toàn cục diện thế giới.

Đại dịch bí ẩn

Dịch bệnh bí ẩn đã xuất hiện và gần như đã đẩy La Mã cổ đại tới "địa ngục". Đế chế hùng mạnh nhất thời bấy giờ gần như đã bất lực trước kẻ sát nhân vô hình này.

Trong một cuộc vây hãm tại thành phố Seleucia, thuộc Iraq ngày nay, quân đội La Mã nhận thấy một dịch bệnh đang lây lan trong cư dân địa phương và cả binh lính của mình. Những người này đã mang dịch bệnh tới Gaul và nhiều khu vực khác dọc sông Rhine, từ đó khiến căn bệnh lạ lây lan ra toàn vương quốc.

Các nhà dịch tễ học hiện đại chưa thể xác định rõ nguồn gốc của dịch bệnh này, song người ta cho rằng nhiều khả năng nó bắt nguồn từ Trung Quốc, và sau đó được quân đội La Mã "mang theo" khắp khu vực Á-Âu.

Bức tranh khắc của danh họa người Pháp, Jules-Elie Delaunay, mô tả cảnh thiên thần báo chết bay trước cửa nhà người dân trong đại dịch Antonine.
Bức tranh khắc của danh họa người Pháp, Jules-Elie Delaunay, mô tả cảnh thiên thần báo chết bay trước cửa nhà người dân trong đại dịch Antonine.

Một trong số các truyền thuyết cho rằng Lucius Verus, một vị tướng La Mã, và sau là người cùng cai trị với Marcus Aurelius đã mở nắp một quan tài khi ông chỉ huy chiến dịch tại Seleucia, vô tình "giải phóng" loại dịch bệnh đáng sợ này. Người ta nói rằng những người La Mã bị Chúa trời trừng phạt vì vi phạm lời thề không cướp phá thành phố Seleucia.

Galen, một bác sỹ, một nhà vật lý học khá nổi tiếng tại Đế chế La Mã thời bấy giờ đã có mặt ở Rome khi dịch bệnh bùng phát. Sự tò mò về căn bệnh mới không thể ngăn ông cảm thấy cần phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ lây nhiễm. Galen trở về thành phố quê nhà Pergamon song khi dịch bệnh càn quét nghiêm trọng hơn, Hoàng đế đã nhanh chóng triệu ông về Rome vào năm 168.

Galen sau đó đã viết một chuyên đề có tên Methodus Medendi, trong đó mô tả quy mô đại dịch Antonine là rất lớn, kéo dài và cực kỳ khủng khiếp. Theo những gì mà Galen để lại, ông quan sát thấy các nạn nhân có các triệu chứng như sốt, tiêu chảy, đau họng và xuất hiện các mảng mụn mủ trên da. Tỷ lệ tử vong của căn bệnh này là khoảng 25%, và những người sống sót có khả năng miễn dịch với bệnh. Một số người khác chết trong vòng 2 tuần kể từ khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên. Một số tài liệu ghi chép rằng các bệnh nhân thường gặp phải các triệu chứng như sốt cao, nôn mửa, khan cổ, ho và đau rát cổ họng. Một số người bị nổi mẩn đỏ, hoặc xuất hiện các đốm đen trên da, hơi thở có mùi và tiêu chảy. Khoảng 10% dân số La Mã đã nhiễm phải căn bệnh này.

Cũng có không ít tài liệu miêu tả bệnh nhân nhiễm bệnh có dấu hiệu như bị đậu mùa hoặc sởi, "ngoài những chỗ lở loét là các đốm màu thô ráp, bong tróc". Theo các nhà dịch tễ học hiện đại, căn cứ vào các mô tả này, rất có thể dịch Antonine là một dạng bệnh đậu mùa. Đến cuối đại dịch vào khoảng năm 180, gần 1/3 dân số La Mã, tương đương 5 triệu người, đã bị xóa sổ.

Sự suy tàn của Đế chế La Mã…

La Mã đã bị tê liệt bởi đại dịch Antonine đến nỗi nhiều học giả tin rằng nó đã đẩy nhanh sự sụp đổ của đế chế này.

Có những ghi chép rất kinh hoàng về dịch bệnh khi đó, "các thi thể do không có người mai táng ở trên đường nứt ra thối rữa, phần bụng trương lên, từ trong cái miệng há to ào ào phun ra từng trận từng trận nước mủ, con mắt toàn màu đỏ, tay giơ hướng lên cao. Thi thể chồng chất thi thể, ở trong ngõ hẻm, trên đường phố, hành lang của đình viện cho đến trong giáo đường đều thối rữa. Trong lớp sương mù trên biển, có con thuyền chỉ vì thuyền viên phạm tội ác, bị thần linh phẫn nộ trừng phạt mà trở thành phần mộ trôi nổi trên sóng biển. Bốn bề trắng xóa đầy những ngũ cốc đã chín, nhưng chẳng có ai thu hoạch cất trữ, gia súc mau chóng trở thành động vật hoang dã. Cừu, dê, bò và lợn, những súc vật này hầu như đã quên mất thanh âm của người chăn thả chúng….".

Bức tranh miêu tả các đường phố Rome khi dịch bệnh tràn qua.
Bức tranh miêu tả các đường phố Rome khi dịch bệnh tràn qua.

Dịch bệnh đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới quân đội Rome, ở thời điểm đó ước tính gồm khoảng 150.000 người. Những người lính đã lây bệnh từ đồng đội trở về từ phương Đông và cái chết hàng loạt của họ gây ra sự thiếu hụt lớn về quân số. 

Trước thực tế này, Hoàng đế La Mã đành tuyển mộ bất cứ ai đủ sức khỏe để chiến đấu, nhưng ông không còn nhiều lựa chọn vì quá nhiều người đã chết vì dịch bệnh. Những nô lệ được tự do, các đấu sĩ và cả những kẻ tội phạm gia nhập quân đội. Đội quân không được huấn luyện này sau đó đã thất bại trước các tộc người German, những người lần đầu tiên vượt sông Rhines sau hơn 2 thế kỷ.

Trong số hàng triệu người mắc bệnh có cả Hoàng đế Lucius Verus, người đồng trị vì La Mã bên cạnh Hoàng đế Antoninus vào năm 169. Một số nhà dịch tễ học hiện đại cũng suy đoán rằng chính Hoàng đế Marcus Aurelius Antoninus đã chết vì căn bệnh này vào năm 180.

Nền kinh tế rơi vào khủng hoảng trong khi những thế lực bên ngoài nhòm ngó, Đế chế La Mã gần như không còn đủ sức tồn tại. Đại dịch Antonine đã khiến lực lượng lao động bị thiếu hụt nghiêm trọng, đẩy nền kinh tế tới chỗ trì trệ. Thương mại gián đoạn đồng nghĩa với nguồn thuế thu được để làm giàu cho đế chế bị thiệt hại nặng nề.    

Ảnh hưởng đối với dân số rõ ràng là không kém phần nghiêm trọng. Trong lá thư gửi Athens năm 175, Hoàng đế Marcus Aurelius đã nới lỏng các yêu cầu về tư cách thành viên của Areopagus (hội đồng cầm quyền của Athens), vì hiện tại có quá ít người Athen thuộc tầng lớp thượng lưu còn sống đáp ứng các yêu cầu mà ông đã đưa ra trước khi dịch bùng phát.

Tài liệu thuế của Ai Cập từ Oxyrhynchus và Fayum cho thấy quy mô dân số tại các thành phố Ai Cập cũng đã giảm mạnh. Những tài liệu đề tên tác giả Dio Cassius ghi nhận khoảng 2.000 người thiệt mạng mỗi ngày tại Rome. Người ta ước tính tỷ lệ tử vong trong giai đoạn 23 năm của dịch bệnh lây lan là khoảng từ 7-10% dân số, còn tại những thành phố đông dân hơn, tỷ lệ này có thể lên tới 13-15%.

Bên cạnh những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe con người, sự bất ổn của quân đội và nền kinh tế La Mã, tác động tâm lý dịch bệnh đối với các cộng đồng cũng là điều không thể không nhắc đến. Không khó để tưởng tượng ra cảm giác sợ hãi và bất lực của người La Mã cổ đại khi họ phải đối mặt với một căn bệnh kỳ lạ, tàn nhẫn và để lại những hậu quả tang thương đến như vậy.

Trớ trêu thay, chính sự phát triển bùng nổ của Đế chế La Mã với những trung tâm thương mại lớn đã khiến dịch bệnh càng lây lan mạnh mẽ. Những thành phố đông đúc với những kết nối chặt chẽ từng được ca ngợi là đỉnh cao của văn hóa nhanh chóng trở thành các "tâm dịch". Đại dịch Antonine có thể xem là khởi đầu cho sự suy thoái của đế chế lớn nhất mà thế giới từng chứng kiến.

… và sự trỗi dậy của Cơ đốc giáo

Xã hội La Mã đã có những thay đổi không thể phủ nhận sau đại dịch Antonine, đặc biệt là trên khía cạnh thực hành tôn giáo. Trong khi các dự án kiến trúc dân sự bị đình trệ, người ta lại dồn lực cho việc xây dựng các địa điểm linh thiêng và trang trọng hóa các nghi lễ.

Galen, vị bác sĩ La Mã cổ đại đã có những ghi chép về dịch Antonine.
Galen, vị bác sĩ La Mã cổ đại đã có những ghi chép về dịch Antonine.

Hoàng đế Marcus Aurelius được cho là đã đầu tư rất nhiều vào việc khôi phục các đền thờ và đền thờ của các vị thần La Mã, và nhiều người cho rằng điều này rất có thể bắt nguồn từ dịch bệnh. Con người, dù ở thời cổ đại và hiện đại, đều có xu hướng nghĩ về các đức tin và các thế lực siêu nhiên khi họ tuyệt vọng, và đặc biệt là khi phải đối mặt với cái chết. Với người La Mã cổ đại, trước một dịch bệnh không thể giải thích và không thể ngăn chặn, họ đã tìm đến các vị thần.

Tuy nhiên, khi dịch Antonine bùng phát, Hoàng đế La Mã đã đổ lỗi cho người Cơ đốc giáo, chỉ trích họ vì không ca ngợi các vị thần, khiến các vị thần nổi giận và trừng phạt bằng dịch bệnh. Dù vậy, chính những người Cơ đốc giáo mới là những người lôi kéo được sự ủng hộ mạnh mẽ nhất trong giai đoạn này.

Những người La Mã cổ đại vốn tín ngưỡng đa thần đã sớm nhận ra rằng cho dù họ có thành kính cầu nguyện những thần mà họ sùng bái thế nào đi nữa, thì cũng đều vô dụng. Họ kéo những người thân bị bệnh ra ngoài cửa hoặc vứt ra ngoài đường, lo sợ bản thân bị nhiễm bệnh. 

Trong khi đó, những tín đồ Cơ Đốc giáo vốn bị giới cầm quyền La Mã đàn áp lại sẵn sàng tiếp nhận các bệnh nhân kiệt quệ hoặc bị bỏ rơi, truyền bá phúc âm và cầu nguyện cho họ, hoặc giúp đỡ mai táng, thực hiện một nghi thức nhập táng đủ để an ủi những người chết.

Tàn tích của đế quốc La Mã.
Tàn tích của đế quốc La Mã.

Cơ Đốc giáo từ đó bắt đầu trỗi dậy, trở thành đức tin lớn nhất và duy nhất của Đế chế hậu đại dịch. Những tín đồ Cơ Đốc tin rằng hành động thiện nguyện của họ có thể phá tan lời dối trá của Đế chế La Mã về đức tin của họ và kinh phúc âm mà họ truyền bá có thể cứu vớt những linh hồn của những người bị hại.

Không ít người La Mã đã cảm động trước sự thiện chí của các tín đồ Cơ Đốc giáo, và cũng bởi thực tế đáng ngạc nhiên khi đó là dường như số lượng người Cơ Đốc giáo chết vì dịch Antonine không lớn như những người La Mã cổ đại. Kể từ thời điểm đó, một lượng lớn người La Mã cổ đại bắt đầu cải đạo theo Cơ Đốc giáo.

Cùng với dịch hạch (540-542), cúm Tây Ban Nha (1918-1920), Cái chết Đen (1347 - 1353), và HIV/AIDS (đỉnh điểm giai đoạn 2005-2012), đại dịch Antonine đầy bí ẩn tại Đế chế La Mã cho đến nay vẫn là những dịch bệnh kinh hoàng và có số người thiệt mạng cao nhất thế giới hiện đại.

Thái Hân (tổng hợp)

Các tin khác

Ngành công nghiệp Ukraine trước bước ngoặt đen tối

Ngành công nghiệp Ukraine trước bước ngoặt đen tối

Từ một trong những trung tâm công nghiệp lớn của Liên Xô, ngành công nghiệp Ukraine đã trải qua hơn 3 thập niên nhiều biến động. Giờ đây, khi tính đến ngày chiến sự kết thúc, Kiev không chỉ phải tính chuyện dựng lại những nhà máy đã mất, mà còn phải đưa ra quyết định mang tính chiến lược: khôi phục nền công nghiệp cũ hay xây dựng một nền công nghiệp khác.

John Joubert - kẻ sát nhân hàng loạt trẻ nhất nước Mỹ

John Joubert - kẻ sát nhân hàng loạt trẻ nhất nước Mỹ

Tháng 7/1996, John Joubert, 33 tuổi, đã bị tử hình vì giết hại 3 người. Y được mệnh danh là kẻ sát nhân hàng loạt trẻ nhất nước Mỹ - khuynh hướng tàn bạo đầu tiên của y đã bộc lộ từ năm 13 tuổi. Năm 20 tuổi, y đã gây ra ba vụ giết người. 12 năm sau khi bị bắt, y bị xử tử bằng ghế điện. Cái chết đau đớn của y đã trở thành nguyên nhân khiến nhiều tiểu bang của Mỹ bãi bỏ hình thức tử hình bằng ghế điện.

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Voi luôn là biểu tượng của sức mạnh, sự hiền hòa và mối quan hệ gắn kết giữa con người với thiên nhiên. Sự nỗ lực bảo tồn của các cấp ngành và người dân suốt nhiều năm đang giúp hồi sinh biểu tượng của một vùng đất nhiều huyền thoại.

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kéo dài suốt 10 năm với rất nhiều công sức chuẩn bị, đầu tư con người, trang bị vũ khí tối tân nhất, tuy nhiên, CIA chỉ nhận được những bản báo cáo giả; chi viện lực lượng, vũ khí theo kế hoạch của an ninh miền Bắc.

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Thắng lợi của Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc chặng đường 21 trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Góp phần đặc biệt quan trọng làm nên thành công đó phải kể đến những đóng góp thầm lặng của CBCS Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam - Đơn vị tiền thân của Phòng Bảo vệ 180 (Phòng Cảnh vệ miền Nam), Bộ Tư lệnh Cảnh vệ ngày nay.

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

10 năm chịu đòn tra tấn trong ngục tù, 10 năm chờ đợi một tình yêu, đất nước được giải phóng, họ nên duyên vợ chồng. Đó là câu chuyện về một thế hệ yêu nhau thủy chung trong gian khó. Tình yêu của họ chưa bao giờ tách rời tình yêu Tổ quốc...

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Phòng quản lý xuất, nhập cảnh Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp chặt chẽ với Phòng An ninh điều tra và Công an các xã (đặc biệt là tuyến biên giới), đồn biên phòng siết chặt quản lý lưu trú và quản lý xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu, phối hợp tuần tra, kiểm soát. Chỉ trong thời gian từ đầu tháng 5 đến nay, các đơn vị phối hợp đã kịp thời phát hiện, xử lý hàng trăm đối tượng vi phạm pháp luật, ngăn chặn hàng trăm trường hợp không đủ điều kiện nhập cảnh vào trong nước, bắt giữ hàng chục đối tượng có tiền án giao cho Công an các địa phương xử lý theo pháp luật; khởi tố nhiều băng nhóm tổ chức cho người nước ngoài nhập cảnh và lưu trú trái phép…

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Sau khi khuất phục được toán Castor và Phạm Chuyên, Ban Chuyên án quyết định triển khai “trò chơi nghiệp vụ” khi cho Phạm Chuyên và Lò Văn Piếng lên máy liên lạc vào Nam, một cuộc chiến qua sóng điện đài chính thức bắt đầu.

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi những con suối reo vang hòa cùng tiếng gió ngàn của xã biên giới Avương (Đà Nẵng), có một “ngọn núi lớn” trong lòng đồng bào Cơ Tu. Đó là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Arất Blư. Ở tuổi 88, đôi chân ấy có thể đã chậm, mái đầu đã bạc trắng như sương sớm, nhưng ký ức về một thời hoa lửa và cái tâm sáng của một người Cộng sản vẫn rực cháy như ngọn lửa thiêng giữa nhà Gươl.

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trải qua những trận đánh giữa lòng Sài Gòn, nếm đủ đòn roi tra tấn thảm khốc trong lao tù, ông dường như đã chai sạn trước cái chết. Bản lĩnh của một cựu tù Côn Đảo trở về từ “địa ngục trần gian” giúp ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Trưởng Công an xã những ngày mới giải phóng.

Cổ phục Việt góp phần thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Cổ phục Việt - Từ bảo tàng ra phố

Từ những hiện vật lặng lẽ trong bảo tàng đến các không gian văn hóa, di tích và mạng xã hội, cổ phục Việt đang có một hành trình trở lại đầy ấn tượng. Sự hồi sinh ấy đến từ những con người đang biến cổ phục thành chiếc cầu nối với quá khứ, để di sản không dừng lại ở ký ức mà tiếp tục sống trong hiện tại bằng những cách rất mới.

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Trong những ngày tháng Bảy tri ân, khi cả dân tộc đang hướng về Ngày thương binh - liệt sĩ (27/7) với tấm lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, tại tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Công an tỉnh đang triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ với tất cả sự khẩn trương, trách nhiệm và lòng thành kính. Những giọt máu, những mẫu sinh phẩm được lấy đi không chỉ là dữ liệu khoa học, mà là niềm hy vọng, nhóm lên ngọn lửa đoàn tụ cho biết bao gia đình mòn mỏi đợi chờ suốt nhiều thập kỷ qua.

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Lịch sử Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại thường được ghi dấu bằng những trận đánh lớn và tên tuổi của các anh hùng. Nhưng phía sau những tấm bản đồ chiến dịch đồ sộ là sự cống hiến và chiến công của hàng triệu con người. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày phát xít Đức tấn công Liên Xô (22/6/1941 - 22/6/2026), xin trân trọng giới thiệu câu chuyện về người lính cận vệ Semyon Lyulko - một mảnh ghép bình dị góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại.

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Một ứng dụng nhắc giờ cầu nguyện ở Iran bất ngờ phát đi thông điệp kêu gọi buông vũ khí giữa lúc chiến sự leo thang. Vụ việc cho thấy chiến tranh hiện đại không chỉ đánh vào căn cứ quân sự hay mạng lưới chỉ huy, mà còn len vào những không gian riêng tư nhất của đời sống số: màn hình điện thoại, thói quen hằng ngày và cả niềm tin tôn giáo.

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Đêm 29/1/1753, Elizabeth Canning, một cô hầu gái 18 tuổi ở London, trở về nhà sau 28 ngày mất tích. Người cô gầy rộc, chân không giày, đầu quấn một mảnh vải thấm máu. Cô kể rằng mình bị cướp, rồi bị đưa đến một căn nhà ở Enfield Wash, bị một phụ nữ người Romani nhốt trên gác xép suốt gần một tháng. Lời khai ấy khiến một người bị kết án tử hình, chia London thành hai phe và cuối cùng đưa chính Elizabeth ra tòa vì tội khai man.

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

27 chuyên án. Gần 1.000 tên gián điệp biệt kích bị bắt, tiêu diệt. Hàng trăm tấn vũ khí, thuốc men, nhu yếu phẩm bị thu giữ. Và CIA, trong suốt hơn 10 năm đó, không biết mình đã thua. Tất cả bắt đầu từ 4 người ngồi trong khoang tối của chiếc C-47.

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Chuyện xảy ra cách đây trên 40 năm trên miền đất cực Nam Tổ quốc tại Hòn Đá Bạc, thuộc xã Bình Khánh Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, trở thành huyền thoại và chiến công của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.