Cuốn sách cần thiết và bổ ích

Năm 2018 này lại xuất hiện "Giáo trình truyện ngắn Việt nam hiện đại" của hai tác giả Đinh Trí Dũng và Bùi Việt Thắng - cuốn sách kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó...

Truyện ngắn là một thể loại có nhiều thành tựu trong văn chương dân tộc. Cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống văn học. Đã có nhiều cuốn sách viết về thể loại này của các tác giả Lê Huy Bắc, Phan Cự Đệ, Vương Trí Nhàn, Bùi Việt Thắng. Năm 2018 này lại xuất hiện "Giáo trình truyện ngắn Việt nam hiện đại" của hai tác giả Đinh Trí Dũng và Bùi Việt Thắng - cuốn sách kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó.

Sách chia làm 5 chương. Chương một trình bày quan niệm về truyện ngắn và khái lược quá trình hình thành, phát triển thể loại. Chương hai: Đặc trưng thể loại truyện ngắn. Chương ba: Các dạng thức truyện ngắn. Chương bốn: Truyện ngắn Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945.

Chương năm: Truyện ngắn Việt Nam từ 1945 đến nay. Như vậy, người đọc có thể bao quát được khái niệm, sự hình thành truyện ngắn, đặc trưng truyện ngắn và các dạng thức truyện ngắn, đồng thời biết được lịch sử phát triển truyện ngắn Việt Nam qua hai thời kì lớn, cùng với các cây bút truyện ngắn tiêu biểu.

Do yêu cầu của một tài liệu học tập, cho nên hai tác giả đã thống nhất cách trình bày nội dung mỗi chương theo một cấu trúc chung: Yêu cầu cần đạt, Nội dung chương, Tóm tắt chương, Câu hỏi ôn tập, đề tài nghiên cứu, Tài liệu tham khảo chính. Trong lời  giới thiệu, các tác giả cũng chỉ rõ sự phân công ai viết chương nào để học viên tiện theo dõi, trao đổi.

Người đọc quan tâm đến định nghĩa thể loại và lịch sử phát triển có thể tìm thấy ở chương một. Nhiều tác giả nổi tiếng thế giới và Việt Nam đã bàn về truyện ngắn. Người viết đã rút ra những điểm chung nhất về quan niệm truyện ngắn: "Đó là hình thức tự sự cỡ nhỏ, thường khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất của cuộc sống hay đời sống tâm hồn.

Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, thường gắn với những "lát cắt" điển hình. Kết cấu, cốt truyện truyện ngắn không quá phức tạp, chi tiết cô đúc, bút pháp nghiêng về chấm phá". Đồng thời, với một sự công phu bao quát tư liệu, người viết đã cung cấp cho bạn đọc lịch sử hình thành truyện ngắn ở các nước Âu - Mỹ, và sự hình thành các truyện ngắn truyền kì ở các nước gần gũi là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.

Ở đây, bạn đọc sẽ thấy tác giả Bùi Việt Thắng đã dụng công "nhuận sắc" chương 1 và 2 trong chuyên luận trước đây của mình. Không những thế, người viết còn bổ sung thông tin mới, lược bỏ một số tóm tắt truyện, đưa nội dung "chí dị", bước phát triển của truyền kì về mục Truyền kì trong văn học Trung Quốc.

Tìm hiểu truyện ngắn, nhất thiết không thể bỏ qua những đặc trưng thể loại của nó. Chương này do tác giả Đinh Trí Dũng viết. Có thể nói, người viết đã cố gắng tiếp cận đặc trưng thể loại theo quan điểm riêng. Chúng ta biết trong chuyên luận của Bùi Việt Thắng "Truyện ngắn - những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại" xuất bản năm 2000, tái bản 2011, tác giả đã đề cập đến những đặc trưng thể loại truyện ngắn gồm: 1. Dung lượng; 2. Cốt truyện; 3. Kết cấu; 4. Tình huống; 5. Nhân vật.

Nhà nghiên cứu Đinh Trí Dũng xem xét đặc trưng truyện ngắn cũng ở 5 bình diện. Nhưng có sự khác biệt. 1. Truyện ngắn có nhiều điểm gần gũi với tiểu thuyết; 2. Hình thức tự sự cỡ nhỏ; 3. Vai trò quan trọng của tình huống; 4. Nhân vật được thể hiện như một "lát cắt" điển hình; 5. Vai trò của chi tiết.

Dễ dàng nhận thấy có những điểm trùng hợp là Tình huống và Nhân vật.  Hình thức tự sự cỡ nhỏ gần gũi với Dung lượng. Trong khi nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng quan tâm đến Cốt truyện (trong đó có chi tiết), thì Đinh Trí Dũng nhấn mạnh vai trò của chi tiết; Bùi Việt Thắng quan tâm đến Kết cấu, thì Đinh Trí Dũng quan tâm đến tính chất gần gũi tiểu thuyết. Tính chất này sẽ chi phối kết cấu của truyện ngắn.

Cách trình bày của tác giả Đinh Trí Dũng giản dị, dễ hiểu. Ông dẫn lại tình huống truyện của Bùi Việt Thắng, đồng thời cũng bổ sung thêm quan niệm 4 tình huống của nhà nghiên cứu Văn Giá, có bình luận rằng thực tế thì tình huống nhận thức chỉ là dạng đặc biệt của tình huống tâm trạng, tâm lí. Tuy nhiên, nếu tác giả Đinh Trí Dũng ngoài phần sử dụng thuật ngữ Situation, nên thêm thuật ngữ Moment, ngoài "tình huống", nêu thêm "tình thế" (thuật ngữ các nhà văn hay dùng) thì sát thực tế sáng tác hơn.

Bạn đọc có thể hình dung các dạng truyện ngắn hiện đại qua chương "Các dạng thức truyện ngắn hiện đại". Tác giả Bùi Việt Thắng đã làm rõ tiêu chí để nhận diện các dạng. Phân chia theo tiêu chí dung lượng (rất ngắn, khung, tiểu thuyết hóa); theo bút pháp (lãng mạn, hiện thực, kì ảo); theo mức độ cách tân (cổ điển, hiện đại, hậu hiện đại).

Ông cũng đưa vào cách phân chia của Lê Huy Bắc, của Phan Cự Đệ để thấy thêm sự đa dạng của truyện ngắn. Điều này là cần thiết bởi nếu theo cách phân chia của soạn giả, sau đó chọn ra 6 dạng (3 theo dung lượng, 2 theo bút pháp và 1 theo mức độ cách tân gồm truyện rất ngắn, truyện tiểu thuyết hóa, trữ tình, kì ảo, khung, hậu hiện đại) thì mặc nhiên không bao quát được dạng  truyện ngắn dòng ý thức, truyện ngắn - thư hay truyện ngắn giả cổ tích.

Tôi nghĩ giá như tác giả không trình bày truyện ngắn khung ở mục 1.5 thì hợp lí hơn. Ba dạng truyện rất ngắn, truyện ngắn khung (truyện ngắn trong truyện ngắn), truyện ngắn tiểu thuyết hóa là kết quả của việc phân chia theo dung lượng cần được trình bày nối tiếp nhau liền mạch thì bạn đọc dễ theo dõi hơn, mặc dù các đặc điểm của chúng độc lập với nhau.

Nếu so với chuyên luận trước đây, tác giả Bùi Việt Thắng cũng thay đổi cách tiếp cận và trình bày. Tác giả không trình bày loại truyện ngắn cổ điển, mà thay vào đó là truyện ngắn tiểu thuyết hóa, đồng thời thêm vào loại truyện ngắn hậu hiện đại. Điều đó thể hiện sự tiếp cận với thực tiễn sáng tác của các nhà văn Việt Nam.

Về lịch sử phát triển của thể loại, tác giả Đinh Trí Dũng viết chương 4, tác giả Bùi Việt Thắng viết chương 5, trình bày hai chặng lớn của truyện ngắn Việt Nam. Hai chặng đó nối tiếp nhau. Hai chương được trình bày theo bố cục nhất quán là bối cảnh lịch sử xã hội, các đặc điểm truyện ngắn của giai đoạn, các tác giả tiêu biểu.

Người đọc có thể hình dung những nét chính của bức tranh truyện ngắn hiện đại Việt Nam, những chặng đường phát triển, đặc điểm chính của truyện ngắn cùng những tác giả tiêu biểu. Trong sự phát triển của truyện ngắn, có những dấu mốc quan trọng, kể cả những dấu mốc không quan trọng với thể loại, nhưng lại liên quan đến người viết, người đọc cũng được ghi lại. Chẳng hạn, một số truyện ngắn khiến tạp chí bị đình bản, hoặc bị độc giả nữ "đấu tố", rồi "gây chia rẽ" độc giả, khiến người đọc "lạnh gáy", suýt bị kiện tụng, bị đòi kết tội… (trang 217).

Phần công phu và thú vị là những nghiên cứu về một số tác giả truyện ngắn tiêu biểu. Đây là phần đòi hỏi nhiều tâm sức, bút lực của hai tác giả. Các cây bút tiêu biểu của truyện ngắn Việt Nam hiện đại được nghiên cứu, đánh giá gồm có:  Nguyễn Ái Quốc, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao (trước năm 1945) và Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thành Long, Sơn Nam, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê.

Tất nhiên, người đọc có quyền băn khoăn rằng Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học được nghiên cứu như một tác giả, như thế liệu có ưu ái quá chăng, vì thành tựu của các vị là khá mỏng. Lại nữa, một số tác giả khác như Thế Lữ, Tô Hoài,  Nguyễn Kiên, Lê Văn Thảo, Hòa Vang… sao không được chọn? Dù sao, đây cũng là giáo trình dùng cho học viên thạc sĩ, gắn với nhà trường, hẳn là các soạn giả đã có những tiêu chí riêng, mặt khác sự để ngỏ này cho thấy khi chưa đủ tư liệu, chưa đủ cảm hứng, và nhiều lí do khác, các soạn giả chỉ dừng ở đó.

Nói về truyện ngắn chặng đầu tiên, soạn giả có nói đến việc phân biệt truyện ngắn và tiểu thuyết chưa thật rạch ròi. Thế nhưng, rõ ràng không thể coi tiểu thuyết là truyện ngắn, và trình bày gộp chung trong dạng thức văn xuôi. Mặt khác dẫn chứng toàn các cây bút tiểu thuyết mà tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh (trang 97) có vẻ như không ăn nhập gì với tiêu đề Truyện ngắn Việt Nam hiện đại chặng đầu tiên (1900-1930) (trang 96).

Cuốn sách in đẹp, bìa cứng, nội dung phong phú, trình bày công phu. Đây là cuốn giáo trình dành cho học viên cao học thạc sĩ của Đại học Vinh, song chúng tôi nghĩ rằng việc hai tác giả giới thiệu kiến thức truyện ngắn "một cách hệ thống, tinh giản, chú ý những vấn đề trọng tâm, cố gắng tiếp thu và cập nhật những thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam hiện đại" (Lời giới thiệu) là điều làm cho giá trị tập sách vượt ra khỏi khuôn khổ nhà trường, phục vụ cho đông đảo bạn đọc, bạn viết và tất cả những ai quan tâm đến truyện ngắn. Vì vậy mà cuốn sách cần thiết và bổ ích.

Hà Nội, tháng 8/2018

Vũ Nho

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).