Kỷ niệm 40 năm Ngày kí kết Hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013):

Cố vấn Lê Đức Thọ và cuộc đàm phán lịch sử

Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, khi nhớ về đồng chí Lê Đức Thọ, đã khẳng định: Lê Đức Thọ trong suốt gần 5 năm đàm phán ở Paris, ông được ví như vị tướng ngoài biên ải.

Nửa đầu năm 1968, khi đang có mặt ở chiến trường miền Nam với trọng trách Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí Lê Đức Thọ được Bác Hồ và Trung ương gọi gấp về Hà Nội, để chuẩn bị sang Paris đảm đương sứ mệnh Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp đàm phán với đại diện Hoa Kỳ, về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Giữ vai trò cố vấn, nhưng trên thực tế, đồng chí Lê Đức Thọ là "linh hồn" của phái đoàn ta, do cương vị và nhiệm vụ được trực tiếp Bộ Chính trị và Bác Hồ giao phó.

Trong lá thư viết tay gửi Bộ Chính trị, Bác Hồ ghi rõ: "… Anh Sáu (đồng chí Lê Đức Thọ - PV) nên về ngay (trước tháng 5) để tham gia phái đoàn ta đi gặp đại biểu Mỹ". Đây là sự lựa chọn đầy sáng suốt, bởi đồng chí Lê Đức Thọ là một nhà cách mạng kiên định, có bản lĩnh vững vàng và tầm nhìn chiến lược. Cùng với việc cử đồng chí Lê Đức Thọ làm cố vấn đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ký sắc lệnh phân công đồng chí Xuân Thuỷ làm Bộ trưởng, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ ta tại Hội nghị Paris.

Trước ngày đoàn ta lên đường sang Paris gặp đoàn Mỹ, đồng chí Lê Đức Thọ đã họp với đoàn và nhấn mạnh yêu cầu tranh thủ sự ủng hộ quốc tế: Muốn tranh thủ dư luận tốt, lí lẽ của ta phải thật sắc bén, có sức thuyết phục, nhằm vào các vấn đề lớn, xoáy vào yêu cầu chủ yếu là đòi chấm dứt vô điều kiện ném bom miền Bắc. Nhiệm vụ chính là phục vụ chiến trường, thăm dò ý đồ của Mỹ chưa phải đi vào giải pháp.

Nhớ về đồng chí Lê Đức Thọ, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (tại Hội nghị Paris là Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) khẳng định: Anh Lê Đức Thọ cho rằng trên bàn đàm phán, ta không thể giành được cái mà trên chiến trường ta không giành được. Kết quả đàm phán tuỳ thuộc trước hết vào tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường. Tài trí ngoại giao không thể thay thế cho thực lực, nó chỉ góp một phần, thậm chí một phần quan trọng làm tăng thêm thực lực.

Cùng với anh Xuân Thủy, anh Lê Đức Thọ thường xuyên trang bị những kiến thức cần thiết cho đội ngũ những nhà đàm phán của ta ở Paris. Hai anh giữ mối liên hệ chặt chẽ với Hà Nội,  trực tiếp báo cáo tình hình cuộc đàm phán, nêu lên các sáng kiến và tiếp nhận những chỉ thị của Bộ Chính trị để tiến hành đàm phán…

Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, khi nhớ về đồng chí Lê Đức Thọ, đã khẳng định: Lê Đức Thọ trong suốt gần 5 năm đàm phán ở Paris, ông được ví như vị tướng ngoài biên ải. Ông thực hiện rất nghiêm túc đường lối chiến lược trong đàm phán mà Bác Hồ đã trực tiếp căn dặn và những chủ trương của Bộ Chính trị đã đề ra. Nhưng phần đóng góp của cá nhân ông thật là to lớn. Ông đã có sự vận dụng sáng tạo, luôn luôn giành thế chủ động tấn công, buộc đối phương phải đi vào đàm phán theo cách của mình. Đã có lúc, H.Kissinger phải thốt lên: "Tôi có thể làm tốt hơn nếu như đối diện trên bàn đàm phán không phải là ông Lê Đức Thọ!".

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Tiến sĩ Kissinger trao tặng bút cho nhau sau khi ký tắt Hiệp định Paris về Việt Nam. Paris tháng 1/1973.
Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Tiến sĩ Kissinger trao tặng bút cho nhau sau khi ký tắt Hiệp định Paris về Việt Nam. Paris tháng 1/1973.

Trong tháng 10/1972, nội dung cơ bản Dự thảo Hiệp định Paris đã được các bên liên quan thống nhất. Đoàn ta và đoàn Hoa Kỳ cũng dự kiến ngày kí chính thức là 25 hoặc 26/10/1972... Nội dung cơ bản của hiệp định có những vấn đề cơ bản là: Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Hoa Kỳ rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu; triệt thoái hết các căn cứ quân sự Hoa Kỳ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của nhân dân Việt Nam; Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do; Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị…

Tuy nhiên, là một đế quốc hùng mạnh, Mỹ không dễ dàng chấp nhận thua thiệt trong đàm phán và cũng không muốn "bỏ rơi" chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Họ tìm cớ trì hoãn việc kí kết bằng cách đưa ra những đòi hỏi khó chấp nhận đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Đến ngày 20/11/1972, cố vấn H.Kissinger đề nghị sửa đổi 69 điểm trong bản dự thảo Hiệp định, theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn, trong đó có đòi hỏi quân đội miền Bắc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Những ngày sau H.Kissinger liên tiếp đưa ra những đòi hỏi vô lí và ngày 23/11/1972, khi gặp Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, ông ta đã đọc bức điện của Nixon ngầm đe dọa ngừng đàm phán, ném bom trở lại… Tuy nhiên cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã khảng khái đáp lại: "Chúng tôi đã đánh nhau với các ông mười mấy năm và cũng đã đàm phán 5 năm rồi. Nay các ông có sẵn sàng mới đi đến giải quyết; không thể dùng đe dọa với chúng tôi được đâu".

Trước thái độ của phía Mỹ, đồng chí Lê Đức Thọ đã nhận định bằng hai câu thơ: "Dằn lòng chờ đợi ít lâu/ Chầy ra thì cũng năm sau vội gì". Thực tế diễn ra đúng như vậy. Sau khi cuộc đàm phán tạm thời bế tắc, đồng chí Lê Đức Thọ rời Paris vừa về đến Hà Nội thì Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh khai màn Chiến dịch Linebaker II hòng san phẳng thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, buộc ta phải kí kết Hiệp định Paris theo những điều kiện của họ. Tuy nhiên, với thắng lợi của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ trên không, Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom và đề nghị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nối lại đàm phán.

Trở lại Paris, trong cuộc họp với phía Mỹ ngày 8/1/1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã nghiêm khắc lên án phía Mỹ gây ra đợt ném bom huỷ diệt trong mùa Noel năm 1972… Sau gần một tháng nối lại đàm phán, ngày 23/1/1973, hai bên đạt được thoả thuận cuối cùng và kí tắt Hiệp định và 4 Nghị định thư. Đến ngày 27/1/1973, bốn ngoại trưởng của bốn bên, gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã kí chính thức Hiệp định Paris vào ngày 27/1/1973, kết thúc cuộc đàm phán lịch sử kéo dài 5 năm và đầy kịch tính.

Khai mạc Triển lãm ảnh “Kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam”

Sáng 23/1, triển lãm ảnh “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam” với gần 150 bức ảnh, hơn 20 lời trích cùng hiện vật, tài liệu, sách... đã khai mạc tại Hà Nội. Diễn ra trong gần một tuần, triển lãm là nơi đầu tiên công bố những hiện vật quý liên quan đến Hiệp định Paris về Việt Nam như: văn bản gốc Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam; con dấu và biển tên của đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; hai cây bút đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định; chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi niêm phong bản Hiệp định; cuốn sổ tập hợp hơn 1.000 chữ ký của nhân dân Cuba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam...

Ngoài ra, Triển lãm còn trưng bày nhiều tư liệu, hiện vật quý tái hiện sinh động quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga cho biết, triển lãm sẽ giúp công chúng cảm nhận được toàn cảnh cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường, mưu trí, khôn khéo và đầy bản lĩnh của những nhà ngoại giao cách mạng Việt Nam trên bàn đàm phán.

Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao; về sự ủng hộ, cổ vũ của đông đảo các tầng lớp nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình và công lý đối với nhân dân Việt Nam.

Hiệp định Paris cũng là văn bản pháp lý quốc tế toàn diện và đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta mà theo đó, Mỹ buộc phải cam kết "tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam".

Sông Thương

Duy Hiển

Các tin khác

Người dân Hà Tĩnh đồng thuận giao nộp hàng trăm khẩu súng

Người dân Hà Tĩnh đồng thuận giao nộp hàng trăm khẩu súng

Thông qua công tác tuyên truyền, vận động kết hợp tổ chức nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo, lực lượng Công an xã, phường tại Hà Tĩnh đã vận động người dân trên địa bàn giao nộp hàng trăm khẩu súng cùng nhiều công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ các loại.

Một sinh kế, một cơ hội làm lại cuộc đời

Một sinh kế, một cơ hội làm lại cuộc đời

Sau cai nghiện, điều khó nhất với nhiều người không chỉ là tránh xa ma túy mà còn là bắt đầu lại cuộc sống. Từ rà soát, quản lý, giáo dục đến kết nối vay vốn, học nghề, tìm việc làm, Công an các đơn vị, địa phương ở Hải Phòng đang cùng chính quyền, ngân hàng và các đoàn thể tạo thêm những “điểm tựa” để người sau cai có thể tự đứng lên bằng chính sức lao động của mình.

45 ngày đêm quyết liệt làm sạch ma túy tại Đà Nẵng

45 ngày đêm quyết liệt làm sạch ma túy tại Đà Nẵng

Không để ma túy có khoảng trống len vào địa bàn, suốt 45 ngày đêm, Công an TP Đà Nẵng đồng loạt tổng rà soát từ khu dân cư, chung cư, nhà trọ, cơ sở lưu trú đến chợ đầu mối, bến xe và những địa bàn tiềm ẩn nguy cơ. Với phương châm “đi từng nhà, rà từng người”, mỗi cuộc kiểm tra không chỉ để phát hiện, xử lý mà còn mở ra những đầu mối truy xét, đấu tranh, làm sạch địa bàn. 45 ngày đêm khép lại, yêu cầu “làm sạch để giữ sạch” tiếp tục được đặt ra thường xuyên, hướng tới mục tiêu xây dựng TP Đà Nẵng không ma túy.

Điểm tựa của những đứa trẻ bị bỏ rơi

Điểm tựa của những đứa trẻ bị bỏ rơi

10 năm qua, những đứa trẻ đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Từ thiện xã hội chùa Hồi Long, xã Hoằng Thanh, tỉnh Thanh Hóa vẫn gọi sư cô Thích Đàm Ngoan là mẹ. Từ những đứa trẻ đỏ hỏn bị bỏ lại bên cổng chùa đến những em nhỏ lớn lên dưới mái nhà Hồi Long, sư cô đã dành phần lớn thời gian, công sức và tình yêu thương để các em có một tuổi thơ bình thường như bao đứa trẻ khác.

Tuyến đường giữa đại ngàn Trường Sơn đánh thức miền Tây Quảng Trị

Tuyến đường giữa đại ngàn Trường Sơn đánh thức miền Tây Quảng Trị

Hơn hai thập kỷ sau khi được mở tuyến, đường Hồ Chí Minh nhánh Tây từ Phong Nha đến Khe Sanh đã trở thành một trục giao thông quan trọng xuyên qua miền Tây Quảng Trị. Tuyến đường đi qua những vùng núi rừng hiểm trở, kết nối các bản làng với miền xuôi, tạo thuận lợi cho người dân đi lại, giao thương và từng bước thay đổi sinh kế.

Nẻo thiện tìm về

Nẻo thiện tìm về

Giúp đỡ người dân đi qua đường khi gặp mưa lũ, không nhận tiền “bồi dưỡng” của đối tượng khai thác gỗ trái phép, không quản thời gian, không nề hà công việc, có lệnh triệu tập là lên đường, đó là bản tính của Nguyễn Quốc Duy - Tổ trưởng Tổ an ninh trật tự (ANTT) thôn Mỹ Thạnh, xã Hàm Thạnh, tỉnh Lâm Đồng.

Ngăn chặn vấn nạn săn bắt chim di cư

Ngăn chặn vấn nạn săn bắt chim di cư

Để ngăn ngừa hành vi đặt bẫy, giăng lưới săn bắt động vật hoang dã (chim trời) mùa di cư, lực lượng Công an cơ sở ở các xã ven biển tỉnh Hà Tĩnh đã đồng loạt triển khai nhiều biện pháp thu gom, phá huỷ các bẫy chim trái phép đến bắt giữ, xử lý những trường hợp săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép.

Nuôi cá lòng hồ thuỷ điện, hướng sinh kế mới ở miền núi xứ Thanh

Nuôi cá lòng hồ thuỷ điện, hướng sinh kế mới ở miền núi xứ Thanh

Giữa mênh mông lòng hồ thủy điện Trung Sơn, những lồng cá nổi theo từng cụm đang mở ra một hướng sinh kế mới cho người dân vùng núi cao Thanh Hóa. Từ những hộ tiên phong ban đầu, đến nay nghề nuôi cá lồng ở Trung Sơn đã và đang ngày càng phát triển với gần 60 hộ dân tham gia, nhờ nuôi cá lồng (cá chép, cá lăng đen, cá rô phi…), nhiều gia đình có nguồn thu nhập ổn định…

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Đối với đồng bào Bru-Vân Kiều, văn hóa không chỉ hiện hữu trong những lễ hội được tổ chức theo mùa, những bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ hay âm thanh của cồng chiêng giữa đại ngàn. Văn hóa còn nằm trong từng làn điệu dân ca, tiếng sáo, tiếng đàn, trong cách làm một nhạc cụ và những nghi thức được người già truyền lại cho người trẻ. Đó là mạch nguồn âm thầm nuôi dưỡng bản sắc cộng đồng qua bao thế hệ.

Lời tuyên thệ ở Bentiu

Lời tuyên thệ ở Bentiu

Ngày 19/8, đúng dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, tại Bentiu, Nam Sudan, hai nữ quân nhân cùng công tác tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 7 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tiếng máy thuyền giữa đại ngàn

Tiếng máy thuyền giữa đại ngàn

Ở Hôi Rấy và Nước Đắng, hai bản người Bru-Vân Kiều nằm sâu dọc sông Long Đại, xã miền núi Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị, tiếng máy thuyền vọng lại từ phía hạ nguồn đã trở thành âm thanh quen thuộc với bà con. Giữa nơi còn biệt lập với bên ngoài, âm thanh ấy báo hiệu một chuyến thuyền đang ngược dòng lên bản.

Dòng sông "vàng" và những phận đời lam lũ

Dòng sông "vàng" và những phận đời lam lũ

Mỗi mùa khô, khi dòng Đakrông (Quảng Trị) rút nước, những doi cát và bãi đá lộ ra cũng là lúc hàng chục người dân Pa Cô, Vân Kiều lặng lẽ mang theo chiếc mâm sắt xuống sông đào đãi vàng sa khoáng. Sau những hạt vàng nhỏ bé là cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn, những khoảng lòng sông bị đào xới và nỗi trăn trở về sinh kế của đồng bào vùng cao.

Kỳ cuối: Cạm bẫy “công nghệ hóa” ma túy và sự chuyển hóa nhận thức

Kỳ cuối: Cạm bẫy “công nghệ hóa” ma túy và sự chuyển hóa nhận thức

Ẩn mình dưới hình hài những thiết bị điện tử nhỏ gọn, thơm tho mùi kẹo ngọt hay trái cây nhiệt đới, pod chill chứa Etomidate đang có nguy cơ càn quét vào các không gian giải trí của giới trẻ. Từ chỗ chỉ thử “cho biết” theo lời rủ rê, nhiều thanh thiếu niên đã nhanh chóng trượt dài thành kẻ nghiện ngập, thậm chí trở thành mắt xích tiếp tay cho tội phạm ma túy.

Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm. Đáng lo ngại hơn, hàng loạt lời quảng cáo dối trá “hút không lên test”, “que thử âm tính” đang khiến không ít người sập bẫy pháp lý và đối mặt với hiểm họa khôn lường về sức khỏe.

Mối tình của anh thương binh và một cô gái mồ côi

Mối tình của anh thương binh và một cô gái mồ côi

Câu chuyện cuộc đời và tình yêu của người thương binh nặng Nguyễn Văn Dũng (ngụ phường Phước Hội, tỉnh Lâm Đồng) với cô gái mồ côi vượt qua những năm tháng khó khăn đã trở thành một biểu tượng đẹp và nghị lực phi thường, như chuyện cổ tích về lòng nhân ái, đức hy sinh của những người phụ nữ với các thương, bệnh binh làm xúc động lòng người.

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Những lá thư gói trọn tình yêu, nỗi nhớ và khát khao mong chờ ngày đoàn tụ gia đình, gặp lại con thơ và người chồng yêu thương của Anh hùng LLVTND Lê Thị Riêng vẫn được người con trai của bà lưu giữ, bảo quản trang trọng trong trái tim và ký ức…

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Ở nhiều vùng quê của Quảng Trị, những người đến lấy mẫu sinh phẩm ADN cho thân nhân liệt sĩ không chỉ mang theo các thiết bị chuyên dụng, hồ sơ nghiệp vụ hay biểu mẫu thu nhận thông tin. Họ còn mang theo một lời hứa. Đó là sẽ cố gắng làm tất cả những gì có thể để thêm một người lính nữa được gọi đúng tên.

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Tháng Bảy trên miền đất thiêng Quảng Trị, nhiều cuộc tìm kiếm vẫn đang tiếp diễn. Có gia đình vừa đón được người thân trở về nhờ giám định ADN. Có những người vẫn băng rừng lần theo từng dấu tích chiến trường. Và cũng có những cuộc tìm kiếm đã khép lại từ một di vật tưởng chừng vô tri nằm dưới lòng đất hơn nửa thế kỷ.