Có chàng Xuân Diệu, thuở xưa kia...(*)

Thời kỳ đất nước ta đang kháng chiến chống Mỹ (và cả mấy năm sau đó nữa) thơ tình rất ít được in - nhất là những bài thơ tình chỉ nói chuyện riêng về trai gái mà không nói đến chuyện chung của nhân dân, của đất nước. Chỉ có riêng Xuân Diệu là thơ tình vẫn được in thường xuyên, và in nhiều hơn bất cứ một nhà thơ nào khác...

1. Nhà thơ Xuân Diệu rất không muốn ai - kể cả những bạn đọc trẻ tuổi gọi mình là bác. Có lúc, nhà thơ đã bực bội mà nói (và viết nữa):

- Bác gì! Bác phó cối à?

Kể tuổi thì tuổi nhà thơ đúng bằng tuổi ông thân sinh tôi, nên lần xưng hô đầu tiên (trong thư) tôi gọi nhà thơ bằng bác. Xuân Diệu không nói gì, lẳng lặng chữa lại là anh. Từ đó, tôi biết ý, tự nhiên mà nhận phần em; trong thư từ, trong trò chuyện hàng ngày và cả trong khi viết về Xuân Diệu trên sách báo nữa. Người đọc, nếu ai không biết nguyên do, nghĩ về tuổi tác rất dễ cho xưng hô như vậy là khiếm nhã, thậm chí vô lễ. Nhưng nếu biết thì lại dễ dàng đồng tình chiều theo ý nhà thơ, mà cho là lễ độ vậy!

2. Xuân Diệu có một quyển sổ bằng bàn tay ghi những thứ phải chi tiêu hàng ngày từ bé đến lớn: mấy mớ rau muống, vài lạng thịt chó, dăm ba quả trứng gà... hoặc do người giúp việc mua hoặc do chính anh mua. Thấy tôi cứ lật đi lật lại từng trang, nhìn có vẻ... xoi mói, nhà thơ bảo:

- Chắc là vì từ bé anh đã chịu khó, chịu khổ quá nhiều, nên bây giờ mới tỉ mẩn như một bà già lắm điều thế!

Lúc nghe nhà thơ nói vậy, tôi chưa có ấn tượng gì. Nhưng về sau, khi đọc quyển tự truyện “Đi hoang” của Tịnh Hà (em ruột nhà thơ) kể về những ngày thơ ấu của hai anh em, tôi mới thực sự hiểu được vì sao Xuân Diệu lại có tính so đo, chi ly đến mức ấy!

Nhà thơ Xuân Diệu trong phim “Thế giới nhỏ của Khoa”.
Nhà thơ Xuân Diệu trong phim “Thế giới nhỏ của Khoa”.

3. Nhà thơ Xuân Diệu rất "dị ứng" với mấy vị quan chức, từ cấp thấp đến cấp cao đi đến đâu thì oai phong, bệ vệ, quát tháo đến đấy. Trong khi ở ngay nhà mình, vợ thì lăng loàn, con thì lêu lổng ham chơi hơn ham học. Tôi đã chứng kiến mấy lần gặp trường hợp như thế, anh lắc đầu ngao ngán. Có hôm, anh đọc cho tôi nghe hai câu thơ nói về loại người này (không thấy Xuân Diệu cho in ở đâu):

Ra ngoài thì trị bốn phương
Về nhà trị bốn chân giường không xong!

4. Quý trọng tình nghĩa là một đặc tính của nhà thơ Xuân Diệu. Hôm tôi đưa nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đến thăm anh lần đầu, Xuân Diệu chỉ vào tôi mà "giới thiệu" với Lâm Thị Mỹ Dạ:

- Chú này chơi với tôi hơn mười năm rồi đấy!

Bấy giờ tôi nghĩ: mười năm, trong quan hệ giữa người với người, đâu có gì là nhiều, mà nhà thơ coi nó như một chuyện bất thường? Quả nhiên, sự từng trải của nhà thơ đã được chứng minh: chỉ sau đó không lâu, anh giận tôi đến... một năm, vì tôi viết bài phê bình một tập thơ của Xuân Diệu, đăng trên báo Văn nghệ (dù trước khi gửi đăng báo, tôi đã đưa anh đọc trước).

5. Tôi có cảm giác Xuân Diệu coi trọng tác dụng của thơ với đời sống đến mức rất lạ, mà rất ít người, kể cả các nhà thơ nổi tiếng khác, coi trọng đến mức ấy.

Một lần, tôi nói với nhà thơ: Ở đơn vị tôi, có một sĩ quan rất thích bài thơ “Thác” của Xuân Diệu viết về tình yêu và rất hay ngâm mấy câu mở đầu bài thơ này:

Như nước dòng lao gặp đá ngăn
Cuộn từ đáy vực tỏa băn khoăn
Chưa vần được đá nên tung sóng
Ức mãi ngàn năm vẫn thét gầm

“Nhà thơ của tình yêu” ấy hỏi ngay:

- Thế còn những bài thơ viết về đấu tranh thống nhất, về xây dựng chủ nghĩa xã hội thì sao?

Một lần khác, tôi đến chơi, gặp lúc cháu Vũ - con trai nhà thơ Huy Cận - mới sáu, bảy tuổi đang chạy nhảy, nghịch ngợm, bày biện đủ các thứ trên giường dưới đất. Xuân Diệu nói với Vũ một cách rất... nghiêm túc, hơi cao giọng nhưng hoàn toàn không có chút gì là đùa:

- Cháu nghịch vừa vừa thôi, để bác còn làm thơ phục vụ nhân dân chứ!

6. Thời kỳ đất nước ta đang kháng chiến chống Mỹ (và cả mấy năm sau đó nữa) thơ tình rất ít được in - nhất là những bài thơ tình chỉ nói chuyện riêng về trai gái mà không nói đến chuyện chung của nhân dân, của đất nước. Chỉ có riêng Xuân Diệu là thơ tình vẫn được in thường xuyên, và in nhiều hơn bất cứ một nhà thơ nào khác. Cũng có phần do anh là "nhà thơ của tình yêu" nên mặc nhiên được... ưu tiên đôi chút. Nhưng một phần cũng không kém quan trọng, mà như có lần anh nói với tôi: Để in được nhiều thơ tình như thế, anh đã phải có "thủ thuật" đấy em ạ!

Tôi không tiện hỏi ngay thủ thuật ấy là gì, nhưng rồi cũng tìm cách "phát hiện" được: Xuân Diệu có cả một tập thơ mà anh muốn nhấn mạnh ý đồ từ ngoài bìa: “Riêng chung” (1960).  Lại có một tập thơ mà cái tên là “Mũi Cà Mau và Cầm tay” (1962) trong đó phần đầu viết về đấu tranh thống nhất, phần sau viết về tình yêu. Mà ngay đầu phần “Cầm tay”, Xuân Diệu còn cẩn thận đề từ:

Một tuần công việc tạm xong
Cầm tay chủ nhật hòa trong phố người.

Ở những tập thơ khác, Xuân Diệu không cho in liền một loạt những bài thơ tình, mà xé lẻ chúng ra, đặt xen kẽ với những thứ khác (để giảm bớt cảm giác nhiều thơ tình yêu). Như tập “Hai đợt sóng” (1967) sau 28 bài về các đề tài khác, có 9 bài thơ tình yêu, tiếp đó là 3 bài về đấu tranh thống nhất. Lại như tập “Tôi giàu đôi mắt” (1970) sau khi in 19 bài thơ về đề tài chung, Xuân Diệu cho in 7 bài thơ tình yêu, rồi lại in 12 bài thơ có đề tài khác. Với tập thơ sau đó, và là tập thơ cuối cùng của Xuân Diệu: “Thanh ca” (1982) cũng thấy hiện tượng này.

7. Nhà thơ Xuân Diệu kể cho tôi nghe một chuyện: Năm 1960, có dịp anh về thành phố Nam Định. Tối chủ nhật hôm ấy, ăn cơm tối xong, đi dạo phố về, anh nảy ra ý định viết bài thơ “Trước cổng nhà máy xay”. Bài thơ viết khá nhanh, có bốn câu cuối thế này:

Cổng đóng, tôi tựa cổng - đứng chơi,
Nhìn vào nhà máy với nhìn trời.
Thấy mình chắc dạ, nghe no đủ
Như cả Nhà Xay: gạo của tôi.

Xuân Diệu bảo: Có một nhà thơ đọc bốn câu ấy (sau khi bài thơ in báo) đã thốt lên lời trách cứ Xuân Diệu: Mọi người lao động đang vất vả, tất bật để xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần đấu tranh thống nhất đất nước, mà Xuân Diệu lại đứng chơi!

Trước đó là chuyện bài thơ “Gió”, Xuân Diệu viết năm 1957, có bốn câu cuối nói niềm vui của nhà thơ trước cuộc sống mới:

Hồn ta cánh rộng mở
Đôi bên gió thổi vào,
Nghĩ những điều hớn hở
Như trời cao, cao, cao.

Lần này thì không còn là lời phàn nàn nữa, mà một nhà phê bình rất quen biết, viết trên báo hẳn hỏi:

"Gió hai bên là thứ gió gì? Buồm chạy theo gió hai bên là thứ buồm gì?... Buồm chạy theo gió hai bên không phải là thứ buồm của tư tưởng vô sản. Chỉ có thứ buồm của tư tưởng cơ hội chủ nghĩa mới chạy theo thứ gió hai bên mà thôi" (!)

Thật là những kiểu phê bình mang một thứ “ní nuận” mà người ta thường gọi là "lên gân", "chụp mũ" rất ấu trĩ đã từng làm không ít người viết văn, làm thơ một thời khốn khổ!

Tuy vậy, nói đi cũng phải nói lại cho công bằng, sòng phẳng. Nếu ở mấy trường hợp trên, Xuân Diệu là nạn nhân do những người khác, thì cũng thấy có trường hợp mấy người khác lại là nạn nhân do chính Xuân Diệu (tôi nhớ đến những bài Xuân Diệu viết về đấu tranh tư tưởng trong thơ nói riêng và văn nghệ nói chung, những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ trước, không xa thời gian xảy ra hai chuyện đã kể ở trên).

8. Mấy năm trước đây, tình cờ tôi có nghe một nữ tiến sĩ dạy học môn Văn trên đài truyền hình trung ương. Khi dẫn hai câu thơ của Xuân Diệu trong bài “Chiều”, cô đọc:

Hôm nay trời nhẹ mây cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

Sau đó khá lâu, tôi lại tình cờ nghe một thầy giáo dẫn hai câu thơ trên, đúng như nữ tiến sĩ kia đã dẫn, trong một bài phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam.

Nếu cần "thẩm tra" lại hai câu này, hãy xem những quyển sách in bài “Chiều” của Xuân Diệu, như tập “Thơ thơ” in năm 1938 hay gần đây hơn là “Toàn tập Xuân Diệu”, tập I, Nhà xuất bản Văn học, 2001. Tôi cho “trời nhẹ mây cao” là cách nói của người thường, “trời nhẹ lên cao” mới là cách nói của một thi sĩ.

Còn với hai vị nói trên, xin cho tôi (và người đọc) biết: các vị đã lấy câu thơ ấy từ đâu, hay là tự mình... sáng tác, tự mình... bịa ra, cho học sinh... dễ hiểu?

9. Một buổi tối, năm 1970, tôi đến thăm nhà thơ Xuân Diệu ở 24 Điện Biên Phủ - Hà Nội, như thường lệ. Trò chuyện xong, đến lúc về, theo thói quen như mọi lần khác, nhà thơ đưa tôi ra cổng, mở khóa. Nhưng đặc biệt là lần này, anh vẫn còn đứng nói chuyện với tôi dăm phút nữa, rồi mới bắt tay tôi và bảo (tôi nhớ từng tiếng):

- Mười lăm năm nữa, Xuân Diệu vẫn còn làm thơ tình!

Bấy giờ tôi không để ý. Khi nhà thơ qua đời một cách đột ngột, năm 1985, cho đến lúc là một trong những người ném nắm đất đầu tiên xuống quan tài anh ở nghĩa trang Văn Điển (về sau này mộ nhà thơ mới chuyển về nghĩa trang Mai Dịch) tôi mới giật mình tự hỏi: Lúc nhà thơ nói câu nói trên đến bây giờ là đúng 15 năm! Không biết đấy là câu nói tình cờ, ngẫu nhiên hay nó có liên quan gì đến chuyện tất nhiên, chuyện tâm linh? 

**************************** 

(*) “Có chàng Xuân Diệu, thuở xưa kia”... là câu thơ Xuân Diệu viết trong bài “Tặng bạn bây giờ” in ở tập “Gửi hương cho gió”.

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...