Chuyện miệt vườn trước ngày Quốc khánh

Nhà văn Sơn Nam qua đời ngày 13-8-2008 ở tuổi 82. Đã 9 năm không còn thấy bóng dáng lầm lũi của ông già gầy gò cuốc bộ khắp hang cùng ngõ hẻm miền Nam để quan sát, để suy ngẫm và để ghi chép những trang văn mang đầy hơi thở cuộc sống. Thế nhưng, những tác phẩm mà nhà văn Sơn Nam để lại, càng đọc càng phát hiện thêm nhiều thú vị. Ví dụ, đọc hồi ký của nhà văn Sơn Nam, có thể bắt gặp nhiều câu chuyện về vùng đồng bằng sông Cửu Long trước ngày Quốc khánh 2-9-1945!

Khi ở tuổi 75, nhà văn Sơn Nam bắt đầu khởi viết bộ hồi ký gồm bốn tập “Từ U Minh đến Cần Thơ”, “Ở chiến khu 9”, “20 năm giữa lòng đô thị” và “Bình an”. Với một trí nhớ tuyệt vời, nhà văn Sơn Nam đã phác thảo sinh động thời trai trẻ của ông, mà soi rọi vào đó, độc giả dễ dàng thấy được một không gian miệt vườn được phục dựng sắc nét.

Miệt vườn ở đây chính là vùng Kiên Giang ngày nay, nơi chàng trai có tên thật Phạm Minh Tày sinh ra và lớn lên: “Bấy giờ, dầu lửa, dầu xăng đều bị quản lý chặt chẽ, dầu xăng chỉ là rượu cồn chế biến lại, có màu tím dợt. Xe ôtô chở khách phải dùng “ga”, hiểu là than củi tràm, bỏ vào cái thùng tròn đặt bên hông xe, phía sau. Trước khi xe khởi động thì quạt lên cho than tràm cháy, hơi ga ấy bị đốt, gây sức ép cho máy xe chạy, gọi Autogene, theo mô hình của kỹ sư Trịnh Hưng Ngầu sáng tạo ở Sài Gòn”.

Phương tiện giao thông như vậy, còn thưởng thức văn hóa thì sao? Nhà văn Sơn Nam cho biết giá trị có mặt của cuốn “Thi Nhân Việt Nam” trong bối cảnh ấy: “Lúc bấy giờ quả thật là cần thiết, với mặt chìm, tiềm ẩn của nó. Nó chứng minh rằng người Việt Nam đã triển khai tài năng của người xưa để lại, qua ca dao, qua Truyện Kiều. Thi nhân của thế hệ mới chịu khó, chịu vấp váp để cạnh tranh nhau, theo kiểu cạnh tranh lành mạnh. Nghe man mác, sầu lắng, dễ hiểu, rất Việt Nam…

Tôi đã hiểu tại sao lúc gạo châu củi quế mà Thi nhân Việt Nam bán giá cao đã thu hút độc giả. Một cuộc tính sổ của giai đoạn thực dân. Tôi nhớ ở Trường Trung học Cần Thơ, học sinh chỉ mua chừng mươi cuối, chuyền tay nhau mà đọc. Đọc rồi chép…”.

Nhà văn Sơn Nam.
Nhà văn Sơn Nam.

Dù nhà văn Sơn Nam tự thú: “Tôi rất yêu thơ vì thơ có sức mạnh âm thầm nhưng bền bỉ, vương vấn nhiều năm. Lòng yêu nước của tôi dính dấp với thơ, mông lung, lắm khi tiêu cực”, nhưng ông không chìm đắm trong sách vở mà lăn lộn tìm hiểu dân tình: “Tôi thử đi xem một phiên xử án ở Tòa đại hình Cần Thơ, cấp cao của miền Tây Nam Bộ, còn gọi Tòa áo đỏ… Chuông reo, chánh án, chưởng lý, toàn người Pháp, luật sư là người Ấn mang quốc tịch Pháp.

Cáo trạng dài dòng, đọc lên toàn tiếng Pháp. Can phạm bị còng tay, đứng cúi đầu, buồn bã, ở hàng khán giả dường như không có thân nhân. Hơn một giờ sau, chánh án hỏi vài câu, qua thông dịch viên. Và can phạm trả lời, có thông dịch viên. Như vậy là công lý à? Can phạm chẳng hiểu gì ráo, để vào giờ chót có thể tự bào chữa”.

19 tuổi, nhà văn Sơn Nam làm thư ký cho Tòa Bố chính tỉnh Rạch Giá, và khái quát được diện mạo của xứ sở đang chịu ách đô hộ: “Lúc Pháp bình định xong về chính trị, đất phía Hậu Giang nói chung và Rạch Giá nói riêng phần lớn còn bỏ hoang, người Việt Nam rất ít. Người Hoa nắm lấy cơ hội, vui vẻ lo đút lót cho công chức Pháp, xin trưng khẩu dễ dàng, trong khi người Việt Nam còn tự ái, ngại mang tiếng hợp tác với giặc… Điền chủ lớn ở Rạch Giá phần lớn là người Hoa theo quốc tịch Việt Nam, lại cưới vợ Việt Nam nên cho con cái theo Tây học, trở thành Việt Nam.

Hơn nữa, vì là giới giàu sang, họ câu kết với nhau, tuy lắm khi mâu thuẫn. Phần lớn là tình thông gia, ông A là em rể ông B, ông B là cháu ông C. Và ông C lại là anh vợ ông D, ông D là chú ông A. Bởi vậy, về quyền lợi giai cấp, họ gắn bó với nhau.

Đáng chú ý là con cái điền chủ phía Tây Nam Bộ phần lớn được du học Pháp, trừ một số ít, phần lớn đều siêng năng, đỗ đạt, làm bác sĩ y khoa. Đó là những kẻ sĩ đầu tiên của Nam Bộ, nói chung, đầu óc khá phóng khoáng”. Khi được một ông chủ người Hoa mời uống trà, và khoe rằng trà bên Tàu đem qua nhưng không quý bằng cái lon kẽm đựng trà: “Hơn hai trăm năm rồi, ông nội tôi mua ở Triều Châu giữ tới bây giờ.

“Phàm ảnh bôi trung lạc”, chữ viết bên hông của cái lon, nghĩa là cái bóng của cánh buồm ngoài biển, trên chiếc ghe dọi xuống cái chén uống trà…”, nhà văn Sơn Nam có ngay sự đồng cảm: “Tôi chợt hiểu ông nội của ông chủ tiệm này sang Nam Kỳ bằng ghe buồm, thủy thủ ngồi trên mui ghe uống trà với gió biển, tự an ủi rằng kẻ đi xa xứ cũng là khách phong lưu”.

Cách mạng tháng 8-1945 đến với nhà văn Sơn Nam như một sự sắp đặt của số phận: “Mấy anh bạn quen cùng học một lớp, một trường từ phía Gò Quao, ven rừng U Minh, bờ sông Cái Lớn… Họ thủ thỉ rằng đang cần gấp, với khối lượng to, giấy hoặc vải màu đỏ, màu vàng. Vải đỏ khó kiếm, luôn cả vải trắng, vải đen. Hỏi kỹ thì các bạn thân mến bảo là để làm lá cờ nhỏ, càng nhiều càng tốt để phân phát cho nhiều vùng, phải giữ bí mật tuyệt đối.

Suy nghĩ hồi lâu, tôi nói khẽ rằng không có vải, chỉ còn cách làm cờ bằng giấy, việc gấp rút, tùy theo tấm lòng của mình. Nên mua giấy màu đỏ, loại giấy để viết liễn đối dịp Tết, có rải rác những đốm nhũ vàng. Còn màu vàng thì ta dùng loại giấy mà các pháp sư dùng để viết bùa chú, mua về, tay tùy hoàn cảnh mà cắt nhỏ hoặc lớn… Dịp này, anh em trao cho tôi một tập mỏng tư liệu nhan đề “Công tác cách mạng”, đại khái phải có năm bước: Điều tra, Tuyên truyền, Tổ chức, Huấn luyện, Tranh đấu…”.

Sự kiện Nhật đảo chính Pháp, rồi chính quyền về tay nhân dân, được Sơn Nam ghi lại bằng những chi tiết khó quên: “Một Ủy ban khởi nghĩa đã đi ôtô đến Tòa Bố tỉnh để gặp viên tỉnh trưởng do người Nhật chỉ định. Sau nhiều phút cãi vã không gay go cho lắm, hắn ta chịu rút lui trong khi dân chúng kéo tới hô khẩu hiệu, gây sức ép như vũ bão. Lính Nhật còn lai rai vài đứa, phần lớn dường như đã tự động gom về Sài Gòn để đầu hàng Đồng Minh. Riêng kho lúa gạo phía đầu Doi, chừng năm tên lính Nhật cứ ở đó, tử thủ, đồng bào gần đấy cho biết thỉnh thoảng chúng dùng dây xích khóa chân nhau, ngụ ý thề sinh tử để bảo vệ…”.

Bộ hồi ký của nhà văn Sơn Nam.
Bộ hồi ký của nhà văn Sơn Nam.

Thế nhưng, nhà văn Sơn Nam đã chứng kiến, sau những đêm dài tăm tối, người dân miệt vườn thức dậy với ý chí mạnh mẽ: “Đồng bào từ các vùng gần xa trong tỉnh lần lượt đến, tương đối có trật tự, phần lớn mặc quần áo đen, có trẻ em khoảng 15 tuổi, thêm nhiều bà, nhiều cô mặc áo dài tươm tất. Mặt bằng là sân đá bóng của tỉnh, luôn luôn bị gió biển thổi tạt vào đất liền.

Sân quá rộng, thiên hạ chen chúc tràn sân. Khán đài dựng lên, đơn sơ, với sự hiện diện của Ủy ban Việt Minh, gồm khoảng 7 người, tham dự như khách quý còn có một vài nhà sư, linh mục, sư sãi Khơ Me… Không có máy ghi âm, làm sao nói cho cả vạn người nghe? Đành dùng kỹ thuật thời xưa là nói trong ống loa bằng thiếc!”.

Cách mạng Tháng 8 thành công, miệt vườn thay đổi ra sao? Đó là cuộc sống mới với những con người mới, được thu vào tầm mắt nhà văn Sơn Nam: “Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới sau lái chiếc tàu tuần biển của Pháp mà ta đã sung công. Vài toán thanh niên xếp hàng hai, đang tập đi, với phong cách quân đội chính quy, vài cậu xách lựu đạn nội hóa hình bầu dục, đúc bằng đồng, phía sau có cái đuôi khá dài. Khi ném, nắm cái đuôi như nắm sợi dây, quay tròn, lấy trớn rồi buông tay, trái lựu đạn sẽ đi xa và rơi cầu vồng, nhờ cái đuôi điều chỉnh. Họ hát “nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, mặc quần cụt, chân mang dép bằng nhựa cao su còn tươi, chưa sơ chế”.

Ngày 2-9-1945 mở ra một trang khác trong lịch sử dân tộc, nhà văn Sơn Nam nhập cuộc một cách tự tin với những người kháng chiến: “Anh em khen ngợi tôi, vì trong buổi gặp mặt viên Chủ tỉnh (do Nhật chỉ định) để bắt buộc hắn phải trao trả chính quyền cho Mặt trận Việt Minh, hắn giựt mình, như hoảng sợ, đứng dậy bắt tay từng người, trong đó có tôi là một thành viên trẻ nhất. Hắn ta nhớ mặt tôi từng là thơ ký dưới quyền nên hỏi: “Bữa nay em cũng đi theo hả?”.

Tôi phản ứng lập tức, bảo rằng ngày hôm nay, tôi là đại diện cho những thanh niên đang nổi dậy, làm cách mạng, không ai được xem tôi là đứa em! Anh em cán bộ cho rằng, sự phản ứng của tôi rất đáng giá, chứng tỏ tôi là người yêu nước nồng nhiệt”.

Tác phẩm đầu tay của nhà văn Sơn Nam là cuốn “Chuyện xưa tích cũ” in năm 1957. Nghĩa là trước và sau cột mốc Quốc khánh dăm bảy năm, chàng trai Phạm Minh Tày chưa viết được gì. Thế nhưng, những điều thu nhận đã được tích lũy để anh thư ký 19 tuổi Phạm Minh Tày trở thành nhà văn Sơn Nam tương lai.

Chẳng hạn, một khoảnh khắc ở Rạch Giá khoảng thời gian ấy “dọc đường gặp một ông lão quắc thước đang thao diễn để tập võ nghệ cho đám thanh niên. Vừa tập, vừa xướng lên những câu “thiệu” để giữ nguyên tắc. Tôi nhớ mãi đại khái hai câu “bái tổ song âm, bái tầm long thế”, hai bàn tay vỗ vào nhau để lấy khí thế” sau này được đưa vào truyện ngắn “Đảng cánh buồm đen” tiêu biểu nhất trong tập “Hương rừng Cà Mau” nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.