Cây ngô đồng - đợi ai, ai đợi!?

Ca dao có những câu thật da diết đầy hy vọng về tình yêu: “Bây giờ ta lại gặp ta/ Sẽ xin Nguyệt lão, trăng già xe dây/ Xe vào như gió, như mây/ Như chim loan phượng đậu cây ngô đồng”. Đó là lời của chàng trai nói với người yêu về chuyện họ sẽ nên vợ nên chồng.

Lại có những câu da diết mà thật chua chát, đau khổ: “Còn gì nay đợi mai trông/ Nhạn kia chắp cánh theo rồng lên mây/ Trách ai làm đó xa đây/ Như con chim phượng xa cây ngô đồng”. Đây là lời của chàng trai thất tình. Người yêu của chàng (nhạn) đã theo người khác (rồng) về vùng đất khác (mây) rồi. “Ai” đã “chia uyên rẽ thúy”, đã không cho “chim phượng” đậu cây “ngô đồng?”.

Cây ngô đồng được khắc trên Cửu Đỉnh (Huế).
Cây ngô đồng được khắc trên Cửu Đỉnh (Huế).

Như vậy, ngoài các hình ảnh quen thuộc biểu trưng cho tình yêu thì “chim phượng” và “cây ngô đồng” cũng là một mô tip. Nhưng khác với “thuyền - bến” chẳng hạn, dân giã, bình dị còn “chim phượng – cây ngô đồng” thì có gì đấy kiểu cách, vương giả hơn.

Dân ca Nam Bộ có bài “Lý chiều chiều” thật đặc sắc nhưng lời thì lại thật giản dị: “Chiều chiều ra đứng tây lầu tây, tây lầu tây/ Thấy cô tang tình gánh nước/ Tưới cây, tưới cây ngô đồng/ Xui ai xui ai trong lòng, trong lòng tôi thương/ Thương cô tưới cây ngô đồng”. 

Hình ảnh quen thuộc, gần gũi: một anh chàng trai cứ sắp cữ hoàng hôn là ra ngắm cảnh, thấy một cô gái tưới cây ngô đồng mà đem lòng thương mến. Đặc sắc ở chỗ cách phối nhịp hài thanh tạo ra lời hát như ru, như mê, như mời gọi, lại như đánh thức... 

Câu đầu 10 chữ thì có 9 thanh bằng, chỉ 1 chữ thanh trắc (đứng) nổi lên giữa câu như tạo ra mô hình hình sin, chữ “đứng” đột ngột cao vút lên nhấn vào hình ảnh trung tâm là chàng trai trẻ đang “đứng” (cũng là “đứng hình” vì hình ảnh cô gái như mê hoặc). Đầu và cuối câu 2 có 3 thanh trắc (thấy, gánh nước) là mô hình giai điệu đảo ngược lại với câu đầu. Câu 3 toàn thanh bằng có tới 10 âm tiết ngân nga. Câu cuối lại trở về với mô hình câu 1 với đỉnh hình sin là thanh trắc (tưới). Toàn bài là sự phối âm tạo ra giai điệu êm mượt, day dứt, da diết nhưng vẫn tập trung vào hành động cô gái tưới cây ngô đồng!

Trong mối liên hệ với mô típ trên thì có thể hiểu thêm chàng trai tưởng tượng cô gái ấy chính là cây ngô đồng, còn mình sẽ là... chim phượng!

Trước khi góp phần đi tìm mã văn hóa cây ngô đồng này, xin được nói rõ rằng, ở nhiều vùng quê khác nhau, có những cây khác nhau cũng được gọi là cây ngô đồng, nhưng trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến 3 loại cây ngô đồng khá phổ biến ở Việt Nam. 

Một là cây ngô đồng thân gỗ cao tới 15, 16 mét có tên khoa học là Jatropha podagrica. Ở Việt Nam, cây mọc trong rừng núi đá vôi ở Cao Bằng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị... nhưng đẹp nhất là ở Huế. Cây cũng có nhiều ở miền Nam Trung Quốc. 

Từ xa xưa người ta đã biết đến cây ngô đồng chữa được nhiều bệnh. Kinh nghiệm dân gian dùng lá trị nhọt, làm lành vết thương; dùng hạt để chống viêm, long đờm, chữa đau bao tử; sắc nước từ rễ có tác dụng giảm sưng. 

Ngày nay khoa học chiết xuất từ vỏ và lá cây nhiều hợp chất khoa học có tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm… Thân gỗ dùng làm đàn (nhất là những loại đàn dân tộc cổ truyền như đàn nguyệt, tam thập lục...) và một số đồ mỹ nghệ. Trong văn chương văn hóa phương Đông hầu như chỉ nói tới cây ngô đồng này!

Hai là cây ngô đồng đỏ, thân gỗ cao nhất tới 20 mét, tên khoa học là Firmiana colorata mọc nhiều ở cù lao Chàm (Hội An, Quảng Nam), ngoài ra rải rác ở Khánh Hoà, Bà Rịa - Vũng Tàu. Cây này có hoa màu đỏ cam, đài hình ống. Công dụng chính là tước vỏ để đan võng. Theo các nhà sinh vật học thì cây này còn có ở Ấn Độ và Myanmar...

Ba là cây ngô đồng phong thủy, mới xuất hiện ở Việt Nam, còn được gọi là dầu lai lá sen, dầu lai có củ, có nơi gọi là cây sen lục bình, trồng trong chậu cảnh vừa làm đẹp vừa có chức năng phong thủy.

Xin quay lại với mã văn hóa cây ngô đồng. Lớp nghĩa ban đầu, cây ngô đồng là biểu tượng cho chất liệu quý để kiến tạo công cụ nghệ thuật. Tương truyền vua Phục Hy trông thấy năm vì sao rơi xuống cây ngô đồng, sau đó thì chim phượng hoàng liền bay đến đậu. Nhà vua cho rằng chắc hẳn cây là loài gỗ quí nên sai đẵn xuống ngâm nước 72 ngày đêm. Cây khi sống hấp thụ khí dương thì ngâm nước hấp thụ khí âm. Sau đó vớt lên để khô làm đàn. 

Cũng tương truyền cây đàn mà Bá Nha gẩy được làm từ gỗ ngô đồng này. Nhờ thế mà tiếng đàn có hồn hơn, linh diệu hơn nên Chung Tử Kỳ nghe mới thấy rõ như vậy! Đôi bạn nghệ sỹ này để lại cho văn hóa phương Đông khái niệm “tri âm” bất tử. Bá Nha đàn nghĩ đến núi cao, Tử Kỳ nói tiếng đàn hôm nay vời vợi như non xa. Bá Nha đàn nghĩ về biển rộng, Tử Kỳ nói, tiếng đàn như đưa ta đến chốn mênh mang trời nước. Tử Kỳ mất sớm. Chẳng ai hiểu tiếng đàn mình, Bá Nha đập đàn rồi bỏ đi mất... 

Có thể đây là “mẫu con” của “mẫu gốc” chim phượng chỉ đậu cây ngô đồng, có nét nghĩa nguyên thủy gần với “tri âm”. Ở trên đời này có biết bao những con chim phượng không tìm được cây ngô đồng để đậu!?

Huyền thoại bay đến không gian triều Nguyễn (Việt Nam), hoàng gia yêu quý cây ngô đồng đến nỗi cho khắc hình lên Cửu Đỉnh vừa để ca ngợi vừa để bất tử hóa, cũng là cách thể hiện “tâm hồn nghệ sỹ”. Thế nên sau này mới có câu thơ kiệt tác của Bích Khê: “Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”. Cái ngạc nhiên sững sờ này sẽ làm sững sờ ngạc nhiên văn giới nhiều thời nữa! 

Nhưng câu này lại chịu ảnh hưởng một ý thơ cổ bên Tàu mà văn nhân phương Đông kim cổ có lẽ ai cũng ngâm nga cảm khái: “Ngô đồng nhất diệp lạc/ Thiên hạ cộng tri thu” (Một lá ngô đồng rụng/ Thế là thu đã sang). Cây ngô đồng Trung Quốc rụng lá vào mùa thu. Còn ở ta, tiêu biểu là Huế thì cây trổ hoa vào mùa xuân (tháng 2,3 âm). Khi lá đã rụng hết chỉ để lại những chùm hoa, dưới ánh mặt trời buổi sớm, như được cộng hưởng thêm ánh sáng rực rỡ và khí xuân trong trẻo mà hoa càng đẹp hơn nhiều, lãng mạn mơ mộng đến cổ điển, cũng thật thanh tao, đài các...

Câu thơ Bích Khê thật hay, ở cách dùng toàn thanh bằng, ở cách đưa khẩu ngữ vào hình thức cổ điển thất ngôn (Ô! Hay), ở cách đảo trang đưa trạng ngữ tính từ lên trước để nhấn mạnh (buồn vương cây ngô đồng; Vàng rơi! Thu mênh mông); ở cách tạo ra ảo giác (vàng rơi là gì, lá cây hay ánh chiều?)...

Cây ngô đồng nở hoa trong Thành Nội Huế!
Cây ngô đồng nở hoa trong Thành Nội Huế!

Nói tới ngô đồng là phải nói tới chim phượng. Con chim phượng đã vỗ cánh từ thời tối cổ rồi bay suốt chiều dài lịch sử, đến mỗi đỉnh cao thời đại chim dừng lại để con người chiêm ngưỡng và tô điểm thêm cho nó những sắc màu văn hóa mới. 

Đến nay nó vẫn mải miết bay nên không một nhà nghiên cứu nào, dù tài năng đến mấy cũng không “đọc” được hết ý nghĩa, chỉ ra được nó có màu sắc cụ thể nào. Mãi vài ba thiên niên kỷ gần đây nó được “bình dân” hóa bằng cách “cặp đôi” với chim loan làm biểu tượng cho tình yêu mơ mộng và vĩnh cửu. Gần hơn nữa là biểu tượng cho vợ chồng chung thủy...

Huyền thoại phương Đông kể sau khi vị thần Bàn Cổ thoát ra từ “quả trứng” khổng lồ của sự hỗn mang thì đã có bốn linh vật đi theo “phục vụ” là long (rồng), ly (kỳ lân), quy (rùa), phụng (phượng hoàng). Những sinh vật tuyệt vời này, được gọi là Tứ Linh (bốn vị thần linh), đã hợp sức với (thần) Bàn Cổ để tạo ra thế giới. 

Ngay từ đó vũ trụ gắn liền với số 5 là vì thế: ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), 5 mùa (xuân, hạ, thu, đông, cuối hạ) 5 vùng (Bắc, Nam, Đông, Tây và trung ương)... Chim phượng hoàng làm chủ lửa (hỏa), mùa hạ và phía Nam. Như vậy ngay từ đầu, chim phượng đã mang vai trò thần thánh. Vì là thần thánh lại ra đời quá sớm nên phải tuyệt đối trong sáng tinh khôi nên huyền hoại để cho nó bay trên vòng hào quang thiên giới, chỉ đậu trên cây ngô đồng và nếu có ăn thì chỉ ăn quả trúc. 

“Mẫu gốc” này dần dần “đẻ” ra biểu tượng mới: Hình ảnh phượng hoàng đậu cây ngô đồng là chỉ kẻ hiền tài tìm được nơi cống hiến xứng đáng. Ngày nay ở nội thành Huế còn nhiều cây ngô đồng là từ ý các vua Nguyễn trồng trong nội điện để mong cầu những chim phượng hiền tài! Đây là một tiếp biến văn hóa có từ đời nhà Hán (Trung Hoa) sang đến ta vẫn cùng một ý nghĩa ấy.

Người xưa có câu “trồng cây ngô đồng, dẫn phượng hoàng tới” thì nay lại có câu cùng ý nghĩa: “Dọn tổ cho đại bàng” là cùng mô tip chỉ khác là thay hình tượng. “Dọn tổ” là chuẩn bị cơ sở cả vật chất và tinh thần để đón những nhà đầu tư. Cũng là một ẩn dụ hay!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).