Cặp điệp viên thành công nhất của tình báo Liên Xô

Joel Barr và Alfred Sarant là hai đảng viên Cộng sản đã cung cấp bí mật quân sự của Mỹ cho Liên Xô, trở thành những điệp viên thành công nhất trong lịch sử nước này. Sau khi trốn khỏi Mỹ, thay đổi tên và giấu kín nguồn gốc xuất thân của mình, họ bắt đầu cuộc sống mới ở Liên Xô và đạt được một số thành tựu đáng kể trong khoa học.

Lý tưởng Cộng sản và hoạt động tình báo cho Liên Xô

Mọi chuyện bắt đầu vào năm 1950, khi cơ quan phản gián Mỹ phát hiện một mạng lưới tình báo làm việc cho Liên Xô. Mạng lưới này được cho là đã giúp Liên Xô thu thập thông tin về chế tạo vũ khí hạt nhân. Cặp vợ chồng Julius và Ethel Rosenberg là những thành viên chính, 3 năm sau họ bị hành quyết trên ghế điện.  Những người khác bị bắt và lãnh án tù. Hai thành viên duy nhất trong mạng lưới thoát khỏi hình phạt là Joel Barr và Alfred Sarant.

Cặp điệp viên thành công nhất của tình báo Liên Xô -0
Joel Barr.

Joel Barr sinh năm 1916 tại New York. Cha mẹ ông là người Do Thái di cư sang Mỹ từ thời nước Nga Sa hoàng. Cậu bé lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói và tội phạm hoành hành ở các khu vực đô thị. Đam mê công nghệ từ  nhỏ, Joel tự lắp kính thiên văn và máy thu thanh.

Nhờ kiên trì và năng lực của mình, năm 1938,  Joel tốt nghiệp trường cao đẳng thành phố với  chuyên ngành kỹ sư điện. Trong thời gian học tập, ông gia nhập Liên minh Thanh niên Cộng sản Mỹ.

Nhân vật thứ hai, Alfred Sarant, sinh năm 1918 trong một gia đình người Hy Lạp nhập cư khá giả thuộc tầng lớp trung lưu. Năm 1940, Sarant tốt nghiệp Trường Cao đẳng Cooper Union tư thục ở New York. Cũng như Barr, Sarant là thành viên của Liên minh Thanh niên Cộng sản Mỹ và yêu thích công nghệ thông tin.

Nhờ say mê chủ nghĩa Marx, trong những năm sinh viên, Barr quen biết Julius Rosenberg, cũng xuất thân từ một gia đình nhập cư Do Thái. Chính Rosenberg (mật danh "Liberal") đã liên lạc với tình báo Liên Xô vào đầu những năm 1940 và đã lôi kéo Barr (mật danh "Mètre"/"Scout") tham gia hoạt động tình báo. Cùng thời gian đó, Barr làm quen với Sarant, họ thuê chung một căn hộ và trở thành bạn thân. Barr tuyển mộ  bạn mình vào mạng lưới tình báo với mật danh "Hughes".

Cặp điệp viên thành công nhất của tình báo Liên Xô -0
Alfred Sarant.

Bắt đầu từ năm 1940, 3 cộng sự nói trên làm việc tại các phòng thí nghiệm của Quân đoàn Tín hiệu Quân đội Hoa Kỳ. Họ chỉ đảm nhận những chức vụ thấp, nhưng lại có quyền tiếp cận nhiều công nghệ mật và có thể sao chép tài liệu mà không gặp khó khăn gì.

Barr và Sarant là những kỹ sư công nghệ, chuyên lắp ráp và thử nghiệm các thiết bị, vì vậy, họ rất am hiểu chúng. Họ được phép đi lại tự do trong các nhà máy để nghiên cứu sâu hơn về quy trình sản xuất.

2 năm sau, Barr và Sarant bị sa thải khỏi Quân đoàn Tín hiệu Quân đội Hoa Kỳ vì quan hệ với đảng Cộng sản Mỹ (Barr) và hoạt động công đoàn tích cực (Sarant). Mặc dù vậy, họ vẫn tìm được việc làm tại công ty tư nhân Western Electric, chuyên thực hiện các hợp đồng quân sự của Bộ Quốc phòng Mỹ.

Ngay lúc bấy giờ, FBI đã có thể tiếp cận mạng lưới tình báo Rosenberg, nhưng trong bối cảnh chiến tranh với Nhật Bản, mạng lưới này không được chú ý nhiều. Các quan chức phản gián Mỹ thậm chí không thể hình dung được rằng có những điệp viên Liên Xô đang hoạt động trong nước. Sự phối hợp yếu kém giữa FBI và quân đội cũng ảnh hưởng đến tình hình này.

Trong suốt những năm chiến tranh, qua Rosenberg, Barr và Sarant đã chuyển cho Liên Xô hơn 9.000 trang tài liệu liên quan đến hơn 100 chương trình vũ khí, bao gồm: hệ thống radar, kính ngắm máy bay, động cơ phản lực, máy tính tương tự để điều khiển hỏa lực, pháo binh, ngòi nổ cận đích, hệ thống rada và nhận diện "bạn-thù" cùng nhiều chương trình khác.

Những thông tin như vậy, đặc biệt là trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, là  tài liệu cực kỳ quý giá, sánh ngang với các bí mật nguyên tử. Theo lời Đại tá Aleksandr Feklisov, cặp điệp viên (Barr và Sarant) được coi là hiệu quả nhất của mạng lưới tình báo.

Hầu như tất cả các thành viên trong mạng lưới của Rosenberg đều là những người theo chủ nghĩa Marx và tin rằng họ góp phần bảo vệ nhà nước cộng sản đầu tiên trên thế giới đang đấu tranh chống chủ nghĩa quốc xã Đức vì sự tồn tại của mình.

Cặp điệp viên thành công nhất của tình báo Liên Xô -0
Julius và Ethel Rosenberg.

Cuộc sống mới

Trong giai đoạn hậu chiến, Barr và Sarant đã thành lập công ty riêng mang tên Sarant Laboratories và bắt đầu tìm kiếm các hợp đồng quân sự, nhưng chẳng mấy chốc đã bị phá sản. Sau đó, mỗi người tự tìm công việc riêng. Năm 1946, Barr vào làm việc tại Tập đoàn Sperry, một công ty thiết bị và điện tử lớn của Mỹ, nhưng không được phép tiếp cận các hệ thống định vị vô tuyến. Vào thời điểm này, FBI đã có bằng chứng về mối liên hệ của ông với những người cộng sản, nhưng vẫn chưa nghi ngờ ông tham gia hoạt động gián điệp.

Kết quả là Barr mất việc và cảm thấy bị đe dọa, nên ông đã rời Mỹ sang châu Âu (năm 1948), nơi ông bắt đầu nghiên cứu âm nhạc và kỹ thuật, đồng thời thỉnh thoảng cũng liên lạc với điệp viên Liên Xô.

Còn Sarant chuyển đến thành phố Ithaca của New York và kết hôn. Theo nhiều nguồn tin, ông làm thợ sơn và thợ máy, sau đó làm kỹ sư tại Đại học Cornell, tham gia vào việc chế tạo máy gia tốc hạt cyclotron.

Tình hình của mạng lưới tình báo Rosenberg ngày càng xấu đi: từ năm 1948, FBI đã theo dõi Barr, nhầm lẫn ông với Rosenberg. Năm 1950, các thành viên của mạng lưới lần lượt bị bắt, kể cả cặp vợ chồng người đứng đầu mạng lưới. Trong tình thế đó, với sự giúp đỡ của KGB, Barr đã khẩn trương đến Tiệp Khắc (qua Thụy Sĩ), không báo cho ai biết về chuyến đi của mình, thậm chí bỏ lại đồ đạc.

Sau khi vợ chồng Rosenberg bị bắt, các điệp viên FBI đã thẩm vấn Sarant, người còn ở Mỹ, và khám xét nhà ông. Sarant không bị buộc tội, vì vậy họ chỉ yêu cầu ông viết giấy cam kết không rời khỏi nơi cư trú. Đồng thời, Sarant phủ nhận mọi liên quan đến mạng lưới gián điệp, và một tuần sau, đã cùng tình nhân chạy sang Mexico.

Cặp điệp viên thành công nhất của tình báo Liên Xô -0
Nikita Khruschyov đến thăm KB-2.

Năm 1951, Barr và Sarant gặp nhau tại Praha. Ở Mỹ, họ không bị buộc tội, nhưng FBI vẫn theo dõi họ cho đến năm 1980.

Như vậy, Barr và Sarant là hai điệp viên duy nhất trong mạng lưới Rosenberg thoát khỏi sự truy đuổi của hệ thống tư pháp Mỹ. Ở Tiệp Khắc, họ thay đổi tên và lai lịch: Barr trở thành Joseph Berg, còn Sarant trở thành Philipp Staros. Họ tự giới thiệu là đảng viên đảng Cộng sản Nam Phi và đảng Lao động Canada.

Cả hai điệp viên đều tìm được việc làm tại một văn phòng thiết kế ở Séc. Có thông tin cho rằng họ đã thiết kế một máy tính tương tự cho các lực lượng phòng không, nhờ đó mà hệ thống phòng không tự động đầu tiên ra đời và hoạt động cho đến tận những năm 1980.

“Làn gió mới” của ngành vi điện tử Liên Xô

Năm 1956, hai người bạn cùng gia đình chuyển đến Liên Xô. Sự xuất hiện của các kỹ sư máy tính Mỹ trùng với giai đoạn áp dụng các công nghệ mới, được coi là đầu tàu của nền kinh tế Liên Xô.

Tại thành phố Leningrad, phòng thí nghiệm đặc biệt số 11 (sau này là phòng thiết kế KB-2) dành cho họ đã được thành lập. Staros giữ chức trưởng phòng, còn Berg là phó phòng. Họ được tạo mọi điều kiện thuận lợi: tự tuyển dụng các chuyên gia cần thiết và nhận được mức lương cao (700 rúp/tháng). Tuy nhiên, vì là người nước ngoài, họ luôn luôn bị các nhân viên KGB theo dõi.

Phòng thiết kế của họ thực hiện các đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng. Chẳng hạn, tại đây, họ đã thiết kế một  linh kiện cho radar được sử dụng trong các con tàu vũ trụ đầu tiên. Nhờ những thành tích đó, Berg và Staros được trao tặng Huân chương Cờ Đỏ.

Sau đó, KB-2 bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực vi điện tử: chế tạo máy tính bỏ túi, các mẫu mạch tích hợp phim, bộ nhớ và các linh kiện máy tính với mức tiêu thụ năng lượng thấp. Sản phẩm của họ không chỉ phục vụ cho nền kinh tế quốc dân mà còn cho ngành công nghiệp quốc phòng.

Một trong những thành tựu quan trọng nhất của KB-2 là trong vòng 2 năm, phòng này đã chế tạo thành công máy tính điện tử (UM1-NH) để giải các bài toán kiểm tra và điều khiển, được sử dụng trong sản xuất, nhà máy điện và các lĩnh vực khác.

Điểm độc đáo của máy tính này là rẻ, gọn nhẹ và tiết kiệm năng lượng. Đây là nguyên mẫu của quá trình số hóa rộng rãi. Hiệu quả của máy tính điện tử UM-1 được cả thế giới công nhận, kể cả Mỹ. Nhờ có thiết bị độc đáo này, một số lãnh đạo của  phòng đã được trao Giải thưởng Nhà nước Liên Xô.

Phương pháp làm việc của Staros và Berg chịu ảnh hưởng của khoa học phương Tây: họ tiến hành các nghiên cứu cơ bản, tham khảo các tài liệu tiếng Anh và khuyến khích nhân viên làm theo cách đó; tập trung vào các sản phẩm của chính mình thay vì chỉ sao chép công nghệ của người khác.

Cặp điệp viên thành công nhất của tình báo Liên Xô -0
Máy tính điện tử UM1-NH.

Đỉnh cao trong sự nghiệp của Staros và Berg là năm 1962, khi Nikita Khruschyov thăm phòng thiết kế của họ (KB-2). Tại đây, họ đã trình bày tất cả những ưu điểm của công nghệ vi điện tử cho nhà lãnh đạo nghe. Cụ thể, Staros đã đề xuất xây dựng một khu phức hợp sản xuất vi điện tử mạnh (khép kín) ở thành phố Zelenograd, quy mô lớn gấp hàng trăm lần các công ty công nghệ cao của Mỹ.

Nikita Khruschyov rất ấn tượng với ý tưởng này, và một tháng sau, chính phủ đã thông qua một nghị quyết về việc thành lập Viện Nghiên cứu Khoa học 35.

Tuy nhiên, thời điểm này, tình hình chính trị nội bộ của Liên Xô diễn biến rất phức tạp.  Khruschyov buộc phải từ chức và tất cả những người gần gũi với ông đều bị thất sủng. Staros và Berg ngay lập tức bị cáo buộc lãng phí công quỹ, âm mưu phục quốc Do Thái (!) và lạm dụng quyền lực. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, KB-2 bị tái cấu trúc nhiều lần, và cuối cùng trở thành một bộ phận của Liên hiệp Sản xuất thiết bị điện tử Leningrad “Svetlana”, còn các cán bộ lãnh đạo bị cách chức. Riêng dự án xây dựng Viện Nghiên cứu Khoa học vi điện tử ở Zelenograd thì không được thực hiện do thiếu kinh phí.

Sau đó, cuộc sống của Staros và Berg đã đi theo hai con đường khác nhau. Staros chuyển đến thành phố Vladivostok, làm việc tại chi nhánh Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo. Năm 1979, ông  qua đời vì nhồi máu cơ tim.

Còn Berg vào làm việc tại phòng thí nghiệm nghiên cứu tiềm năng của Liên hiệp Sản xuất thiết bị điện tử Leningrad “Svetlana” cho đến khi cơ quan này giải thể, ngoài ra ông tiếp tục theo đuổi sự nghiệp âm nhạc và duy trì một lối sống lành mạnh. Cho đến cuối đời, Berg vẫn giữ vững niềm tin vào lý tưởng cộng sản. Năm 1998, ông qua đời vì bệnh tiểu đường.

Anh Duy

Các tin khác

Oleg Lyalin: Điệp viên KGB và vụ đào tẩu làm rung chuyển London

Oleg Lyalin: Điệp viên KGB và vụ đào tẩu làm rung chuyển London

Một cuộc tình, một vụ bắt giữ vì lái xe trong lúc say rượu và quyết định đào tẩu của một sĩ quan KGB đã dẫn tới một trong những vụ trục xuất nhân viên tình báo lớn nhất thời Chiến tranh Lạnh. Tháng 9/1971, Anh trục xuất 105 quan chức Liên Xô bị nghi hoạt động tình báo; Moscow đáp trả bằng việc trục xuất 18 nhân viên ngoại giao Anh. Nhưng đằng sau vụ bê bối tưởng như bắt đầu từ một cuộc say rượu ấy là cả một chiến dịch phản gián đã được MI5 chuẩn bị từ nhiều năm trước.

Jos Leijdekkers- Kẻ làm chao đảo hai châu lục

Jos Leijdekkers- Kẻ làm chao đảo hai châu lục

Dư luận quốc tế vẫn còn xôn xao trước tin Ủy ban Châu Âu (EC) ngừng mọi hoạt động viện trợ Sierra Leone từ ngày 1-10-2026. Trước đó Liên minh Châu Âu (EU) có kế hoạch viện trợ quốc gia Tây Phi 18 triệu euro vào năm 2026 và 20,5 triệu euro vào năm 2027. Lý do được EC đưa ra là chính phủ Sierra Leone từ chối trục xuất ông trùm ma túy Jos Leijdekkers về Hà Lan.

Con đường biến bác sĩ trẻ trở thành “siêu trộm”

Con đường biến bác sĩ trẻ trở thành “siêu trộm”

Sau khi đột nhập liên tiếp 3 tiệm vàng lấy trộm tài sản có trị giá hơn 5 tỷ đồng, Nguyễn Duy Nhật (sinh năm 1966, trú tại phường Thanh Thủy, TP Huế, thời điểm gây án là bác sĩ khoa Đột quỵ, Bệnh viện Trung ương Huế) mới sa lưới Công an. Nhìn lại hành trình đột nhập 3 tiệm vàng để lấy trộm tài sản, mới thấy được vị bác sĩ đã lên kế hoạch từng chi tiết và phương thức, thủ đoạn như những tên “siêu trộm” chuyên nghiệp…

Hải quân Anh sử dụng tàu bẫy trong Thế chiến I và II

Hải quân Anh sử dụng tàu bẫy trong Thế chiến I và II

Trong Thế chiến thứ nhất, người Anh đã sử dụng các tàu bẫy để chống lại tàu ngầm Đức. Bước sang Thế chiến thứ hai, Bộ Hải quân Anh quyết định khôi phục chiến thuật này. Liệu đây có phải là một quyết định sáng suốt? Câu trả lời đã được thể hiện qua trận hải chiến diễn ra vào ngày 29/6/1940 giữa một tàu ngầm Đức và một tàu bẫy của Anh.

Scientology và cộng đồng tình báo Mỹ

Scientology và cộng đồng tình báo Mỹ

Từ lâu, dư luận biết khá nhiều về mối quan hệ đặc biệt giữa Giáo hội Scientology với cộng đồng tình báo Mỹ. Sâu xa Scientology còn có mối quan hệ phức tạp, bí mật với giới quyền lực và bộ máy tình báo phương Tây. Chủ đề đặc biệt này vừa được tạp chí trực tuyến Nga Lưu trữ Lịch sử gián điệp (EAH) cập nhật.

Những dấu vết trong nghi án tình báo Anh

Những dấu vết trong nghi án tình báo Anh

Điều gì đã khiến những liên lạc, thông tin về mục tiêu và các bước chuẩn bị bị cáo buộc trở thành đầu mối của một cuộc điều tra an ninh? Vụ truy tố Joshua Cammidge đang làm lộ những dấu vết dẫn tới một mắt xích trong nghi án tình báo tại Anh.

Leonid Shevchenko - điệp viên hai mang ba lần phản bội Tổ quốc

Leonid Shevchenko - điệp viên hai mang ba lần phản bội Tổ quốc

Trung tâm Quan hệ Công chúng thuộc Cơ quan An ninh Liên bang Nga (FSB) vừa công bố các tài liệu đã được giải mật của Cục An ninh Liên bang Nga tỉnh Kursk, liên quan đến hồ sơ vụ án hình sự đối với Leonid Shevchenko, sinh năm 1922, kẻ bị kết án về tội phản quốc trong những năm chiến tranh và tội hoạt động gián điệp sau chiến tranh.

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.