Cái tóc - nét văn hóa

Ca ngợi công ơn thầy cô có lẽ bài hát “Bụi phấn” (nhạc Vũ Hoàng, thơ Lê Văn Lộc) là một trong những tác phẩm thành công nhất: “Khi thầy viết bảng/ Bụi phấn rơi rơi/ Có hạt bụi nào/ Rơi trên bục giảng/ Có hạt bụi nào/ Vương trên tóc thầy/ Em yêu phút giây này/ Thầy em, tóc như bạc thêm/ Bạc thêm vì bụi phấn/ Đã cho em bài học hay...”.

Hình tượng tóc thầy bạc lại như bạc thêm vì bụi phấn là liên tưởng bất ngờ mà hợp lý. Tóc thầy bạc để “cho em bài học hay” là lời biết ơn trước công lao, tấm lòng và sự hy sinh của thầy. Chúng ta còn rất thiếu những bài hát như thế! Nói về tóc, nhà thơ Đoàn Văn Cừ có câu thơ để đời: “Nước thời gian gội tóc trắng phau phau”, tả tóc làm người đọc hình dung ra cả một thời gian đời người...

Những ý thơ trên tựa vào câu tục ngữ: “Cái răng cái tóc là góc con người”, từ cái răng cái tóc mà có thể biết được con người, tính cách người... Cái để làm người khác chú ý, trước hết là “tóc”: “Một thương tóc để đuôi gà...”. Thế nào là “tóc để đuôi gà”?.

Trong “Nhớ gì ghi nấy”, nhà văn Nguyễn Công Hoan tả: “Trước kia con gái lên ba, lên bốn thì đầu cạo trọc, nhưng để một cái “cút” ở phía trước. Từ mười sáu tuổi trở đi, thì vấn khăn. Tức rẽ giữa trán rồi chải sang hai bên mới vấn khăn ra ngoài, quấn chặt cho thật lẳn. Khăn chít một vòng quanh đầu. Nên tóc ít hoặc ngắn thì phải độn thêm cho vành khăn khỏi bé. Chỗ tóc thừa ở đầu khăn, khi chít thì rủ xuống vai, gọi là đuôi gà. Nếu tóc ngắn, không có đuôi gà thì các cô mượn tóc ngoài để nối vào tóc mình, làm “đuôi gà giả”.

image002.jpg -0
Hình ảnh vua Louis XIII đội tóc giả.

Người Việt nói “mái tóc” là rất tinh tế. “Mái” luôn để che, mái nhà để che mưa che nắng. Mái tóc để che chắn, bảo vệ đầu. Còn là ý nghĩa thẩm mỹ, mái tóc đẹp làm tôn lên vẻ đẹp khuôn mặt, vẻ đẹp con người. Gắn liền với đời người, thế nên mái tóc được các thi sĩ mượn để ẩn dụ cho cuộc đời.

Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn trong bài “Tóc của mẹ tôi” tả người mẹ gội đầu rất sinh động, tình cảm: “Mẹ tôi hong tóc buổi chiều/ Quay quay bụi nước bay theo gió đồng/ Tóc dài mẹ xoã sau lưng/ Bao nhiêu sợi bạc chen cùng sợi đen”. Nhà thơ liên tưởng đến những lần nhổ tóc sâu cho mẹ: “Tóc sâu của mẹ, tôi tìm/ Ngón tay lần giữa ấm mềm yêu thương/ Bao nhiêu sợi bạc màu sương/ Bấy nhiêu lần mẹ lo buồn vì tôi/ Con ngoan rồi đấy mẹ ơi/ Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh!”.

Nhổ tóc sâu cho mẹ chưa có thơ, nhưng đến khi liên tưởng tóc mẹ bao nhiêu sợi bạc vì lo buồn cho con thì đã có chất thơ. Đến khi người con ao ước quay ngược thời gian để mẹ trẻ lại thì có thơ hay: “Ước gì tóc mẹ bạc rồi lại xanh!”. Thơ là một mô hình, một hệ thống. Có nhiều câu bình thường để dồn cho một câu hay. Nhưng nếu tách câu này ra đứng riêng thì có khi lại thành sáo, mất hay. Thế nên đọc thơ phải đọc hệ thống toàn bài...

Nhà thơ Phạm Đình Ân có bài thơ “Tóc mẹ” rất cảm động: “Tóc sâu nhổ giúp mẹ xưa/ Chỉ mươi sợi đục đặt vừa lòng tay/ Năm năm… Tháng tháng… Ngày ngày…/ Tóc con xanh, tóc mẹ phai nhạt dần”. Vẫn chưa phải thơ hay. Thơ hay phải cậy nhờ đến liên tưởng: “Mỗi lần trông mẹ vấn khăn/ Giật mình: sợi bạc còn ngần ấy sao?/ Một đời sung sướng – khổ đau/ Sương sa bạc xóa tóc đầu rụng vơi”.

Thơ hay thường gợi suy ngẫm, suy nghiệm, chất vấn, tự vấn: “Vo vo sợi giắt đầu hồi/ Lang thang sợi rải khắp nơi trong vườn/ Sợi vương vào bát canh cần/ Bữa ăn con nghẹn mấy lần, mẹ ơi!/ Rụng rồi, còn bạc chưa thôi/ Mòn thêm cùng với dáng người lom khom”. Thơ hay là thơ chân thành ở cảm xúc, gây ám ảnh ở hình tượng. Ai cũng có mẹ nhưng nhìn thấy và thương những sợi tóc mẹ thật thấm thía thì mới chỉ thấy ở thi phẩm này!

Văn hóa phương Đông xưa chịu sự chi phối của Nho giáo với quan niệm: “Những gì thuộc về thể xác như cơ thể, mái tóc, không phải của bản thân mà thuộc sở hữu của đấng sinh thành”. Thế nên con cái không được tùy ý cắt tóc vì mái tóc của mình là do bố mẹ cho, tự cắt là bất hiếu. Hơn nữa tóc còn là để biểu hiện tầng lớp xã hội, mức độ giàu có và tình trạng hôn nhân của mỗi người. (Ngày nay ở nước ta còn phụ nữ dân tộc Thái theo tục này, quấn tóc lên cao (tằng cẩu) là báo hiệu người đã có chồng). Nói nhiều hơn một “góc con người”, cái tóc trở thành nét văn hóa của người!

So sánh với phụ nữ Hàn Quốc xưa thì ở ta còn chưa phức tạp bằng. Khi chưa lấy chồng người con gái Hàn thường để tóc tết thả dài, kết hôn thì búi tóc lên rồi cài trâm. Cái trâm mới thể hiện sự giàu có của chủ nhân và gia đình. Với kỹ nữ thì phải đội mũ trang trí sặc sỡ để dễ nhận biết. Phụ nữ quý tộc, vương giả thì có bộ tóc riêng biệt được trang trí thượng đẳng cực kỳ công phu xa xỉ. Ngày nay với người Hàn, mái tóc vẫn rất quan trọng, nó như một giá trị văn hóa của chủ nhân. Trong trường học, kỷ luật hà khắc nhất là bị cắt tóc. Thế nên ảnh các diễn viên Hàn Quốc luôn có mái tóc hấp dẫn nổi bật.

Với người Trung Hoa xưa theo quan niệm đầu là nơi tiếp giáp với vũ trụ thần linh, tóc là “tơ trời”, là “duyên trời” nên tóc mang sức mạnh huyền bí, là mối liên kết giữa âm dương. Với phụ nữ, tóc là biểu hiện “duyên phận”, “duyên kiếp” nên thất tình thì cắt tóc là biểu hiệu một sự giải thóat, rũ bỏ bụi trần, sau đó thường tìm nơi cửa Phật đi tu... Với người đàn ông thì tóc còn là “lộc trời”, trời cho thì được nên tóc trở thành một sự bảo hiểm cho số phận. Cả đàn ông đàn bà mắc tội lớn sẽ chịu hình phạt cắt tóc. Con gái mà chửa hoang sẽ bị cạo trọc đầu bôi vôi (với cái ý không cho tóc mọc lại) cho thả bè trôi sông là có thật, là hình phạt cao nhất, bố mẹ từ bỏ, xóm làng ruồng rẫy, cho trở về với tạo hóa...

image001.jpg -0
Cô gái Hà Nội xưa “tóc bỏ đuôi gà”!

Câu chuyện tóc ảnh hưởng sang cả chính trị. Chính sử Trung Quốc kể trong thời nhà Đông Tấn, một viên quan tên là Đỗ Thao làm phản, tiến đánh Kinh Châu. Tướng triều đình là Đào Khản dẫn quân thu phục. Đào Khản biết có thể dùng tấm lòng chân thành mà cảm hóa, bèn cắt tóc mình phái người đem đến cho Đỗ Thao. Theo quan niệm cổ xưa, tóc đại diện cho đầu, cắt tóc rồi gửi cho đối phương ý rằng muốn dùng tấm lòng mình để giao hảo. Việc lớn thành công chỉ nhờ một hành động nhỏ.

“Tam quốc diễn nghĩa” kể, để lấy lòng dân, Tào Tháo hạ lệnh: “Những kẻ giẫm lên lúa mạch, bất kể là ai, lập tức sẽ bị chém đầu thị chúng”. Trăm họ thấy thế vô cùng tán thưởng. Không ngờ ngựa Tào Tháo trở chứng chạy vào ruộng lúa. Tào Tháo lập tức gọi viên quan tùy tùng tới yêu cầu trị tội mình vì “phạm quân lệnh”. Tất nhiên bách quan quỳ lạy xin Tháo bỏ qua. Tháo bèn cầm gươm ngửa mặt lên trời mà rằng xin trị tội mình. Nói xong Tháo cắt phăng mái tóc trên đầu. Bách quan run cầm cập vừa sợ, vừa phục Thừa tướng sát đất... Thời đó cắt tóc là một chuyện tày trời. Không phải là hành vi mỵ dân giả dối như đã từng hiểu, nó như một mũi tên bắn tới ba bốn đích, là sự tự trừng phạt nghiêm khắc, giữ được kỷ cương, quân tử đã nói là làm.

Như vậy tóc là một biểu hiện văn hóa. Hiểu từ góc độ này ta càng thấy lời hịch bất hủ của Quang Trung Nguyễn Huệ đanh thép, sâu sắc: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để răng đen/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn...” là cực kỳ có ý nghĩa. Kẻ xâm lược bắt dân ta cạo trọc đầu ngược với tập quán và cũng ngược lại chính Nho giáo, ta đuổi giặc tức ta giữ lại văn hóa của ta cũng là giữ nếp văn hóa Nho gia từ xa xưa. Rõ ràng ta đã chính nghĩa càng chính nghĩa, kẻ thù xâm lược phi nghĩa càng thêm phi nghĩa vì chúng đi ngược lại với chính tổ tiên họ!

Đội tóc giả ban đầu được dùng ở Ai Cập với mục đích để bảo vệ vùng đầu tránh nắng sa mạc.Dần dần phụ nữ tại Rome đội chúng như một thời trang. Tới thế kỷ XVII vì bệnh chấy rận hoành hành dữ dội ở châu Âu nên người ta phải cắt tóc và buộc/thích dùng tóc giả. Tương truyền năm 1624, vì mắc bệnh hói đầu nên vua Louis XIII phải đội tóc giả rồi thành mốt trong giới quý tộc. Ở nước Anh thế kỷ XVII tóc giả thường có màu tự nhiên nhưng bắt chước “mốt” rắc bột mỳ hoặc bột thạch cao lên tóc giả từ Pháp mà người ta tạo ra những bộ tóc màu hồng, xanh, nâu hay xám. Cũng tại Anh, năm 1705, giới quan tòa bắt đầu đội tóc giả để hòa nhập với xu hướng đang thịnh hành, có đặc trưng riêng nên dần được coi là mốt thời thượng!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).