50 năm - những kí ức cho ngày thống nhất đất nước

Bài 7: Ngày giải phóng qua lời kể của những người tham gia chiến đấu

Vào những ngày tháng Tư lịch sử, không khí tại TP Hồ Chí Minh náo nhiệt hơn, nhất là khi những tiêm kích Su và trực thăng của Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam bay tập luyện trên bầu trời thành phố, chuẩn bị cho chương trình kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam (30/4/1975 - 30/4/2025).

Bí mật những ngày chuẩn bị vũ khí cho chiến dịch

Tại nhà ông Nguyễn Công Đường (SN 1948) ở ấp 58, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, các cựu chiến binh thuộc Hội Cựu chiến binh xã Vĩnh lộc A đang uống trà xem tivi về màn nhào lộn của những chiến đấu cơ và ôn lại những ngày gian khổ mà anh dũng trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm. 

Bài 7: Ngày giải phóng qua lời kể của những người tham gia chiến đấu -0
Ông Nguyễn Công Đường (bên phải) và ông Nguyễn Minh Hùng là hai người chiến đấu ở hai chiến trường Tây Nguyên và Tây Nam, nay gặp nhau ở thành phố mang tên Bác.

Năm nay ông Nguyễn Công Đường đã 56 tuổi đảng, thương binh hạng 3/4, dù tuổi cao nhưng khi nói về những ngày kháng chiến thì tinh thần chiến đấu của ông vẫn hừng hực. Ông vén quần áo lên chỉ vào chân và bụng với nhiều vét sẹo, ông cho biết còn gần 30 mảnh mìn đang nằm trong người. Những mảnh nhỏ nằm trong cơ, trong thịt, việc phẫu thuật lấy ra rất khó khăn nên đành sống chung với nó. Trong chiến đấu, ông nhiều lần bị thương, có lần đạp phải mìn địch gài, ông bị đứt gân gót chân phải (gân Achilles), giờ phải đi cà nhắc, mỗi lần trái gió trở trời là đau nhức khắp người, nhất là những vết thương và phải chống nạng mới đi lại được.

Ông kể, năm 1965, lúc đấy 17 tuổi, đang học lớp 7, ông “xếp bút nghiên” xung phong đi thanh niên xung phong tham gia mở đường 15C phía Tây Thanh Hóa để bộ đội đi sang Lào vào miền Nam chiến đấu. Sau 3 năm đi thanh niên xung phong, tháng 6/1968 ông được đưa vào Sư đoàn 338 đóng quân tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Huấn luyện đến ngày 27/11/1968, ông cùng đồng đội hành quân trên đường Trường Sơn ròng rã nhiều tháng liền vào miền Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Ông hành quân trong đoàn phiên hiệu 2074 đến Tây Ninh tháng 1/1969 bị sốt rét điều trị tại đây. Sau khi khỏi sốt rét, đến tháng 9, ông được điều về Trung đoàn 88 di chuyển sang Campuchia rồi hành quân qua “cánh đồng chó ngáp” xuống Kênh 3 thuộc tỉnh Kiến Tường (nay là tỉnh Long An) vào tháng 2/1970. Đêm hôm ấy, Trung đoàn của ông hành quân qua rừng tràm Kênh Ngang thuộc tỉnh Kiến Tường, nhưng sáng sớm hôm sau thì bị lộ, địch cho máy bay bắn hỏa tiễn và ném bom làm thiệt hại nặng nề, nên đơn vị lập tức rút sang Campuchia củng cố lực lượng.

Năm 1971, Trung đoàn của ông quay về đánh Cứ điểm Chi khu Mỹ An nằm trên Lộ 30 thuộc tỉnh Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp). Tiêu diệt căn cứ xong, đơn vị ông ở lại ngày hôm sau đánh chống địch càn, tiêu diệt 2 tiểu đoàn ngụy. Hai ngày sau, đơn vị của ông hành quân xuống xã Mỹ Thiện, thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) đánh tiêu diệt Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 của ngụy.

Ông kể: “Sau khi chống càn chiến thắng, người dân phấn khởi nấu cơm và thức ăn đem ra tiếp tế cho bộ đội. Cơm nắm, muối mè, trái cây, cứ 3 chú bộ độ 1 quả dưa hấu…, người dân trong nhà có thức ăn gì đều đem ra tiếp tế cho bộ đội”.

Cuối năm 1971, trong một trận đánh địch tại huyện Cái Bè, ông bị thương nên được đưa về đơn vị Hậu cần thuộc Tỉnh đội tỉnh Mỹ Tho (ở xã Tân Phước, huyện Châu Thành) để điều trị. Sau khi bình phục, ông được phân công phục vụ tại đơn vị hậu cần.

Đến năm 1972, ông cùng đồng đội chủ yếu đánh du kích tại các đồn bót của địch ở Bắc lộ 4 thuộc huyện Cai Lậy và Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho. Ông nhớ mãi cách đánh linh hoạt và thú vị có lẽ chỉ có quân đội ta mới có. Đó là buộc dây thun vào hai cây tràm, một người rút chốt quả lựu đạn và giữ chặt trong tay, một người khác ôm bụng người cầm quả lựu đạn kéo hết cỡ rồi thả quả lựu đàn cho bay vào đồn bót địch mới nổ. Rồi buộc quả đạn H12 lên máng sắt đặt trên cây Trâm hướng vào đồn bót giặc, rồi cho dây diện xuống đất và ngồi dưới gốc cây châm diện cho quả đạn bay vào đồn bót địch nổ tung mà địch không biết bắn từ đâu.

Năm 1973, quân ngụy quyền Sài Gòn lấn chiếm Ấp Bắc nên ông được đơn vị phân công tham gia đánh địch và ông bị thương nặng tại đây, được đưa về đơn vị điều trị. Cuối năm 1973, ông nhận được thông báo của đơn vị là sắp tới cán bộ lãnh đạo sẽ về họp tại Tỉnh đội Mỹ Tho chuẩn bị cho chiến dịch lớn, nên ông được cử cùng đồng đội phục vụ họp. Sau 3 ngày họp, ông được phân công đi cùng đồng chí Tỉnh đội phó là Bà 8 (lúc đấy chỉ gọi tên theo thứ) đến xã Tân bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho để làm công tác vận động dân công tải đạn, ông được phân công làm tổ trưởng tổ vận tải.

Ban đầu ông được giao phụ trách 10 người nữ dân công cùng với một nữ du kích tải đạn (vác vũ khí) từ xã Tân Bình qua sông Bảo Định, lên giữa xã Trung An và Trung Lương qua Bắc Lộ 4 để nhận vũ khí từ một đơn vị khác, sau đó đưa vũ khí về trong đêm, giấu cất tại xã Tân Bình. Khoảng cách từ điểm nhận vũ khí đến nơi cất giấu hơn 10km, tính cả đi và về khoảng hơn 20km. Hơn 10 ngày sau thì đơn vị cử một tiểu đội chuyên vận tải đạn, không sử dụng dân công địa phương nữa vì sợ bị lính chiêu hồi chỉ điểm. Việc vận chuyển vũ khí diễn ra nhiều tháng liền cho đến khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ông cho biết, ngày 30/4/1975, tin chiến thắng nhanh chóng lan khắp nơi, không chỉ bộ đội vui mừng mà người dân cũng vui khôn xiết, nhiều người chạy đi loan tin: “Miền Nam giải phóng rồi bà con ơi!”.

Lính đặc công kể về trận đánh giải phóng Tây Nguyên và tiến về Sài Gòn

Còn ông Nguyễn Minh Hùng (SN 1952, ở xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh), hiện ở ấp 6A, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình chánh, TP Hồ Chí Minh, thuộc Hội Cựu chiến binh xã Vĩnh lộc A cũng say sưa kể về những ngày tháng chiến đấu oanh liệt.

Bài 7: Ngày giải phóng qua lời kể của những người tham gia chiến đấu -1
Nhân dân tham gia mít tinh mừng giải phóng Mỹ Tho. (Ảnh tư liệu)

Ông đi bộ đội năm 1972 (lúc ấy 20 tuổi) thuộc Đại đội 5, Tiểu đoàn 17, Trung đoàn 61, Bộ Tư lệnh đặc công. Năm 1973, ông được chuyển về Đại đội 5, Tiểu đoàn 27, Bộ Tư lệnh đặc công, huấn luyện tại Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Tây. Năm 1974, ông cùng đồng đội được tăng cường cho chiến trường miền Nam, tham gia chiến đấu tại Tây Nguyên.

Ông nhớ lại những ngày đánh vào sân bay Hòa Bình ở Buôn Ma Thuột năm 1975, ông cùng đồng đội cả tuần nằm dưới hầm chờ lệnh tấn công, chờ mãi không thấy lệnh đánh, lúc ấy hết lương thực, đói quá nên ông cùng đồng đội lên rẫy xin thức ăn. Người dân nói rằng, sắn trồng ở đây mục đích là để bộ đội hành quân đến có cái để ăn mà đánh giặc. Vậy là sắn được bỏ vào ba lô đem về nấu ăn. Khoảng 5 - 6 ngày sau thì được lệnh đánh sân bay Hòa Bình, đồng chí tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 nói: “Các đồng chí sẵn sàn chiến đấu”. 

Hôm ấy Tiểu đoàn 27 bộ đội đặc công đánh sân bay Hòa Bình, thấy có 4 xe tăng liên tục nã đạn vào bên trong, ông và đồng đội tưởng là xe tăng địch, nhưng nhìn kỹ thì thấy trên sườn pháo có huy hiệu xe tăng Quân Giải phóng nên mới ra dấu hiệu để không bắn nhầm. Lúc này Quân Giải phóng đánh các phía vào sân bay nên không thể biết cụ thể.

Có một điều bất ngờ trong trận đánh sân bay Hòa Bình là địch nằm dưới hầm ngầm. Sau khi tiêu diệt nhiều quân địch, tưởng chiến thắng, nhưng bất ngờ bị bắn trả từ những bao cát được dựng lên. Lúc này mới biết trong sân bay có hầm ngầm, khi quân ta tấn công, địch chui vào hầm ngầm, sau đó địch dựng những bao cát lên phản công bất ngờ về phía quân ta. Sau 3 ngày chiến đấu, Quân Giải phóng đã tiêu diệt nhiều tên địch và chiến thắng. 

Ông Hùng cho biết, lúc tấn công vào hầm ngầm, quân ta bắt được 10 đại tá ngụy và nhiều quân lính. Sau đó bộ đội đặc công giao lại cho Quân đoàn 1 tiếp quản. Dự định đánh vào Đà Lạt nhưng nhận được tin dân quân du kích nổi dậy giải phóng rồi nên bộ đội đặc công cùng Quân đoàn 1 tiến xuống Sài Gòn.

Khi đến gần cầu Sông Bé (tỉnh Sông Bé cũ) vào ngày 29/4/1975, một nữ dân quân du kích chèo ghe nhỏ đến nói: “Các chú giải phóng ơi, nó treo quả mìn ngay trên cầu, các chú ra nhanh không là giật giây nổ đấy”. Khi ông cùng đồng đội chạy đến thì cầu đã bị mìn nổ làm gãy. Sau đó Quân Giải phóng cùng dân quân du kích địa phương đánh địch làm chúng thua chạy tan tác, ta bắt sống nhiều tên giặc. Ngày 30/4/1975, tỉnh Sông Bé được giải phóng, bộ đội đặc công và Quân đoàn 1 tiếp tục tiến về đánh địch ở Sài Gòn. Lúc này, bộ đội đặc công được giao nhiệm vụ đi theo bảo vệ các đồng chí lãnh đạo ở Trung ương vào chỉ huy chiến đấu giải phóng Sài Gòn.

Trưa 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước trong niềm vui sướng vô hạn.

Năm 1976, ông làm Tiểu đội trưởng Tiểu đội 23, bộ đội đặc công tại sân bay Tân Sơn Nhất. Tháng 12/1976, ông cùng nhiều đồng chí khác xin ra Bắc, rồi ông xin phục viên về quê Hà Tĩnh. Sau này, ông đưa gia đình vào TP Hồ Chí Minh sinh sống cho đến nay.

Sau 50 năm giải phóng, đất nước ta ngày càng được xây dựng giàu đẹp hơn, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Để có được điều đó, chúng ta mãi mãi biết ơn công lao của những người đã anh dũng ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất quê hương. 

Nguyễn Cảnh

Các tin khác

Nẻo thiện tìm về

Nẻo thiện tìm về

Giúp đỡ người dân đi qua đường khi gặp mưa lũ, không nhận tiền “bồi dưỡng” của đối tượng khai thác gỗ trái phép, không quản thời gian, không nề hà công việc, có lệnh triệu tập là lên đường, đó là bản tính của Nguyễn Quốc Duy - Tổ trưởng Tổ an ninh trật tự (ANTT) thôn Mỹ Thạnh, xã Hàm Thạnh, tỉnh Lâm Đồng.

Ngăn chặn vấn nạn săn bắt chim di cư

Ngăn chặn vấn nạn săn bắt chim di cư

Để ngăn ngừa hành vi đặt bẫy, giăng lưới săn bắt động vật hoang dã (chim trời) mùa di cư, lực lượng Công an cơ sở ở các xã ven biển tỉnh Hà Tĩnh đã đồng loạt triển khai nhiều biện pháp thu gom, phá huỷ các bẫy chim trái phép đến bắt giữ, xử lý những trường hợp săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép.

Nuôi cá lòng hồ thuỷ điện, hướng sinh kế mới ở miền núi xứ Thanh

Nuôi cá lòng hồ thuỷ điện, hướng sinh kế mới ở miền núi xứ Thanh

Giữa mênh mông lòng hồ thủy điện Trung Sơn, những lồng cá nổi theo từng cụm đang mở ra một hướng sinh kế mới cho người dân vùng núi cao Thanh Hóa. Từ những hộ tiên phong ban đầu, đến nay nghề nuôi cá lồng ở Trung Sơn đã và đang ngày càng phát triển với gần 60 hộ dân tham gia, nhờ nuôi cá lồng (cá chép, cá lăng đen, cá rô phi…), nhiều gia đình có nguồn thu nhập ổn định…

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Đối với đồng bào Bru-Vân Kiều, văn hóa không chỉ hiện hữu trong những lễ hội được tổ chức theo mùa, những bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ hay âm thanh của cồng chiêng giữa đại ngàn. Văn hóa còn nằm trong từng làn điệu dân ca, tiếng sáo, tiếng đàn, trong cách làm một nhạc cụ và những nghi thức được người già truyền lại cho người trẻ. Đó là mạch nguồn âm thầm nuôi dưỡng bản sắc cộng đồng qua bao thế hệ.

Lời tuyên thệ ở Bentiu

Lời tuyên thệ ở Bentiu

Ngày 19/8, đúng dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, tại Bentiu, Nam Sudan, hai nữ quân nhân cùng công tác tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 7 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tiếng máy thuyền giữa đại ngàn

Tiếng máy thuyền giữa đại ngàn

Ở Hôi Rấy và Nước Đắng, hai bản người Bru-Vân Kiều nằm sâu dọc sông Long Đại, xã miền núi Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị, tiếng máy thuyền vọng lại từ phía hạ nguồn đã trở thành âm thanh quen thuộc với bà con. Giữa nơi còn biệt lập với bên ngoài, âm thanh ấy báo hiệu một chuyến thuyền đang ngược dòng lên bản.

Dòng sông "vàng" và những phận đời lam lũ

Dòng sông "vàng" và những phận đời lam lũ

Mỗi mùa khô, khi dòng Đakrông (Quảng Trị) rút nước, những doi cát và bãi đá lộ ra cũng là lúc hàng chục người dân Pa Cô, Vân Kiều lặng lẽ mang theo chiếc mâm sắt xuống sông đào đãi vàng sa khoáng. Sau những hạt vàng nhỏ bé là cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn, những khoảng lòng sông bị đào xới và nỗi trăn trở về sinh kế của đồng bào vùng cao.

Kỳ cuối: Cạm bẫy “công nghệ hóa” ma túy và sự chuyển hóa nhận thức

Kỳ cuối: Cạm bẫy “công nghệ hóa” ma túy và sự chuyển hóa nhận thức

Ẩn mình dưới hình hài những thiết bị điện tử nhỏ gọn, thơm tho mùi kẹo ngọt hay trái cây nhiệt đới, pod chill chứa Etomidate đang có nguy cơ càn quét vào các không gian giải trí của giới trẻ. Từ chỗ chỉ thử “cho biết” theo lời rủ rê, nhiều thanh thiếu niên đã nhanh chóng trượt dài thành kẻ nghiện ngập, thậm chí trở thành mắt xích tiếp tay cho tội phạm ma túy.

Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm. Đáng lo ngại hơn, hàng loạt lời quảng cáo dối trá “hút không lên test”, “que thử âm tính” đang khiến không ít người sập bẫy pháp lý và đối mặt với hiểm họa khôn lường về sức khỏe.

Mối tình của anh thương binh và một cô gái mồ côi

Mối tình của anh thương binh và một cô gái mồ côi

Câu chuyện cuộc đời và tình yêu của người thương binh nặng Nguyễn Văn Dũng (ngụ phường Phước Hội, tỉnh Lâm Đồng) với cô gái mồ côi vượt qua những năm tháng khó khăn đã trở thành một biểu tượng đẹp và nghị lực phi thường, như chuyện cổ tích về lòng nhân ái, đức hy sinh của những người phụ nữ với các thương, bệnh binh làm xúc động lòng người.

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Những lá thư gói trọn tình yêu, nỗi nhớ và khát khao mong chờ ngày đoàn tụ gia đình, gặp lại con thơ và người chồng yêu thương của Anh hùng LLVTND Lê Thị Riêng vẫn được người con trai của bà lưu giữ, bảo quản trang trọng trong trái tim và ký ức…

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Ở nhiều vùng quê của Quảng Trị, những người đến lấy mẫu sinh phẩm ADN cho thân nhân liệt sĩ không chỉ mang theo các thiết bị chuyên dụng, hồ sơ nghiệp vụ hay biểu mẫu thu nhận thông tin. Họ còn mang theo một lời hứa. Đó là sẽ cố gắng làm tất cả những gì có thể để thêm một người lính nữa được gọi đúng tên.

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Tháng Bảy trên miền đất thiêng Quảng Trị, nhiều cuộc tìm kiếm vẫn đang tiếp diễn. Có gia đình vừa đón được người thân trở về nhờ giám định ADN. Có những người vẫn băng rừng lần theo từng dấu tích chiến trường. Và cũng có những cuộc tìm kiếm đã khép lại từ một di vật tưởng chừng vô tri nằm dưới lòng đất hơn nửa thế kỷ.

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Khám phá công việc của cán bộ quản giáo và chiến sĩ thi hành án tại Gia Lai, những chiến công thầm lặng bảo vệ an ninh, cảm hóa người lầm lỗi.

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Tháng Bảy, khi hàng vạn người từ khắp mọi miền đất nước về Quảng Trị dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ, trên mảnh đất từng là chiến trường ác liệt này vẫn có những cuộc tìm kiếm lặng lẽ diễn ra. Có gia đình sau hơn nửa thế kỷ mới xác định được nơi người thân yên nghỉ nhờ giám định ADN. Có những người vẫn mang theo tấm sơ đồ cũ băng rừng, vượt suối để tìm cha. Mỗi cuộc tìm kiếm là một hành trình đi qua thời gian, nối quá khứ với hiện tại bằng khát vọng đưa những người lính trở về với gia đình và quê hương.

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Những ngày tháng Bảy, hàng vạn du khách từ khắp nơi trên mọi miền đất nước đã tìm về "địa chỉ đỏ" Khu di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) để tri ân, tưởng nhớ 10 liệt nữ TNXP và các anh hùng, liệt sĩ nhân dịp kỷ niệm 58 năm Chiến thắng Đồng Lộc (24/7/1968 - 24/7/2026) và 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2026).

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Dưới cái nắng oi ả của những ngày trung tuần tháng 7, tại Công viên Lê Thị Riêng (TP Hồ Chí Minh), không khí làm việc của Đội Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh diễn ra khẩn trương nhưng cẩn trọng và khoa học. Bên những hố đất sâu, có bóng dáng một người đàn ông năm nay đã 82 tuổi với cặp kính dày, đôi tay tỉ mỉ gạt từng lớp bùn đất, phân loại từng mẩu xương, từng di vật nhỏ…

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu trong quản lý Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - thuế, nơi yêu cầu cao về tính minh bạch, chính xác và kịp thời. Ngành thuế Việt Nam đang từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, số hóa quy trình quản lý nhằm xây dựng hệ thống thuế hiện đại, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.