977 ngày trong tay cướp biển Somali: Những cuộc đàm phán vô vọng

Moore kể: "Người đàm phán không hề cho tôi biết ông là ai nhưng tôi cảm nhận ông ta là người lạc quan, vui tính. Nghe ông nói, tôi cứ nghĩ tôi sẽ được tự do chỉ trong nay mai mặc dù Garfanji đã ra giá số tiền chuộc tôi là 20 triệu USD, số tiền mà gia đình tôi chẳng tài nào kham nổi"…

Tù đày

Đêm hôm đó, Moore ngủ khá ngon giấc nhờ cái cổ tay gãy đã được nẹp cố định. Nhưng gần sáng, anh và Tambara bị lôi dậy, ấn vào trong chiếc Land Rover. Tài xế chạy thục mạng, lao qua những bụi cây, những mô đất còn nhóm cướp biển trên xe thì vẻ mặt rất căng thẳng.

Moore nôn mửa vì phải uống nước bẩn.
Moore nôn mửa vì phải uống nước bẩn.

Qua lời bọn chúng trao đổi với nhau bằng thổ ngữ - được Tambara thì thào dịch lại thì mới hồi nửa đêm, một nhóm đặc nhiệm SEALs của Hải quân Mỹ đã nhảy xuống thị trấn Galkacyo từ trực thăng, bắn chết 9 tên cướp biển - trong đó có một tên là cháu ruột của trùm cướp biển Mohammed Garfanji, giải cứu thành công 2 con tin gồm một người Mỹ là Jessica Buchanan và một người Đan Mạch là Poul Thisted. Cả hai đều là tình nguyện viên của một tổ chức cứu trợ thuộc Liên Hiệp Quốc.

Một trong số những tên cướp biển áp giải Moore - được gọi là Ahmed Dirie, có hàm răng màu nâu xỉn, hơi thở nặng mùi, tay cầm khẩu trung liên RPD với dây đạn vàng chóe đeo quanh bụng, thỉnh thoảng lại nhìn chằm chặp vào Moore với sự kích động chưa từng thấy.

Moore kể: "Hắn và gã lái xe tên Muse tra hỏi tôi, rằng tôi có phải là người Mỹ không. Tôi trả lời tôi là công dân Đức nhưng qua nét mặt của Ahmed Dirie, tôi biết hắn không tin".  Một lúc nào đó, Muse bỗng la lên bằng thứ tiếng Anh giả cầy: "Máy bay trực thăng. Người Mỹ". Câu nói ấy khiến Moore hiểu rằng theo suy nghĩ của bọn cướp biển, việc giải cứu thành công con tin Jessica Buchanan chắc cũng sẽ được biệt kích Mỹ tiến hành với Moore.

Khoảng 9 giờ, chiếc Land Rover dừng lại ở một thung lũng được che phủ bởi những loại cây rừng và vô số các bụi rậm. Lần này, chúng trải tấm vải mỏng cạnh một bụi cây rồi ra lệnh cho Moore cùng Tambara ngồi xuống. Do lúc bắt Tambara, bọn cướp biển nhìn thấy dòng chữ "Aride - Victoria" viết trên mũi thuyền của ông nên Ahmed Dirie quả quyết Tambara là người Australia.

Gã nói: "Mày không phải là dân châu Phi vì da mày quá sáng, tóc mày cũng không xoăn". Tambara giải thích ông là người Seychelles, một hỗn hợp giữa người Pháp, người Anh, người Trung Quốc và thổ dân bản địa, còn Victoria là tên một cảng biển ở quần đảo Seychelles nhưng Ahmed Dirie vẫn nói: "Dù Australia hay Mỹ, mỗi thằng chúng mày đáng giá 20 triệu USD".

Một tàu hàng dùng vòi rồng để ngăn không cho xuồng cao tốc của bọn cướp biển Somalia tiếp cận.
Một tàu hàng dùng vòi rồng để ngăn không cho xuồng cao tốc của bọn cướp biển Somalia tiếp cận.

Nghe Dirie nói xong, Moore biết rằng bọn cướp biển bắt anh là để đòi tiền chuộc vì chúng chụp hình anh rất nhiều, và có lẽ chúng đã liên lạc với gia đình anh qua địa chỉ mà chúng thu được từ sổ tay, bằng lái xe cũng như hộ chiếu của anh. Đến trưa, sau bữa ăn, Tambara hỏi Moore 20 triệu USD là bao nhiêu? Mất một lúc nghe Moore giải thích, Tambara mới hiểu với số tiền ấy, ông có thể mua nhà, mua xe hơi và thậm chí là mua cả một con thuyền đánh cá hiện đại. Tần ngần, Tambara hỏi tiếp: "Nhưng ai sẽ là người trả 20 triệu USD để chuộc tôi?".

Cuộc đột kích của nhóm đặc nhiệm SEALs để cứu Buchanan và Thisted đã khiến bọn cướp biển giam giữ Moore và Tambara ở thung lũng suốt nhiều ngày sau đó. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn hiếm hoi với hãng tin AP (Associated Press) vào cuối tháng 6-2012, khi được hỏi Moore hiện có ở Somalia không, kẻ cầm đầu nhóm cướp biển là Duulaay nói: "Giam giữ con tin ở một vị trí cố định là không an toàn vì bây giờ chúng tôi sẽ là mục tiêu tiếp theo của lính Mỹ".

Đôi lần, Moore thấy một chiếc máy bay lớn màu trắng, cánh và thân sơn cờ hiệu của Hải quân Mỹ lướt sát ngọn cây mà về sau, anh mới biết đó là máy bay trinh sát P-3 Orion. Những lần như vậy, bọn cướp biển bắt anh và Tambara nằm úp mặt xuống đất, lá cây phủ kín người. Duulaay dọa: "Nếu bọn Mỹ đến, mày sẽ là thằng chết đầu tiên".

Cũng cuối tháng 6, những cơn mưa nhiệt đới bắt đầu trút nước, kéo dài lê thê từ ngày này sang ngày khác và thung lũng cũng bắt đầu có dấu hiệu ngập lụt thì bọn cướp biển đưa Moore và Tambara về lại làng Hobyo.

Một đêm, sau khi một tên cướp biển chụp cho Moore mấy tấm hình, anh bị lôi lên chiếc Land Rover. Tên cầm súng đi theo canh giữ Moore cho biết anh sẽ được đưa đến gặp ông trùm cướp biển Mohammed Garfanji.

Moore kể: "Ba năm trước, lúc bắt đầu viết những bài báo về nạn cướp biển, tôi đã nghe nói rất nhiều về nhân vật tàn bạo này nhưng chưa bao giờ tôi nhìn thấy mặt mũi Garfanji - dù chỉ là qua hình ảnh chứ nói gì đến chuyện gặp trực tiếp".

Cuộc gặp gỡ diễn ra trong bóng tối, dưới một bụi cây rậm. Garfanji ngồi xếp bằng tròn, nói với chất giọng lanh lảnh như giọng trẻ con. Ông ta đang trò chuyện với một người Mỹ qua điện thoại vệ tinh mà sau đó, Moore mới biết là một nhà đàm phán.

Có vẻ như Garfanji cố ý để cho Moore nghe được nội dung của cuộc trò chuyện vì số tiền 20 triệu USD được ông ta nhắc đến nhiều lần. Dưới ánh sáng trắng nhạt, mờ ảo, phát ra từ màn hình của chiếc điện thoại, khuôn mặt đen bóng của Garfanji nhìn khá hiền từ, trái ngược với những hành vi man rợ của bọn hải tặc mà ông ta trực tiếp ra tay chỉ đạo.

Một lúc sau đó, Garfanji đưa chiếc điện thoại cho Moore, ra dấu bảo anh hãy nghe đi. Giây lát, anh nhận ra cách phát âm hơi nặng của người sinh trưởng ở miền nam nước Mỹ: "Người vừa đưa cho bạn điện thoại là Mohammed Garfanji. Họ không đánh đập bạn hoặc làm điều gì tương tự như thế, đúng không?"

Máu trong cơ thể Moore như đông lại. Anh trả lời: "Không" mặc dù anh rất muốn nói rằng gã chỉ huy nhóm cướp biển là Ali Duulaay đã nhiều lần đánh anh mỗi khi gã bảo anh làm một điều gì đó bằng thổ ngữ mà anh chẳng tài nào hiểu nổi.

Moore kể: "Người đàm phán không hề cho tôi biết ông là ai nhưng tôi cảm nhận ông ta là người lạc quan, vui tính. Nghe ông nói, tôi cứ nghĩ tôi sẽ được tự do chỉ trong nay mai mặc dù Garfanji đã ra giá số tiền chuộc tôi là 20 triệu USD, số tiền mà gia đình tôi chẳng tài nào kham nổi".

Cuộc trò chuyện giữa Moore và người thương thuyết chỉ kéo dài trong vài phút, chủ yếu là hỏi thăm sức khỏe, chế độ ăn uống cùng những lời động viên. Sau đó, ông ta kết nối điện thoại để Moore gặp mẹ anh ở bang California. Moore nhớ lại: "Tôi tưởng như mẹ tôi đang ở bên cạnh tôi khi bà cất tiếng nói. Bà không khóc, chỉ khuyên tôi cố gắng sống sót và gia đình đang làm mọi cách để mang tôi về.

Sau cuộc điện đàm, Garfanji lấy ra một chiếc điện thoại khác rồi kết nối với  mạng Internet. Chẳng hiểu vô tình hay cố ý mà ông ta lại vào đúng trang web của Đài Al-Jazeera, lúc ấy đang phát đi bản tin nói về cuộc đột kích của đặc nhiệm Hải quân Mỹ vào thị trấn Galkacyo để giải cứu con tin Buchanan. Nghe xong đoạn đầu của bản tin, ông ta quay sang Moore, gằn giọng: "Những người của anh đã giết chết 9 tay súng của tôi. Nếu họ lặp lại điều này để hòng giải thoát anh thì anh sẽ là người chết trước". Moore hỏi: "Vậy con tin Buchanan thế nào?". Garfanji cười khẩy: "Chết tốt. Một sư đoàn lính Mỹ cũng chẳng làm gì được huống hồ vài thằng biệt kích nhãi ranh".

Lúc này, Đài Al-Jazeera đang phát đi phần sau của bản tin. Cả Moore lẫn Garfanji đều nghe thấy tiếng nói của xướng ngôn viên: "…Cuối cùng, cả Buchanan và Poul Thisted đều được lực lượng SEALs giải thoát. Hiện cả hai đã an toàn tại một căn cứ Mỹ ở Djibouti và sẽ trở về Mỹ trong thời gian sớm nhất…". Buột miệng văng tục, gã trùm cướp biển Garfanji ném chiếc điện thoại xuống đất rồi đứng dậy, biến vào bóng đêm.

Trở lại ngôi làng Hobyo, đêm hôm đó Moore thức trắng. 9 tên cướp biển bị giết sẽ gây thêm phức tạp cho cuộc đàm phán. Bên ngoài, những tên canh gác ngồi quanh một tấm thảm, rì rầm trò chuyện với nhau. Moore rất ngạc nhiên, anh không hiểu chúng ngủ vào lúc nào bởi lẽ cứ hễ anh lên tiếng xin đi vệ sinh là có thằng mở cửa ngay.

Mãi về sau, Moore mới biết chúng thường xuyên nhai lá "khat" - một loại lá cây tương tự như lá coca ở Nam Mỹ, chứa chất ma túy amphetamin, có tác dụng kích thích sự tỉnh táo, chống buồn ngủ, làm mất cảm giác đói và cảm giác sợ hãi. Chả thế mà Bashko, một tên cướp biển canh giữ Moore từng có lần nói với anh: "Lá khat là một loại bia của Somalia. Nhai thứ này vào, bọn Mỹ chúng mày chỉ là mấy con kiến".

Những ngày đáng sợ

Cuộc sống cầm tù ở làng Hobyo trôi qua trong thê thảm. Cái đói luôn giày vò Moore. Giữa tháng 7, Moore thường xuyên nghe tiếng máy bay trinh sát P-3 Orion lướt sát trên đầu. Anh kể: "Nó mang lại cho tôi niềm hy vọng" nhưng bọn canh gác thì khác. Cứ thấy tiếng ù ù là chúng bắt anh nằm úp mặt xuống đất vì chúng nghĩ rằng các thiết bị tinh vi của người Mỹ có thể xác định vị trí giọng nói của Moore.

Đến cuối tháng 9, bọn hải tặc cướp được một tàu câu cá ngừ ở ngoài khơi Ấn Độ dương rồi đưa nó về, neo ở bãi biển cạnh làng Hobyo. Một đêm, nghe tiếng máy bay lướt sát trên đầu, chúng bảo Moore và Tambara lên tàu rồi chạy vòng vèo ngoài biển.

Trước máy quay phim, Moore kêu gọi gia đình nhanh chóng mang anh về.
Trước máy quay phim, Moore kêu gọi gia đình nhanh chóng mang anh về.

Qua câu chuyện bọn cướp biển trao đổi với nhau mà Tambara nghe lỏm được rồi dịch lại cho Moore,  thì hình như người Mỹ đã phát hiện chỗ giam giữ con tin, và đang chuẩn bị tấn công giải cứu. Moore kể: "Chúng đưa tôi lên tàu ra biển vì chúng nghĩ rằng trực thăng đổ quân xuống một con tàu đang lắc lư, chòng chành thì khó hơn là đổ quân xuống đất".

Lênh đênh trên biển suốt 2 tuần, Moore và Tambara lại được đưa về làng Hobyo nhưng khi đến nơi, chúng chuyển Tambara đi chỗ khác. Lúc bước vào căn nhà bẩn thỉu, một gã cướp biển có hàng răng thưa, tên là Bakayle nói với Moore rằng "sắp nhận được vé máy bay". Theo Moore, đó là một trò đùa cay đắng và những ngày tiếp theo sẽ là những ngày đáng sợ nhất đời anh.

Moore kể: "Một hôm, chúng lùa tôi lên xe, chạy suốt cả tiếng đồng hồ. Đến một khu vực rậm rạp, nơi có một chiếc xe khác với một nhóm các tay súng Somalia đang đợi sẵn, trong đó có cả ông ngư phủ Tambara hai tay bị trói chặt. Giây lát, nhóm Somalia dẫn Tambara đi về phía sau một lùm cây rậm. Tôi hỏi Bakayle, tên cướp biển nói tiếng Anh thạo nhất, rằng Tambara và tôi bị đưa đến đây để làm gì? Bakayle trả lời "Chẳng có gì" nhưng ngay sau đó, tôi nghe tiếng Tambara rú lên, đau đớn".

Chẳng phải đợi lâu, Bakayle ra dấu cho Moore đi về phía bụi cây, nơi có  gần chục tên cướp biển đội khăn trùm đầu với súng chống tăng B40 và tiểu liên AK, đứng, ngồi rải rác. Hầu hết đều lớn tuổi. Chúng nhìn Moore với ánh mắt dọa dẫm. Trước mặt Moore, Tambara chỉ mặc có mỗi chiếc quần bằng sợi bông, bị treo ngược lên một cành cây, đầu chúi xuống đất. Một tên cướp biển da đen bóng, cầm cây gậy tre liên tục quất mạnh vào người ông. Hai tên khác "ăn theo" bằng những cú đá vào mạng sườn lão ngư phủ. Cạnh đó là trùm cướp biển Mohammed Garfanji.

"Xin chào Michael. Anh nhớ tôi không? Lão già này bị trừng phạt vì lão không thừa nhận là người Israel".

"Chúa ơi!" Moore kêu lên: "Ông ấy không phải Israel. Ông ấy là Seychelles". Garfanji cười khẩy: "Tôi đã tìm thấy bằng chứng trên Internet!".

Cao Trí (theo History - Michael Scott Moore - Three years as a hostage)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.