Vẫn tiếng làng, tiếng nước của riêng ta

Lưu Quang Vũ không chỉ nổi tiếng là nhà viết kịch tài năng mà còn là thi sĩ có những bài thơ được bạn đọc nhớ lâu như "Vườn trong phố", "Tiếng Việt"… Tôi đọc bài "Tiếng Việt" đã lâu, nay vẫn thích bởi thi phẩm có tính khái quát cao, độ xúc cảm sâu và lấp lánh nhiều thi ảnh. 

Tiếng Việt, thứ ngôn ngữ đa thanh có sức biểu đạt phong phú mang trong nó những trầm tích lịch sử, văn hóa lâu dài và cực kỳ bền vững của dân tộc mình. Đó chính là "Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt", là tấm chứng minh thư của con cháu Rồng Tiên khi bước ra với nhân loại bao la. Tiếng Việt, nói như Lưu Quang Vũ muôn đời "Vẫn tiếng làng, tiếng nước của riêng ta".

Cái hay của bài thơ là thông qua hình tượng "Tiếng Việt", đất nước và nhân dân hiện lên thật gần gũi, thân thiết. Một không gian thuần Việt chứa đựng những thăng trầm của dân tộc, vừa anh hùng vừa bi thương, khi hiền hòa khi giông bão, lúc binh đao lúc thái bình. Khi tiếng Việt cất lên ta nghe trong đó nhiều cung bậc của cuộc sống mà trước hết là lòng yêu đất nước, quê hương được gìn giữ, truyền lưu từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Tình yêu Tổ quốc bắt đầu từ những cái cụ thể, thân quen nhất: "Tiếng Việt gọi trong hoàng hôn khói sẫm/ Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về/ Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm/ Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre". Đấy chính là làng quê Việt gắn liền với nền văn minh lúa nước đằng đẵng mấy nghìn năm, nói bao nhiêu cũng không hết được những cơ cực, tảo tần: "Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng/ Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya/ Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng/ Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê".

Nhà thơ Lưu Quang Vũ và bản thảo viết tay bài thơ “Tiếng Việt”.
Nhà thơ Lưu Quang Vũ và bản thảo viết tay bài thơ “Tiếng Việt”.

Tiếng Việt khởi nguồn và lan tỏa cùng với công cuộc dựng nước, giữ nước của nhân dân, cùng những dấu yêu, thương mến nảy nở sinh sôi trong từng gia đình, làng xã để Tổ quốc văn hiến mãi mãi được sinh tồn, mãi mãi phát triển dù phải trải qua bao cuộc bể dâu, binh biến kinh hoàng.

Bằng những hình ảnh thơ đầy ám ảnh, Lưu Quang Vũ đã nói lên được điều đó: "Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa/ Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi/ Tiếng mưa dội ào ào trên mái cỏ/ Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời/ "Đá cheo leo trâu trèo trâu trượt"/ Đi mòn đàng dứt cỏ đợi người thương/ Đây muối mặn gừng cay lòng khế xót/ Ta như chim trong tiếng Việt như rừng". Chất dân gian thấm đẫm mỗi câu thơ, rưng rưng ngấm vào từng âm thanh, hình sắc, mùi vị. Câu "Ta như chim trong tiếng Việt như rừng" thật tài hoa bởi thủ pháp so sánh vừa lạ, vừa đẹp.

Lưu Quang Vũ đã làm được một điều rất khó là phác họa những đặc trưng ngôn ngữ Việt bằng thơ. Đó là thứ tiếng tuy ngữ pháp khó như "phong ba bão táp" nhưng sức biểu đạt của nó rất phong phú lại giàu tính họa, tính nhạc. Thứ tiếng mà người nước ngoài cho là ríu rít như chim, bổng trầm như hát khi nghe ta nói: "Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói/ Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ/ Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ/ Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát/ Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh/ Như gió nước không thể nào nắm bắt/ Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh./ Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy/ Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn/ Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối/ Tiếng heo may gợi nhớ những con đường".

Tiếng Việt thân thương ấy có ở khắp rộng dài đất nước. Có thể xem nó cũng là "dấu mốc" xác lập chủ quyền và chứng tích lịch sử Việt Nam. Ngôn ngữ nghe như hát ấy đã thể hiện bản lĩnh, khí phách, tâm hồn, cốt cách Việt. Ngôn ngữ ríu rít như chim hót ấy cũng làm nên một nền văn chương Việt với ngôi sao sáng nhất mang tên đại thi hào Nguyễn Du.

Từ bể khổ trần gian, ánh sáng nhân văn hửng phát bằng những câu lục bát rất Việt: "Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" của Tố Như. Nguồn cội của lòng nhân ái phải chăng cũng là câu ca dao đầy Việt tính "Thương người như thể thương thân" này.

Chính vì thế, mà ta đồng cảm sâu sắc với Lưu Quang Vũ qua những câu thơ xuất sắc của ông: "Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng/ Vẫn tiếng làng, tiếng nước của riêng ta/ Tiếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất/ Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già./ Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng/ Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi/ Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán/ Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời…".

Lịch sử và văn học Việt Nam có rất nhiều sự kiện, tác giả nhưng Lưu Quang Vũ đã có lý khi chỉ chọn truyền thuyết về Cổ Loa thành thời An Dương Vương với bi kịch Mỵ Châu và người viết "Đoạn trường tân thanh" bất hủ Nguyễn Du. Thật điển hình và tinh tế làm sao; hình như nhà thơ đã gửi gắm nhiều tâm sự kín đáo vào hai con người nổi tiếng ấy.

Nỗi buồn của lầm lỗi trắng trong, nỗi đau nhân thế của một tài hoa bạc mệnh. Bi kịch của một người cũng là bi kịch của dân tộc trong những thời đoạn lịch sử éo le, ngặt nghèo chăng? Dân tộc chưa bao giờ thanh toán hết những bi kịch lịch sử, cơ cực của muôn kiếp chúng sinh vẫn diễn ra thì nỗi thương đời vẫn vằng vặc Nguyễn Du.

Bài thơ lại được mở thêm những vùng miền mới. Liên tưởng tiếp nối những liên tưởng vừa tạo ra độ mở về nội dung vừa cung cấp cho người đọc những thi ảnh mới, đẹp. Tiếng Việt vang lên trong mỗi nhà: "Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay"; tiếng Việt ngân bay giữa bao la mây nước, thôn mạc, núi non: "Buồm lộng sóng xô, mai về nhớ trúc" và kết dệt nên hồn dân tộc Việt trong trẻo. Tiếng Việt kết nối lòng người; xa gần, cao thấp xích lại bên nhau trong nghĩa đồng bào, bè bạn: "Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết/ Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi/ Như vị muối chung lòng biển mặn/ Như dòng sông thương mến chảy muôn đời".

Tiếng Việt là sự chuyển lưu, tiếp nối, gìn giữ, bổ sung của nhiều thế hệ, vì thế nó là tài sản vô giá của dân tộc. Trong thời đại ngày nay, khi sự giao lưu hội nhập quốc tế là xu hướng không thể cưỡng được, người ta có thể sử dụng những ngôn ngữ khác trong giao tiếp, công việc nhưng tiếng Việt vẫn phải là phần bảo lưu quan trọng, thiêng liêng trong mỗi chúng ta: "Ai thuở trước nói những lời thứ nhất/ Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu/ Điều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt/ Ai người sau nói tiếp những lời yêu?".

Và, tiếng Việt mãi là công cụ gắn kết những con người Việt lại với nhau trên tinh thần hòa hợp dân tộc chân thành thực sự. Lưu Quang Vũ từ mấy chục năm về trước đã tâm huyết nói lên điều đó, như một nhận thức, một suy ngẫm, một tình yêu đúng đắn: "Ai phiêu bạt nơi chân trời góc bể/ Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya/ Ai ở phía bên kia cầm súng khác/ Cùng tôi trong tiếng Việt quay về".

Như muôn người yêu nước thương dân khác, Lưu Quang Vũ cũng mắc nợ tiếng Việt suốt đời. Không chỉ mắc nợ với ngôn ngữ mẹ đẻ mà đây còn là mắc nợ với những ân tình của đất nước, của nhân dân đã dành cho mình. Món nợ này vừa vô hình vừa cụ thể, đau đáu giữa lòng ta từ những yêu thương và khát vọng đẹp đẽ  cho Tổ quốc thân yêu:

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá, môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi, tiếng Việt ân tình.

Chẳng còn gì đúng hơn thế nữa, xưa kia, hôm nay và mai sau, trên dòng thời gian thăm thẳm, giữa hành tinh xanh này, Tiếng Việt mãi mãi "Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta"…

Nguyễn Hữu Quý

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.