Văn hào Ernest Hemingway và hệ quả của trò chơi gián điệp

Với tiểu thuyết “Ông già và biển cả” ra mắt độc giả năm 1952, văn hào Ernest Hemingway trở thành chủ nhân của Giải thưởng Pulitzer, giải thưởng báo chí và văn học uy tín nhất nước Mỹ, vào năm 1953. Một năm sau đó, ông đoạt Giải Nobel Văn học. Nhưng có một góc khuất ít ai biết được rằng, ông từng có thời gian hoạt động tình báo cho Mỹ và được Cơ quan Tình báo Liên Xô (KGB) tuyển mộ.

Có phải chính vì lối sống không che giấu quan điểm thiên tả của mình mà quãng thời gian cuối đời, E. Hemingway đã bị đặt vào tầm ngắm của FBI trong một thời gian dài và căng thẳng đến độ ông phải tìm đến cái chết?

Nhà văn Hotchner (bên trái ảnh) và E. Hemingway trong một chuyến đi săn ở Ketchum, bang Idaho.
Nhà văn Hotchner (bên trái ảnh) và E. Hemingway trong một chuyến đi săn ở Ketchum, bang Idaho.

Giữa những năm 1990, khi còn là nhân viên KGB, Alexander Vasiliev có điều kiện ra vào kho lưu trữ hồ sơ của cơ quan tình báo Liên Xô để đọc và nghiên cứu tài liệu. A. Vasiliev phát hiện văn hào người Mỹ Ernest Hemingway từng được KGB tuyển mộ vào năm 1941. Tài liệu lưu trữ của KGB còn giữ lại những ghi chép về việc Hemingway "đã không chỉ một lần bộc lộ ước muốn và sự sẵn sàng giúp đỡ chúng ta" khi gặp các điệp viên KGB ở La Habana (Cuba) và London (Anh).

Sau này, Vasiliev di cư sang Anh. Dựa trên những trang hồ sơ mật chụp trộm được trong kho lưu trữ của KGB khi xưa, Vasiliev cùng hai nhà sử học người Mỹ là John Earl Haynes và Harvey Klehr, đã cho ra mắt cuốn sách: “Điệp viên: Bước đường thăng trầm của KGB tại Mỹ” (Spies: The Rise and Fall of the KGB in America).

A.Vasiliev khẳng định: Hemingway nằm trong danh sách điệp viên của KGB với mật danh “Argo”. Năm 1941, Trung tâm KGB điện cho một điệp viên KGB đang hoạt động ở New York (Mỹ) với mật danh Maxim yêu cầu điệp viên này hỗ trợ “Argo” sang Trung Quốc. Đúng là năm đó Hemingway có đi Trung Quốc nhưng KGB vì lẽ gì đó lại không tiến hành liên lạc với E. Hemingway tại đây. E. Hemingway đã không được giao bất cứ một nhiệm vụ thực tế nào và ông cũng chưa kịp cung cấp cho KGB bất cứ một thông tin nào giá trị.

Từ năm 1943-1945, Hemingway đã có khá nhiều cuộc tiếp xúc với các nhân viên tình báo Liên Xô. Một số trong các cuộc tiếp xúc đó là để KGB đánh giá xem “liệu E.Hemingway có khả năng làm việc cho Moscow không”. Đáng tiếc là sau khi nhân viên tình báo Liên Xô phụ trách việc liên lạc với “Argo” bị triệu hồi khẩn cấp về nước, KGB đã không thể thúc đẩy, làm sâu sắc thêm mối quan hệ với Hemingway.

Trò săn tàu ngầm Đức của E. Hemingway đề xướng là để… moi tiền chính phủ Mỹ nhằm thoả chí tang bồng trên biển?
Trò săn tàu ngầm Đức của E. Hemingway đề xướng là để… moi tiền chính phủ Mỹ nhằm thoả chí tang bồng trên biển?

5 năm sau, KGB đã phái người đi thăm dò tin tức và khuynh hướng chính trị của E.Hemingway. “Trung tâm” nhận được báo cáo: “Argo thường lấy diễn đàn báo chí bày tỏ quan điểm ủng hộ các phần tử Trotsky và hay lên tiếng đả kích Liên Xô trong các bài viết của mình”. Quan hệ giữa Hemingway và KGB tới đây là kết thúc, trong cuốn sách của mình, A.Vasiliev không thể đưa ra câu kết luận vì những tài liệu liên quan mà ông được đọc cũng không có ghi chép gì thêm và dừng vào đầu những năm 1950.

Cũng trong năm 1941, sau sự kiện Mỹ bị quân phiệt Nhật bất ngờ tấn công ở Trân Châu Cảng, buộc Mỹ tuyên bố chính thức tham chiến, E. Hemingway khi đó đang ở La Habana (Cuba), đã tới gặp Đại sứ Mỹ tại Cuba S. Braden, thuyết phục ông này tài trợ kinh phí cho kế hoạch săn tàu ngầm phát xít Đức. Hàng ngày Hemingway và những người bạn cùng chí hướng lên chiếc tàu đánh cá hiệu Pillar ra vịnh Caribbean. Ông chất đầy đạn dược và chất nổ lên chiếc thuyền của ông, rồi rong ruổi trên biển “săn” tìm tàu ngầm của địch. Kế hoạch của Hemingway là dụ cho tàu ngầm nổi lên mặt nước.

Một khi phát hiện tàu ngầm Đức, họ sẽ dùng súng máy tấn công, rồi áp sát thả lựu đạn vào cửa thông hơi của tàu ngầm. Tuy nhiên, không có chiếc tàu ngầm nào bị mắc bẫy của Hemingway. Một năm sau, Hemingway quyết định từ bỏ kế hoạch săn tàu ngầm Đức, một phần vì những chuyến ra khơi công cốc, một phần do Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) nghi ngờ Hemingway và “đồng bọn” bày trò săn tàu ngầm Đức để moi tiền chính phủ nhằm thoả chí tang bồng trên biển, nên Đại sứ Braden cắt nguồn tài trợ.

Tháng 3-2007, Nhà xuất bản Potomac (Mỹ) ấn hành quyển sách “Hemingway ở tiền tuyến Trung Quốc” (Hemingway on the China Front). Trong cuốn sách này, tác giả Peter Moreina lần đầu tiên cho công bố bức thư của E. Hemingway gửi Bộ trưởng Tài chính Mỹ khi đó, ông Henry Morgethau. Bức thư dài tới 6 trang, đề ngày 30-7-1941, được lưu trữ tại thư viện Princeton.

Trong thư, E.Hemingway cho biết, trước khi ông đi Trung Quốc, một người đàn ông tên là White đã tới gặp và yêu cầu ông lưu ý tới tình hình tại đây. Khi đặt chân đến Trung Quốc, mặc dù phần lớn thời gian văn hào du hí và làm bạn với… rượu, nhưng Hemingway vẫn không quên lời căn dặn của White.

Ông chủ động bắt chuyện với nhiều nhân sĩ địa phương để moi tin. Martha Gellhorn, người vợ thứ 3 của ông cho rằng, trong thời gian ở Trung Quốc, E.Hemingway đã làm tốt vai trò của một điệp viên thu thập tin tức tình báo cho nước Mỹ hơn là vai trò của một nhà văn phiêu lưu mạo hiểm. Sự thật này được củng cố một lần nữa khi ngày 14-8-2008, Cục Lưu trữ quốc gia Mỹ cho công bố một tài liệu mật cho thấy trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Cục Tình báo chiến lược Mỹ (OSS, tiền thân của Cục Tình báo trung ương Mỹ – CIA) có trên 20.000 nhân viên, trong đó có E.Hemingway và con trai của ông- John Hemingway.

Từ đây, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử lần ra nhiều điều bí ẩn trong mối quan hệ giữa văn hào đoạt giải Nobel với FBI. Năm 1960, Hemingway phải đi điều trị chứng rối loạn thần kinh tại Viện điều dưỡng Los Hermanos Mayo theo lời khuyên của một bác sĩ tâm thần người Mỹ.

Trước đó, bạn bè cũng khuyên ông nên tìm gặp một bác sĩ thần kinh, do họ thường xuyên nghe E. Hemingway tâm sự với tâm trạng nặng nề là bọn “đặc vụ FBI đang theo dõi tôi”. Nhà văn A.Hotchner, một người bạn vong niên và là người cộng tác trong suốt 13 năm cuối đời của nhà văn đã trần tình rằng, việc FBI theo dõi nhà văn Hemingway đã làm ông quẫn trí.

Theo nhà văn Hotchner, những ngày cuối trước khi tự vẫn, nhà văn Heningway đã có những biểu hiện và hành vi không bình thường. Ông liên tục hốt hoảng và phát ra những câu nói rất khó hiểu. .

Hotchner viết: Vào tháng 11-1960, ông đến thăm vợ chồng tại nhà riêng của họ ở Ketchum, bang Idaho và cùng nhau đi săn chim trĩ. Hotchner nhớ là đã thấy Hemingway liên tục nói đến việc "họ theo sát tôi", và khi được hỏi "họ là ai?" thì nhà văn bảo rằng "họ là FBI". Hemingway bảo rằng, xe của ông, điện thoại của ông đều bị gắn bọ nghe lén, thư từ bị đọc trộm.

Hemingway nhắc đến chi tiết có 2 kiểm toán viên đã kiểm tra tài khoản ngân hàng của ông vào nửa đêm. Khi nhìn thấy những người đàn ông ngồi trong quán bar, tại quầy báo ga xe lửa hay tại những tiệm ăn mà ông và những bạn văn của mình đến, Hemingway đều cho rằng đó là những đặc vụ FBI. Chuyện này lặp đi lặp lạo nhiều lần đến nỗi Hotchner từng cho rằng đây là biểu hiện của bệnh hoang tưởng. Thực tế, đúng là Hemingway đã bị các nhân viên đặc vụ của FBI theo dõi và giám sát trong một thời gian dài theo lệnh của Giám đốc FBI Edgar Hoover, người từng liệt Hemingway vào loại “Kẻ thù số 1”.

Hồ sơ FBI giải mật năm 1980 theo Luật Tự do thông tin cho thấy Giám đốc Edgar Hoover rất quan tâm theo dõi Hemingway. Đáng lưu ý, trong 120 trang hồ sơ giải mật của FBI có đến 15 trang bị kiểm duyệt bôi đen vì chứa những thông tin nhạy cảm, không thể công bố trước công chúng.

Theo các hồ sơ giải mật thì Hoover đã ra lệnh cho các đặc vụ FBI theo dõi sát nhà văn Hemingway từ năm 1945, khi ông tìm cách lập "mạng lưới tình báo chống phát xít mang tên Crook Factory", cả khi ông neo chiếc du thuyền Pilar ngoài khơi Cuba, và nhất là khoảng thời gian ông đến sống tại Cuba vào các năm 1957 và 1959, 1960. Việc theo dõi kéo dài cho đến khi Hemingway qua đời.

Jeffrey Meyers - nhà nghiên cứu về Hemingway - cho biết, ngay cả khi bị bệnh tâm thần nặng phải nhập viện điều trị tại Viện Điều dưỡng Mayo tháng 11-1960, những y, bác sĩ điều trị bệnh xung quanh Hemingway cũng đều là những người được bí mật giao nhiệm vụ theo dõi Hemingway. Đến tháng 1-1961, ông được cho xuất viện trong tình trạng "suy sụp nặng". Một đặc vụ khi đó đã báo cáo vắn tắt với Hoover rằng "Hemingway đã bệnh nặng cả về thể chất lẫn tinh thần”.

Q.H. (tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.