Từ quan đến dân

Nói gì thì nói, đọc từ điển cũng là một cái thú. Quyển sách dày cộm, nhìn thấy oải, mà lúc đọc, y thích nhất vẫn là nằm dài trên giường vắt chân chữ ngũ nhưng sách nặng quá e cũng khó cầm, thôi thì, cứ đặt nó trên bàn và đọc nhảy cóc, tức không theo thứ tự số trang, lật trang nào ngấu nghiến trang đó. Thú lắm.

Hồi nào lên ngựa xuống xe

Kêu dân, dân dạ, bây giờ dạ dân.

Nói một cách nôm na, dân là những người chung sống trong một khu vực địa lý; chẳng có chức tước gì, chẳng xênh xang võng lọng, lên ngựa xuống xe (như quan/ quan lại), sống cuộc đời bình dị, tay làm hàm nhai, chứ không cậy nhờ vào bổng lộc nào khác. 

Mà dân còn dùng để chỉ hạng người chung một giới, cùng hoàn cảnh, nghề nghiệp như dân làm báo, dân buôn bán… Ngày trước có từ phổ biến là tứ dân - nhằm chỉ bốn thứ dân: sĩ, nông, công, thương nhưng dân tứ chiếng lại là dân từ nhiều nơi khác hội tựu, về sau còn nhằm chỉ hạng giang hồ, dao búa bặm trợn, gần như dân bụi đời, dân lựu đạn, dân anh chị, dân du côn du kề, ba bứa…

Về dân anh chị, người miền Nam và miền Bắc, từ những năm 20 thế kỷ XX đã hiểu khác nhau nên mới xảy ra ngộ nhận đáng tiếc. Lúc những người dân cu li, nghèo đói từ Bắc vào Nam làm phu trong đồn điền cao su, sau khi hỏi họ tên, quê quán, tên cai lại hỏi anh A: “Mày có anh chị không?”, người phu thật thà: “Có”. Ngay lập tức hắn tát ngay vào mặt một cú như trời giáng, rồi quay sang mắng luôn bà mẹ anh A: “Con cái của bà anh chị à? Thế thì tôi phải trị thẳng tay, rõ chưa?”. Dân anh chị là loại đầu gấu, sống nghề dao búa, giang hồ cờ bạc, bợm bãi…

Ảnh L.G
Ảnh L.G

Còn dân chơi thì sao? Nếu chịu khó tra từ điển ắt ta cũng tìm ra định nghĩa, dù hiếm hoi, chẳng hạn “Phương ngữ Nam Bộ” (NXB Hội Nhà văn – 2015) của nhà nghiên cứu Nam Chi Bùi Thanh Kiên giải thích, đó là “kẻ du thủ du thực, chỉ biết ăn chơi cho thỏa thích”. 

Thiết nghĩ, chưa hẳn đúng, phải tùy theo trường hợp cụ thể. Chẳng hạn khi nhìn về quý ngài xài tiền như nước, gái gú hà rầm, biết ngóc ngách, tường tận các thú vui/ thú chơi của dân thượng lưu cỡ như Hắc, Bạch công tử thuở xưa, dù xứng đáng gọi dân chơi nhưng chắc gì đã “du thủ du thực”? 

Không rõ từ “dân chơi” xuất hiện từ thời nào? Nhưng rõ ràng ở Sài Gòn có câu cửa miệng Dân chơi cầu Ba Cẳng. Có thể hiểu đó là cụm từ nhằm chỉ những ai dù tự nhận dân chơi nhưng lại chơi không đẹp, chơi nhếch nhác, chơi chịu… Mà đã chơi hẩu lốn, tầm xàm ấy, chẳng trách gì thiên hạ mỉa mai: “Dân thường chơi đẹp, đè bẹp dân chơi”!

Dân, có nhiều loại dân.

Có những từ liên quan đến dân, nay không còn thông dụng, nếu còn chỉ… trong tác phẩm văn học, chẳng hạn, “dân đinh” là dân đến tuổi phải đóng thuế; hoặc dân tuần/ dân canh tức thanh niên được cắt cử canh tuần trong làng xóm, nay gọi dân phòng; dân lậu là người không có tên trong sổ bộ của làng, khác với dân bộ... 

Ở Nam Bộ, có nhiều tiếng lóng chỉ những hạng dân khác nhau, theo nhà nghiên cứu Huỳnh Công Tín, đó là dân áp phe, dân cầu Ông Lãnh, dân cậu, dân chơi miệt vườn, dân hai huyện, dân hào mé, dân thầy chú, dân thương hồ, dân tứ chiếng, dân ngũ Quảng… 

Hãy nghe, ông Tín giải thích cụm từ “dân chơi miệt vườn”: “Một thanh niên hay một thiếu nữ ra thành phố, đô thị với cách ăn mặc “diêm dúa, chim cò”, nói năng “tự phụ, ta đây” thiếu hiểu biết, không phù hợp, người Nam Bộ dùng cụm từ này để nhận xét về họ: “Thấy cách ăn mặc, kiểu nói năng ấy, đủ biết hắn ta là dân chơi miệt vườn rồi”. Như vậy quán ngữ này ngầm phê phán thói hư tật xấu, chưng diện không đúng cách, sắc thái biểu cảm là coi thường, đánh giá không cao” (“Về chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam Bộ” - NXB Văn hóa Văn nghệ - 2017, tr.243).

Nhân bàn về “dân chơi miệt vườn”, xin nói luôn, lâu nay khi nói về đồng bằng sông Cửu Long, ta thường nghĩ đến cụm từ “văn minh miệt vườn”. Ít ai biết, cụm từ này do... nhà văn Sơn Nam nghĩ ra! 

Thay lời tựa trong tập “Đồng bằng sông Cửu Long hay là Văn minh miệt vườn” (1970), ông lý giải: “Miệt vườn là danh xưng có sẵn. Tiếng văn minh kèm theo phía trước là do người khởi thảo tập sách này nêu lên, nghĩa rằng văn minh là nếp sống vật chất, là ăn, mặc, ở, cách thức sanh nhai. 

Trong hoàn cảnh địa lý và lịch sử đặc biệt, dân Việt đã sáng tạo một nếp sống hùng mạnh, phóng khoáng, đã chinh phục. Lẽ dĩ nhiên, nếu người Tây Ban Nha, người Nhựt, người Lào, người Cam Bốt gặp một hoàn cảnh lịch sử, địa lý tương tự thì họ có phản ứng khác, cất nhà, cày cấy theo hình thức khác. Vì họ không nằm ở trong nguồn văn minh Việt Nam”.

Chí lý thay.

Đã nói dân ắt nhiều người nghĩ đến… quan! Bằng chứng tục ngữ có khá nhiều câu như Quan nhất thời, dân vạn đại; Quan có cần, dân không vội, quan có vội, quan lội quan sang; Của quan có thần, của dân có nọc; Quan bất phiền, dân bất nhiễu…. Không ít người vẫn gọi chung quan là quan lại, thật ra quan là quan, lại là lại - dù quan lại chỉ chung những người cùng làm việc triều đình. “Truyện nôm khuyết danh Trê cóc”, có câu:

Kẻo khi quan lại còn xa

Đây mà nổi giận lôi ra kéo vào

Trong bộ máy hành chính, quan là viên chức có trách nhiệm, người đứng đầu công việc; lại là kẻ thừa hành, người để quan sai phái. Thành ngữ tiếng Việt phân biệt rất rõ ràng, Quan hai, lại một; Quan tham, lại nhũng - hàm nghĩa kẻ trên ăn thì kẻ dưới cũng đớp, tuy có ít hơn. Ngày trước người ra bảo, Khôn làm lại, dại ở chùa. Có thật là khôn? Chắc gì, đã có câu răn đe chớ quên, Một đời làm lại bại hoại ba đời. Ghê chưa? Đời cha ăn mặn, đời con khát nước - lẽ đời là vậy. Thế nhưng thời buổi này khác trước, hễ đã là củi thì bị ném xoạch vào lò, chứ nào phải đợi đến đời con đời cháu xa xôi, mơ hồ. Biết vậy để sống tử tế hơn.

Có một điều thú vị, trong câu đối tiếng Việt, ta có thể tìm thấy nhiều câu “đá giò lái” về quan/ quan lại cực kỳ hóm hỉnh. Chẳng hạn, hề chèo bẻm mép: “Bẩm quan, quan là quan thì quan gần dân. Còn chúng con là dân thì chúng con giần quan!”. Ở đây, cái hay là “dần/ giần” trùng âm; và “giần quan” do nói lái từ “gần dân” một cách thông minh và... hợp lý! Lại có thêm câu đối láu cá:

Rực rỡ mé đường Tây, kẻ lại người qua, ca tụng sinh phần quan lớn lại;

Vế đối lại cũng hoành tráng không kém:

Vang lừng trong thôn Bắc, trên kinh dưới rái, một lòng tôn trọng cụ trong dân.

“Nhãn tự” của câu đối này, nằm gọn trong cả 3 từ cuối của mỗi câu. Thử hỏi, dân biểu - tức người được dân bầu, thay mặt họ để bênh vực quyền lợi ở nghị viện thì có gọi quan? Nếu không là quan đi nữa, thì dân Sài Gòn vẫn có quyền đi xe dân biểu. Oách quá, phải không nào? Đúng là oách xà lách vì khi ngồi trên xe xích lô (có trả tiền), mình muốn đi đến đâu thì cứ việc… biểu xe chạy tới đó! Rồi đôi khi đọc thơ văn ngày trước, ta gặp từ quan nhưng chắc gì đã… quan?

Tưởng chơi ba chữ cho vui vậy

Bỗng chốc nên quan đã sướng chưa?

Có lẽ nhiều người đồng tình rằng, “chữ” trong câu thơ của Nguyễn Công Trứ chính là… chữ/ chữ nghĩa. Đại khái, dù chỉ võ vẽ đùa nghịch phóng bút dăm ba chữ cho đỡ buồn, nào ngờ cũng đỗ quan/ quan trạng. Sự bông lơn, bỡn cợt này hoàn toàn phù hợp với tính cách phóng khoáng của thi sĩ Nguyễn Công Trứ - một nhà Nho vừa dấn thân, vừa tài tử. 

Tưởng là thế nhưng rồi tra cứu “Việt Nam tự điển” do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo năm 1931, thật bất ngờ khi biết “chữ” trong câu thơ này có nghĩa là… đồng/ đồng tiền: “Chữ: Tiếng gọi một đồng tiền: Một chữ tiền, một chữ bạc”. Ngày xưa đơn vị tính tiền gồm: quan, tiền và đồng. 

Hầu như ai cũng biết, 1 quan ăn 10 tiền; 1 tiền ăn 60 đồng, vậy suy ra 1 quan ăn 600 đồng. Quan là tỷ giá đồng tiền cao nhất ngày xưa. Trải qua các thời đại, cách tính có khác đi nhưng cách tính trên được áp dụng từ năm 1439 thời vua Lê Thái Tông: “Quy định này ổn định mãi khi nhà Nguyễn chấm dứt năm 1945” (Lịch sử tiền tệ Việt Nam sơ truy và lược khảo của Nguyễn Anh Huy - NXB Văn hóa Sài Gòn - 2010, tr.237).

Như đã biết chữ còn nghĩa là đồng - đơn vị nhỏ nhất này còn gọi là trự. Có điều thú vị, trự còn đồng âm theo nghĩa: “Thằng, con, tiếng gọi người hay vật với ý nửa khinh, nửa đùa: Bắt được một trự” - như “Việt Nam tự điển” (1970) của Lê Văn Đức ghi nhận. Xét ra, hiểu trự theo nghĩa nay tương đương với mống - tức là một trong số đông - nếu nói “Bắt được một mống” thì nghĩa vẫn y chang. 

Với từ mống, ta thấy cách phân biệt của người Việt cũng không kém phần đáo để, chẳng hạn ta vẫn thường nói: “Mầm non mới nhú” thì cái sự nảy mầm ấy cũng gọi là mống. Thế nhưng với câu tục ngữ Khôn sống, mống chết thì mống ở đây lại có nghĩa khác, đó là chỉ sự dại dột, vụng về.

Nhân đây, xin nói luôn nếu từ phổ thông toàn dân đã gọi mầm mới nhú là “mống” thì người miền Nam còn gọi là “mộng”. “Phương ngữ Nam bộ” của Nam Chi Bùi Thanh Kiên ghi nhận với câu dẫn: “Mấy bữa rày, mưa chèm chẹp, lúa đập rồi không phơi phóng được, lên mộng nhiều quá”. Thế nhưng một khi ai đó nói trâu mộng, bò mộng thì phải hiểu là đang nói đến con trâu, con bò to béo - thường do đã… bị thiến! Oái ăm ghê. Tội nghiệp thiệt. 

Với mống, một khi dùng từ trái nghĩa của dài trong mống dài, ta dùng từ nào mới chính xác? Như đã biết, dài không chỉ trái nghĩa với ngắn: “Lươn ngắn lại chê trạch dài/ Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm” mà còn có vắn: “Tóc mai sợi vắn sợi dài/ Lấy nhau không đặng thương hoài ngàn năm”. Nào đã hết, còn có từ trái nghĩa là cộc: “Con chim xanh đứng bóng thở dài/ Thương anh áo cộc vá vai hai lần”. 

Áo cộc là áo ngắn tay nhưng một khi nói Áo cộc quần manh lại hiểu theo nghĩa bóng chỉ lớp người nghèo hèn. “Ông trăng mà lấy bà trăng/ Đẻ ra con rắn thằn lằn cộc đuôi”. Cộc đuôi là đuôi ngắn.

Vậy, ta chọn vắn/ ngắn/ cộc chăng? Không. Trái nghĩa với mống dài lại là… mống cụt, bằng chứng có câu cửa miệng: “Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa” - nói về kinh nghiệm xem thời tiết. Cụt trong ngữ cảnh này, không có từ nào có thể thay thế, nhưng thật ngộ, trong khi đó, với từ cộc lại hoàn toàn có thể. Thí dụ như: “Con cá đối nằm trên cối đá/ Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo/ Anh mà đối đặng dẫu nghèo em cũng ưng”. Đuôi cụt là cộc đuôi/ đuôi ngắn. 

Ca dao xưa có câu: “Còn duyên anh cưới ba heo/ Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi” thì rõ ràng cái đuôi con mèo này bị cụt - tức trước kia đuôi nó cũng dài (như bao con mèo khác), nhưng do tác động nào đó (từ bên ngoài) nên mới ngắn/ ngắn củn lại, chứ không phải nó thuộc hạng cộc đuôi/ đuôi cụt.

Hiểu như thế mới cảm được hết sự trào lộng tinh quái của chàng trai rẻ rúng cô gái “hết duyên” đến cỡ nào.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nền kinh tế bạc: Động lực thực sự hay ảo vọng?

Nền kinh tế bạc: Động lực thực sự hay ảo vọng?

Khi tỷ lệ sinh toàn cầu suy giảm và tuổi thọ trung bình không ngừng kéo dài, thế giới đang chứng kiến sự trỗi dậy của một khái niệm kinh tế mới: "nền kinh tế bạc" với toàn bộ hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ và ngành công nghiệp phục vụ nhóm dân số cao tuổi. Khắp nơi trên thế giới, các chính phủ đang chạy đua biến "gánh nặng nhân khẩu học" thành một động cơ tăng trưởng mới. Nhưng câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ: liệu đây có thực sự là trụ cột kinh tế của thế kỷ 21, hay chỉ là một phép thử đầy rủi ro trước một cuộc khủng hoảng dân số chưa từng có tiền lệ?

Cha ông ta chống gian lận thi cử

Cha ông ta chống gian lận thi cử

Thời phong kiến, những người gian lận thi cử bị đánh giá tư cách rất thấp. Thế nhưng, vẫn có những vụ gian lận xảy ra, dù triều đình đã tìm nhiều biện pháp để phòng ngừa.

Enhanced Games và sự trung thực

Enhanced Games và sự trung thực

Enhanced Games (EG) là giải thi đấu thể thao dành cho các vận động viên sử dụng doping. Ý tưởng này nghe qua thì thật điên rồ, nhưng sự kiện EG đầu tiên vừa diễn ra vào ngày 24/5 tại thành phố Las Vegas, Mỹ. Giải đấu lôi kéo sự tò mò của cả những người không mấy mặn mà với thể thao. Ai cũng muốn biết xem khoảng cách giữa các vận động viên có và không sử dụng chất cấm là bao xa.

"Danh phận" Hoành Sơn Quan phải chờ đợi đến bao giờ?

"Danh phận" Hoành Sơn Quan phải chờ đợi đến bao giờ?

Đến thời điểm này, "danh phận" di tích Hoành Sơn Quan nằm trên đỉnh đèo Ngang vẫn bị "treo" trong suốt hàng thập niên qua và chưa chốt định được một cách rõ ràng với một tâm thế hoàn toàn mới. Vì vậy, đã đến lúc phải có "trọng tài" thiết lập cơ chế đồng quản lý, phát huy giá trị di tích.

Đạo giáo trong triều đình Việt

Đạo giáo trong triều đình Việt

Trong thời kỳ Bắc thuộc ở nước ta, Đạo giáo thịnh hành lúc nhà Đường cai trị, nên khi nước ta bắt đầu thời kỳ độc lập, ảnh hưởng của Đạo giáo vào triều đình vẫn rất lớn.

Chương trình Lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng tháng 5/2026 thu hút hàng nghìn người đổ về

Một concert, vạn dịch vụ hưởng lợi

Du lịch âm nhạc tạo ra một nguồn thu lớn khi thu hút lượng lớn người xem, kèm theo hàng loạt các dịch vụ khác như lưu trú, ăn uống, mua sắm. Đây cũng là lý do nhiều địa phương bắt đầu xem các đại nhạc hội như một công cụ phát triển kinh tế, tương tự cách họ từng làm với các lễ hội văn hóa truyền thống.

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Khi danh sách các đội tuyển dự World Cup 2026 được gửi tới FIFA, một thống kê đã làm sáng tỏ vị thế độc tôn của bóng đá Pháp: Với 99 cầu thủ sinh ra tại Pháp - chiếm gần 8% tổng số nhân sự dự giải, vượt xa Hà Lan (67 người) và Đức (50 người) để trở thành nước xuất khẩu cầu thủ nhiều nhất thế giới.

Thanh kiếm quyền lực

Thanh kiếm quyền lực

Trong các câu chuyện về kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công ở nước ta năm 1945, hầu như không thể thiếu đề tài: Đại diện chính quyền cách mạng tiếp nhận ấn, kiếm và chứng kiến Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị.

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Sau bốn suất diễn tại Nhà hát Hồ Gươm, vở vũ kịch “Khổng Tước - The Peacock Hanoi 2026” đã khép lại hành trình tại Hà Nội, để lại nhiều dư âm sâu sắc trong lòng khán giả. Không chỉ gây ấn tượng bởi ngôn ngữ múa tinh tế và không gian sân khấu giàu tính nghệ thuật, vở diễn  tạo nên những rung động mạnh mẽ với người xem.

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Một đoạn clip tranh cãi tưởng chừng chỉ là va chạm cá nhân lại nhanh chóng bộc lộ phía sau nó những vấn đề lớn hơn, đáng để người ta phải suy ngẫm, đó là cách ứng xử của người nổi tiếng trong cuộc sống đời thường, đó là văn hóa kinh doanh, coi khách hàng là "ông nội", sẵn sàng cho người lao động nghỉ việc, khi áp dụng bộ quy tắc cứng nhắc.

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Khi thế giới nói về biến đổi khí hậu, Amazon thường được nhắc đến như “lá phổi của Trái đất”. Nhưng ở phía bên kia Đại Tây Dương, rừng mưa Congo - khu rừng nhiệt đới lớn thứ hai thế giới - đang âm thầm gánh vác vai trò không kém phần sống còn đối với khí hậu hành tinh, trong khi sự quan tâm, nguồn lực và cam kết bảo vệ lại quá ít ỏi.

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Trà Shan tuyết cổ thụ mọc trên những ngọn núi cao, trải dài từ Đông Bắc qua Tây Bắc. Mỗi vùng thổ nhưỡng khác biệt, hương vị trà cũng vì thế mà có nhiều biến đổi. Trà từ phía Đông như Quản Bạ, Tây Côn Lĩnh, Hoàng Su Phì của Hà Giang thiên về vị ngọt, chuyển qua cực Tây với Tủa Chùa của Điện Biên sẽ nồng nàn đắng chát, trục giữa có vùng trà cổ thụ ở Tà Xùa (Sơn La), lại mang sự cân bằng hoàn hảo ở cả hương - vị trong nội chất trà.

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Băng đang tan nhanh hơn và Bắc Cực cũng “hiện ra” rõ hơn trong vị thế một trung tâm mới của cạnh tranh địa chính trị, nơi các cường quốc vừa ra sức tìm kiếm lợi ích kinh tế - an ninh cho riêng mình, vừa buộc phải hợp tác để bảo vệ một trong những “điểm tựa khí hậu” mong manh nhất của Trái đất.