Tô Vũ - Thầy của những người thầy trong âm nhạc

Nhắc đến Tô Vũ (1923-2014), có thể nói không một người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp nào lại không biết. Bởi ông có bề dày đáng nể về sáng tác, nghiên cứu lý luận và giảng dạy, trải dài suốt gần như cả đời.

Ông là người thầy dạy sáng tác có mặt ở trường Âm nhạc Việt Nam ngay từ khóa học sáng tác đầu tiên (26/10/1956) với những học trò về sau trở thành những nhạc sỹ nổi tiếng như: Hoàng Việt, Ngô Huỳnh, Hoàng Hiệp, Huy Thục, Tô Ngọc Thanh, Hồng Đăng, Vĩnh Long, Vĩnh Cát, Lư Nhất Vũ, Thuỵ Loan, Trương Đình Quang, Lê Quang Nghệ… Nhiều người trong số này lại trở thành thày dạy trong Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam). Ví như trong gia đình, Tô Vũ đã là “ông”, thậm chí “cụ” của nhiều nhạc sỹ sáng tác hôm nay.

Tô Vũ - Thầy của những người thầy trong âm nhạc -0
Cố nhạc sỹ Tô Vũ.

Trước hết, người ta biết Tô Vũ gắn với những ca khúc để đời. Nói đến dòng nhạc gọi là “tiền chiến” ở Việt Nam, không thể không nhắc đến bài “Em đến thăm anh một chiều mưa”. Thực ra, bài hát ra đời năm 1947, tức là đã trong thời kỳ kháng chiến rồi chứ không còn là tiền chiến nữa. Nhưng cái hơi hướng, tính chất lãng mạn, nhẹ nhàng, bâng khuâng rất “tiểu tư sản” thì đặc sệt ca khúc tiền chiến. Vậy nên người ta vẫn cứ xếp vào cái “sọt” này. Giống như những “Dư âm” của Nguyễn Văn Tý, “Sơn nữ ca” của Trần Hoàn, “Nụ cười sơn cước” của Tô Hải, “Ngày về” của Hoàng Giác… đều được coi là ca khúc tiền chiến mặc dù ra đời sau ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19/12/1946).

Khi Tô Vũ chưa qua đời, một lần tôi được nghe ông kể về sự ra đời ca khúc bất hủ này. Đó là năm 1947, khi cuộc kháng chiến của ta đang còn ở giai đoạn phòng ngự, nghĩa là chưa phát triển mạnh, Tô Vũ cùng hai người bạn nữa về huyện An Lão (Hải Phòng) để tuyên truyền kháng chiến. (Một trong hai người này về sau trở thành Thứ trưởng Bộ Văn hoá Phan Hiền). Ba người ở trong một ngôi đình. Khi ấy, có ba cô cứu thương lạc đường. Thế là các chàng mời họ ở lại cùng hoạt động, chủ yếu là tập văn nghệ tuyên truyền kháng chiến.

Trong ba cô, có một cô vừa xinh nhất lại hát hay nhất. Tô Vũ vẫn hay song ca cùng cô này trong nhiều tiết mục. Được ít ngày, các cô tìm thấy đơn vị ở cách đó 8 km. Phút chia tay “người lên ngựa, kẻ chia bào”, họ hẹn nhau: Cứ chủ nhật sẽ tìm đến thăm nhau. Nếu các chàng không đến được chỗ các nàng thì các người đẹp chủ động sang. Nếu gặp nhau trên đường thì sẽ quay về nơi nào cách điểm gặp ngắn hơn. Không sợ không gặp nhau vì đó là đường độc đạo, có qua một con sông.

Một chiều chủ nhật trời mưa rả rích, nặng hạt. Hai người bạn nam buồn quá, kéo nhau vào xóm trong ăn thịt chó. Tô Vũ không thích món này nên ở nhà. Bỗng ông vô cùng vui sướng khi thấy cô gái vẫn hay song ca với mình đội mưa đến chơi. Ông không tin ở mắt mình, lòng vô cùng bối hồi, xốn xang. Đến khi tiễn cô gái ra về, hai ông bạn cũng chưa về, quá rung động, Tô Vũ đã viết một mạch xong bài “Em đến thăm anh một chiều mưa”: “Em đến thăm anh một chiều đông. Em đến thăm anh một chiều mưa. Mưa dầm dề, đường trơn ướt tiêu điều. Em đến thăm anh, người em gái….”.

Ông nói thêm rằng, các cô chỉ là em kết nghĩa của các chàng, không phải là em ruột, cũng chưa phải là đã có chuyện yêu đương gì. Nhưng ông đã rất rung động và thực lòng thấy tâm hồn mình xao xuyến, bồi hồi. Trong 3 tiếng “người em gái”, ông để tiếng “gái” ở nốt si giáng trong điệu Đô trưởng nhằm tạo hiệu quả mềm mại, bâng khuâng. Rõ ràng đây là một “em gái” đặc biệt chứ không bình thường.

Tô Vũ - Thầy của những người thầy trong âm nhạc -0
Bài hát “Em đến thăm anh một chiều mưa” xuất bản lần đầu tiên.

Cũng trong năm 1947, Tô Vũ còn một bài “Tiền chiến” nổi tiếng nữa là “Tạ từ”: “Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh. Gió dâng khúc nhạc thanh bình. Ta đi tìm thơ muôn phương hót bên núi rừng thâm u và lướt trên muôn trùng sóng. Lời anh thầm ước khi nào dưới trăng giữa mùa hoa đào…”. Nhiều người nghe bài này cứ tò mò muốn biết ai là người đã khiến Tô Vũ viết nên khúc tạ từ hay như thế. Thực ra, ông chỉ viết hộ người khác.

Số là khi đó ông có người bạn là Nguyễn Văn Huấn chơi violon rất giỏi. Huấn có yêu một cô gái lúc đầu tản cư ra ngoài vùng tự do nhưng về sau đã “dinh-tê” (bỏ về vùng địch tạm chiếm do không chịu được khó khăn, gian khổ). Huấn ngỏ ý muốn nhờ Tô Vũ sáng tác cho một bài hát để tặng cô người yêu với hy vọng cô sẽ trở ra vùng kháng chiến với mình, với một yêu cầu là bài hát phải phù hợp với đàn violon để Huấn có thể kéo bất cứ lúc nào. Thế là “Tạ từ” ra đời. Một ca sỹ khi ấy có tên Đoàn Minh là người đầu tiên hát bài này rất hay ở Phát Diệm.

Nhà phê bình văn học nổi tiếng Hoài Thanh đã có một phát hiện rất xác đáng: Nhiều văn nghệ sỹ lãng mạn trước Cách mạng Tháng 8/1945 cần có một thời gian nhất định để hoà nhập với cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, để xua tan đi những “buồn rớt, “mộng rớt”, “đạo rớt”. Tô Vũ nằm trong số những văn nghệ sỹ chuyển mình rất nhanh. Ngay sau khi chấm dứt mấy bài “tiền chiến”, ông có ngay hai bài “Nhớ ơn Hồ Chí Minh” và “Như hoa hướng dương”. Bài về lãnh tụ của ông là một trong những bài hát ra đời sớm nhất ca ngợi Bác Hồ: “Hồ Chí Minh suốt đời vì nhân dân đấu tranh. Người xót xa đời đau thương dân nghèo không áo cơm. Cờ đỏ sao vàng cách mạng tháng Tám thắng lợi. Bàn tay Người lái con thuyền kháng chiến…” Cũng như vậy, “Như hoa hướng dương” là bái hát thành kính dâng lên Đảng được công chúng đón nhận, tâm đắc: “Như hoa hướng dương hướng về mặt trời. Chúng ta nhờ công ơn Đảng. Đời đời là đi theo Đảng…”.

Sau hoà bình lập lại (1954), Tô Vũ tiếp tục có được một số ca khúc có đời sống như “Cấy chiêm”, “Tiếng hát thanh xuân”, “Hoàng hôn trên xóm nhỏ”. Nhưng vì ông dành nhiều thời gian cho công việc nghiên cứu, viết sách, giảng dạy và quản lý mà không thể tiếp tục mạch sáng tác như trước (Ông từng có nhiều năm tháng làm Hiệu trưởng Trường Sư phạm Nhạc, hoạ Trung ương rồi Phó viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam, phụ trách cơ sở 2 ở TP. HCM).

Tô Vũ sinh năm 1923 ở Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) nhưng sớm theo cha mẹ về cư trú ở Hải Phòng. Ông vốn có tên là Hoàng Phú, là em trai người nhạc sỹ tài danh Hoàng Quý – tác giả bài hát “Cô láng giềng” quá quen biết. Hoàng Phú đã sớm nổi tiếng với hai ca khúc “tiền chiến” đã nhắc ở trên. Vậy mà bỗng dưng ông lại có nghệ danh Tô Vũ.

Tôi tò mò hỏi thì được ông cho biết: Lúc còn trẻ ông đã để râu dài, đầu đội nón, mặc quần áo nâu trông rất giống hình ảnh ông lão chăn dê Tô Vũ trong lịch sử nước Tàu ngày xưa được in trên những chiếc lọ độc bình. Thấy vậy mà mọi người cứ gọi ông là Tô Vũ. Ông là đại biểu duy nhất của khu 3 được đi dự Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất vào năm 1948. Mặc dù cái tên Hoàng Phú đã rất nổi tiếng – nhất lại là em trai Hoàng Quý, nhưng người ta vẫn cứ gọi ông là Tô Vũ. Ông thấy bực mình, bèn bộc lộ với nhà thơ, nhà viết kịch Thế Lữ thì được bậc đàn anh này khuyên: “Thế là người ta đã đặt nghệ danh cho cậu. Hãy dùng nó, càng hay chứ sao?”. Từ đó, Tô Vũ yên tâm với tên này và dùng nó cho tới khi qua đời.

Tô Vũ kể rằng hồi nhỏ, ông vốn rất yêu thích và học đánh các loại đàn dân tộc. Nhưng người thầy dạy văn của ông ở trường là Ngô Đình Hộ - tức nhạc sỹ Lê Thương – khuyên ông nên học thêm đàn violon để có thể cùng thầy hoà tấu trong các buổi văn nghệ của trường. Ông đã nghe theo và càng học càng thấy say sưa mặc dù học loại đàn này cực khó.

Năm 1943, ông cùng người anh trai Hoàng Quý lập nhóm “Đồng vọng” ở Hải Phòng để cùng sáng tác ca ngợi quê hương, đất nước, ca ngợi truyền thống anh hùng dân tộc. Nhóm gồm thêm các nhạc sỹ: Đỗ Nhuận, Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Canh Thân. Năm 1946, người anh trai Hoàng Quý qua đời khi mới 26 tuổi. Trước khi nhắm mắt, anh đã nói với em trai: “Phú hãy tiếp tục sự nghiệp âm nhạc còn dang dở của nhóm chúng ta, không bỏ dở giữa chừng”. Quá thương anh, Tô Vũ (lúc này vẫn là Hoàng Phú) đã bỏ hẳn ý định làm nghề khác để đi hẳn vào con đường âm nhạc. Ông nói rằng nếu không có sự ra đi quá sớm với câu nói gan ruột của người anh, chắc chắn sau đó, sẽ làm nghề khác chứ không phải là nhạc sỹ.

Bất cứ ai tiếp xúc với Tô Vũ cũng thấy rõ ông là một nhạc sỹ có vốn tri thức về văn hoá nói chung, âm nhạc nói riêng khá uyên bác. Những công trình nghiên cứu, lý luận của ông về âm nhạc luôn là những tài liệu quý giá cho nhiều thế hệ nhạc sỹ nghiên cứu, học tập. Tôi mãi không quên lời dặn của ông: “Phải có tri thức, phải hiểu biết, càng sâu, rộng càng tốt, không bao giờ là thừa. Chỉ loanh quanh với vài nốt nhạc thì không bao giờ tiến được xa”.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.