Tình báo phát xít Nhật ở Chile trong Thế chiến II

Thế chiến  II đã trở thành bối cảnh cho nhiều hoạt động gián điệp của Nhật Bản ở Châu Mỹ Latin, nó giúp trì hoãn hoàn toàn việc trục xuất các sĩ quan và doanh nghiệp Nhật ra khỏi khu vực này cũng như kiện toàn các cộng đồng kiều dân gốc Nhật. Nghiên cứu này đã bao quát những tháng trước khi xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, và những ngày cuối cùng của quân đoàn Nhật ở Chile trong tháng Giêng năm 1943.

FBI đánh giá vai trò trung lập của Chile và Argentina

Suốt chiều dài lịch sử của đế quốc Nhật Bản, nhu cầu thêm không gian và nguồn tài nguyên phục vụ cho đà tăng dân số và kinh tế của quốc đảo đã góp phần hợp pháp hóa nhiều hình thức bành trướng, bao gồm di dân và đầu tư trực tiếp ở Mỹ Latin trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ 20. Sự hiện diện của các cộng đồng Nhật ở Brazil, Peru và Argentina, cùng chỗ đứng vững chắc trong lĩnh vực khai thác tại một số quốc gia Châu Mỹ, đã bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự bùng nổ Chiến tranh Thái Bình Dương (1941–1945).

Cuối năm 1941, vấn đề cấp bách nhất của chính phủ Nhật là tránh bị trục xuất toàn bộ khỏi các nước Mỹ Latin. Sau sự kiện Trân Châu Cảng vào tháng 12 năm 1941, Mỹ và các đồng minh thân cận đã đoàn kết để nhằm trục xuất các thể chế ngoại giao của phe Trục Phát xít khỏi Nam Mỹ, và đặt các cộng đồng của Phe Trục trong cơ chế giám sát nghiêm ngặt (cụ thể là người Nhật).

Hội nghị Các Bộ trưởng ngoại giao được tổ chức ở Rio de Janeiro (gọi tắt Rio Protocol) vào ngày 29 tháng Giêng năm 1942 là một đỉnh cao trong phong trào lục địa ủng hộ Mỹ, nó cũng là bàn đạp cho cấu hình của một chủ nghĩa Liên Mỹ vững chắc. Tại Hội nghị Rio, tất cả các quốc gia thân Mỹ đều nhất trí kiểm soát mọi hoạt động lật đổ từ Phe Trục, ưu tiên thương mại cho các nước Đồng Minh, coi Mỹ là một quốc gia không hiếu chiến…

Mặt khác, trong khi nhiều quốc gia Mỹ Latin tuyên bố kháng Nhật, Đức, Ý, chỉ có Chile và Argentina vẫn nhất mực duy trì thái độ trung lập: các nước Phe Trục vẫn hoạt động, giữ chỗ đứng tình báo và các hoạt động khác ở Châu Mỹ.  FBI rối bời bởi tình huống này (ám chỉ Buenos Aires) theo các cách hiểu sau: 1. Sự trung lập của Argentina đã được các nước Phe Trục ca ngợi hết lời;

2. Rất nhiều khoản viện trợ tài chính cho hoạt động gián điệp, phá hoại và lật đổ của Phe Trục ở Argentina đã gây thiệt hại cho toàn bộ Tây Bán Cầu. 

3. Phía Tây dãy Andes, phái bộ Nhật Bản ở Santiago (được dẫn đầu bởi Yamagata Kiyoshi), trong bối cảnh lịch sử năm 1942, là một liên kết quan trọng trong dịch vụ thông tin bí mật toàn cầu của Nhật Bản, cơ quan này hỗ trợ các lợi ích của Nhật Bản trên phần còn lại của lục địa Mỹ. Mặt khác, lập trường chính trị của Chile trong cuộc chiến bị ảnh hưởng bởi các chiến lược toàn cầu của Nhật Bản.

4. Phần lớn chủ nghĩa đế quốc Nhật được đóng khung ở Đông Á và Tây Thái Bình Dương, bỏ qua việc triển khai xuyên Thái Bình Dương theo hướng Bắc – Nam. Thực tế các nghiên cứu cho thấy 2 nước Chile và Argentina không liên quan đến lợi ích của Phe Trục, do đó nó bình yên vô sự trong cuộc chiến toàn cầu.

5) Các hoạt động tình báo của Nhật Bản ở lục địa Mỹ được tổ chức kém, được lập kế hoạch bởi các quân đoàn Nhật tại mỗi quốc gia, phụ thuộc mạnh vào các mạng lưới hậu thuẫn và lãnh đạo của Đức. Các tài liệu viết bằng tiếng Tây Ban Nha tại thời điểm đó đã mô tả về một hệ thống bán cầu do Mỹ lãnh đạo. 

Đối với các hoạt động tình báo của Nhật Bản ở Nam Nón (khu vực cực Nam của Nam Mỹ) được tiết lộ bởi Bản tóm tắt MAGIC (MAGIC là tên mã cho các hoạt động đánh chặn liên lạc toàn cầu của Hải quân và lục quân Mỹ được Bộ Ngoại giao Nhật Bản thu thập bắt đầu từ đầu thập niên 1940).

Tình báo phát xít Nhật ở Chile trong Thế chiến II -0
Hội nghị các bộ trưởng ngoại giao được tổ chức ở Rio de Janeiro (gọi tắt Rio Protocol) vào ngày 29 tháng Giêng năm 1942. Ảnh nguồn: Wikipedia .

Nhật ngầm mở rộng quân sự ở Nam Mỹ 

Vào những tháng trước sự kiện Trân Châu Cảng, người Nhật đã tăng cường hiện diện tại Nam Mỹ, huy động các nguồn lực khổng lồ nhằm thách thức quyền bá chủ của Mỹ ở lục địa này. Hơn thế nữa Nhật Bản đã giữ vai trò hàng đầu trong Phe Trục ở Nam Mỹ khi cung cấp ngân sách và điều phối các chiến lược nhằm đảm bảo duy trì lập trường trung lập của Chile trong Thế chiến II.

Suốt thập niên 1930, Nhật đã tăng cường hiện diện kinh tế và ngoại giao ở Chile, đến năm 1940, Nhật Bản chiếm 5% ngoại thương của Chile, tức cao hơn việc người Chile buôn bán với 2 nước Argentina và Brazil gộp lại. Đế quốc Nhật Bản đã tăng cường các quân đoàn ngoại giao của mình tại Mỹ Latin trong suốt các thập niên đầu tiên của thế kỷ 20. Nhà ngoại giao Hayashiya Eikichi cho biết Nhật Bản đã mở văn phòng ở Mexico (năm 1891), Brazil (năm 1897), Chile (năm 1902), Peru (năm 1909) và Argentina (năm 1918); các văn phòng ngoại giao Nhật ở Chile nằm ở những địa điểm chiến lược ở Santiago. 

Trong những năm trước đại chiến, Takenaka Tokeshi (nhân viên của hãng Mitsubishi làm việc ở thành phố cảng Valparaiso) đã tiến hành thu thập tình báo có giá trị cho quân đoàn Nhật Bản, cũng như giả cách làm nhà môi giới chi tiền cho thủy thủ Mỹ nhằm moi thông tin từ hải quân Mỹ. Trong bối cảnh gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Nhật Bản trước sự kiện Trân Châu Cảng, một số quan chức ngoại giao Chile đã lo ngại ảnh hưởng của phái bộ Nhật ở Chile.

Từ California, cố vấn Chile, Miguel Padilla, đã cảnh báo cho Ngoại trưởng Chile về các hoạt động gián điệp Nhật ở Nam Mỹ. Đối với ông Padilla: người Nhật đang nung nấu ý đồ mở rộng quân sự. Ông Labra Carvajal (Bộ trưởng Chile tại Tokyo) đặc biệt lưu ý tới số lượng thị thực ngoại giao được cấp bởi cơ quan ông trong năm 1941. Ngay cả đại sứ Mỹ, Claude Bowers, cũng lo lắng về ảnh hưởng đang lên của người Nhật ở Chile và cảnh báo Tổng thống Roosevelt hết sức để ý nó. Tuy nhiên những cảnh báo của 2 ông Miguel Padilla và Labra Carvajal đã rơi vào hư không.

Hoạt động tình báo của Nhật ở Chile

Để đảm bảo duy trì sự trung lập của Chile cũng như tránh việc bị trục xuất, Nhật đã tăng cường thu thập tình báo và xây dựng mạng lưới những người Chile cung cấp tin tức. Nhà ngoại giao lão làng Yamagata Kiyoshi đã duy trì hoạt động thu thập tình báo chuyên sâu, đảm bảo sự ủng hộ của các nhà lập chính sách chủ chốt của Chile đối với sự nghiệp của Nhật Bản. Nhật dường như là thành viên Phe Trục tích cực nhất ở Nam Nón.

Về việc này, Thượng tướng Mỹ, Carter W. Clarke đã chỉ rõ: 1) Người Nhật đang đảm nhận vai trò lãnh đạo của phe Trục trong việc khởi xướng và xây dựng các chính sách chung; 2) Tương tác trực tiếp của Yamagata Kiyoshi với Tổng thống và Ngoại trưởng Chile liên quan đến vấn đề trung lập của nước này; 3) Trong một số trường hợp, các dân biểu và quan chức Chile đã nhận lương hàng tháng của người Nhật; 4) Hoạt động gián điệp do các cá nhân Nhật hoặc người Chile làm tay sai cho Nhật.

Tổng thống Juan Antonio Ríos đã đứng về phía điệp viên Yamagata Kiyoshi. Các nguồn tin tình báo chỉ ra rằng việc Ríos ngả về phía Nhật cho thấy sự chênh lệch sức mạnh giữa 2 nước: Chile có bờ biển dài và gần như không có khả năng phòng thủ, trong khi Nhật là một cường quốc hải quân hùng hậu, có khả năng tấn công vào Đông Nam Thái Bình Dương (như Bộ Ngoại giao Nhật đã vài lần khẳng định). Tổng thống Ríos cho rằng mình có cá tính mạnh mẽ và ngay cả Tổng thống Mỹ cũng không thể ép ông từ bỏ sự trung lập của Chile.

Yamagata Kiyoshi đã thiết lập một mạng lưới chỉ điểm và ủng hộ với các cấp độ khác nhau, bao gồm vài nhân vật chính trị trong những tháng đầu tiên. Những nỗ lực trung lập của Yamagata còn đi xa đến mức đã thành lập một phong trào chính trị gọi là “Những người ủng hộ hòa bình và trung lập” gồm các viên chức hưu trí và những thành phần khác. Đế quốc Nhật Bản cũng chi tiền mua chuộc những chính trị gia ảnh hưởng nhất ở Chile khi đó, đáng chú ý là thượng nghị sỹ Maximiliano Errázuriz Valdés (đảng Bảo thủ) và Florencio Durán Bernales (đảng Cấp tiến).

Yamagata đã bí mật chuyển khoảng 1 triệu peso (tương đương 32.000 USD tại thời điểm đó) cho Florencio Durán nhằm giành quyền kiểm soát tờ báo La Nación. Dù âm mưu này bị thất bại, nhưng Durán vẫn tiếp tục nhận “đút lót” từ Yamagata để tiếp tục các hoạt động lén lút của người Nhật. Là chủ tịch Thượng viện Chile và thân cận với Tổng thống Ríos (cũng là một thành viên của Đảng cấp tiến), Durán nhiều lần thuyết phục ông Ríos tiếp tục giữ tình trạng trung lập với Phe Trục, hoặc nếu cắt đứt quan hệ sẽ khiến thanh danh ngài Tổng thống bị mất. 

Tình báo Mỹ cũng báo cáo thông tin kinh tế của tình báo Nhật. Sau sự kiện Trân Châu Cảng, dòng tài chính từ Nhật chuyển sang các phái bộ ngoại giao ở Nam Mỹ đã sụt giảm, nhưng các phái bộ này vẫn duy trì hoạt động của họ thông qua các quỹ dự phòng ở nhiều dạng tiền tệ khác nhau được giữ trong các nhà băng. Khi một số cơ quan phái bộ Nhật bị đóng cửa do các nước chủ nhà cắt đứt quan hệ ngoại giao thì các nhà ngoại giao cùng quỹ của họ cũng chuyển đến những địa điểm mới.

Khi nhận được mật tin rằng tài sản của Phe Trục sẽ bị đóng băng ở Nam Mỹ trước khi Hội nghị các ngân hàng trung ương Mỹ (Hội nghị tài chính Liên Mỹ) ra quyết định cuối cùng, Yamagata liền nhanh chân tiếp cận Ủy ban kiểm soát hối đoái Chile (CECC), một nhân tố khá thân thiện với người Nhật, và đã giữ lại một lượng lớn quỹ. Yamagata có quyền tiếp cận vào các cuốn sách mã của Chile, vì vậy có thể thường xuyên nắm được các bản tóm tắt liên lạc giữa Văn phòng ngoại giao Chile cùng các nhà ngoại giao của họ trên khắp thế giới.

Tình hình năm 1942 cho thấy đế quốc Nhật dường như có những dấu hiệu suy yếu trên chiến trường, được xác nhận bởi chiến thắng của quân Đồng Minh trong trận Biển san hô (tháng 5 năm 1942), trận Midway (tháng 6 năm 1942) hoặc chiến dịch Guadalcanal (từ tháng 8 năm 1942 đến đầu năm 1943). Thứ trưởng Mỹ, Sumner Welles, từng có một bài phát biểu tố cáo Chile cho phép tình báo Phe Trục (ám chỉ tình báo Đức) hoạt động trong nước, và đổ lỗi cho quốc gia Nam Mỹ vào việc đánh chìm tàu của quân Đồng Minh. Người Mỹ cung cấp bằng chứng về một hoạt động vô tuyến bí mật giữa Chile-Đức vào ngày 30 tháng 6 năm 1942, nhưng nó không được Bộ Ngoại giao Chile để tâm.

Tình báo phát xít Nhật ở Chile trong Thế chiến II -0
Thượng tướng Mỹ, Carter W. Clarke. Ảnh nguồn: Warfare History Network .

Tuyển người Chile hoạt động gián điệp

Yamagata nhận mật lệnh của cấp trên giao phó thu thập tình báo về lĩnh vực khai mỏ của Chile. Chẳng hạn như Yamagata được yêu cầu cung cấp bản phác thảo các nhà máy điện đặt ở Tocopilla, Chanaral và San Antonio (gồm cả việc đo khoảng cách từ các nhà máy đến biển, số lượng các nhân viên). Yamagata cũng được yêu cầu thông tin về hải cảng ở Antofagasta, Iquique và Arica (phía Bắc Chile), bao gồm một báo cáo về các căn cứ không quân ven biển cùng số lượng xấp xỉ các máy bay. 

Việc qua lại biên giới Chile và Argentina cũng trở nên thường xuyên hơn đối với quân đoàn Nhật Bản ở Santiago. Vì không có quân đoàn chính thức ở các lục địa, nên Nhật Bản dựa chủ yếu vào 2 phái bộ ngoại giao ở Chile và Argentina để thu thập tình báo. Yamagata chiêu mộ các điệp viên Chile để thu thập tình báo ở Brazil và Mỹ. Tình báo Mỹ đã nắm thông tin về một điệp viên Chile do Yamagata trả tiền, người này có tên mã là G.A (tên thật là Luis Garretón, một nhà xuất bản báo chí người Chile, được Yamagata phái đi Mỹ để hoạt động tình báo). Tin tức về nhân vật này không tìm thấy trong các kho lưu trữ Mỹ.

Rafael Moreno Echevarría (tên mã M.O),  một thành viên của Hạ viện Chile được Yamagata trả tiền để hoạt động gián điệp ở Brazil. Moreno Echevarría báo cáo cho Yamagata về thực lực quân đội Mỹ ở Brazil. Sau đó chính quyền Tokyo yêu cầu Moreno Echevarría đến Mỹ để thu thập tình báo về hoạt động đóng tàu, bao gồm số lượng các bến tàu, tàu, nhân sự, giờ làm việc và điều kiện lao động nói chung. Yamaga trả 5.000 peso cho dịch vụ này.

Để lọt vào Mỹ, Moreno Echevarria giả cách là thành viên nghiên cứu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng như xin được thư giới thiệu của Đại sứ Mỹ ở Chile, Claude Bowers. Nhưng lần này các quan chức tình báo Mỹ đã phát giác và giám sát Moreno Echevarria khi vừa đến Panama. Dường như Yamagata cũng mất luôn liên lạc với ông ta.

Trong những ngày cuối cùng của phái bộ ngoại giao Nhật ở Chile, người Nhật quyết định chi thêm 5.000 peso để thuê Enrique Gallardo (nguyên Bộ trưởng Chile ở Paraguay, sau đó là Bộ trưởng Chile ở Trung Quốc và Nhật Bản) do thám tình hình Mỹ. Trước sự ủng hộ của dư luận đối với Mỹ, tháng Giêng năm 1943, cuối cùng Chile cũng cắt đứt quan hệ ngoại giao với Phe trục, Santiago hết đất cho tình báo Nhật Bản hoạt động.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.