Tết xưa trong cung đình Việt Nam

Ngày Tết, triều đình phong kiến nước ta tiến hành hàng loạt nghi lễ phức tạp, nhưng tập trung vào hai mảng chính là tế và lễ.

Về tế, thì quan trọng nhất là vua tế trời đất, tế các thần kỳ và tế tổ tiên. Vua là “thiên tử” – con Trời, nên sẽ thay mặt trăm họ để tế trời, cầu mong một năm mới thái bình, no đủ…

Trang 16: Tết xưa trong cung đình Việt Nam -0
Tết cung đình xưa có nhiều hoạt động ý nghĩa, truyền cảm hứng cho Tết Nguyên đán trong dân gian. Ảnh tư liệu

Nước ta cũng như các nước nông nghiệp Á Đông khác thờ các thần đất, thần mùa màng, nên đầu năm, vua cũng tế Xã Tắc. Sử sách nước ta để lại cho biết, từ thời nhà Đinh, ở kinh đô Hoa Lư, vua Đinh Tiên Hoàng đã “dựng cung điện, chế triều nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc”. Xã là nơi thờ Thần Đất, Tắc là nơi thờ Thần Nông. Xã tắc chính là nơi thờ thần chủ về nông nghiệp. Khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long, đã lập đàn Xã Tắc ở phía Nam kinh thành, được xác định là vị trí ngã năm Ô Chợ Dừa. Theo Lê Quý Đôn viết trong sách “Kiến văn tiểu lục” thì các vua thời Lý, Trần, Lê hàng năm tế đàn Xã Tắc vào ngày lập xuân, lấy đó làm lễ Nghênh Xuân. Ngày Lập xuân (4 hoặc 5/2 dương lịch) thường rơi vào xung quanh ngày Tết Nguyên đán, nên đây cũng là một sự kiện quan trọng trong ngày Tết.

Cúng lễ tổ tiên là nghi thức quan trọng ngày Tết ở các nước Á Đông và theo Nho giáo. Nghi lễ này thời Trần được Lê Tắc kể lại trong “An Nam chí lược” là sáng mùng Một Tết, các vua Trần thường đến cung Trường Xuân, hướng về các lăng tổ tiên ở Thiên Trường phía Nam làm lễ vọng bái. Thời hậu Lê cũng giống nhà Trần, khi quê hương các vua ở Lam Sơn, Thanh Hóa, nên vua thường chỉ về cúng tế phần mộ tổ tiên lúc thư nhàn, còn ngày Tết, vua làm lễ vọng từ kinh thành mà thôi.

Sang đến thời Lê Trung hưng, thì trong các ngày Tết, các vua Lê cũng thực hiện nghi lễ cúng bái tổ tiên ngay tại điện Kính Thiên, rồi mới tiến hành nhận nghi thức chúc thọ của hoàng tộc và trăm quan. Điện Kính Thiên, thời Lê sơ vốn là nơi vua thiết đại triều, đến thời Lê Trung hưng, chính quyền nằm trong tay các chúa Trịnh, thì nghi lễ đại triều không còn nữa, điện chuyển thành nơi vua Lê thờ cúng tổ tiên. Trong các ngày Tết, Thái miếu, nơi thờ các vị vua trước và tổ tiên vua Lê Thái Tổ, cũng luôn đỏ đèn với các nghi lễ thờ phụng.

Trang 16: Tết xưa trong cung đình Việt Nam -0
Các quan triều đình thực hiện nghi thức đại lễ trong dịp Tết Nguyên đán. Ảnh tư liệu

Tiếp đến là lễ tế trời đất, ở lễ tế đàn Nam Giao. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, đàn Nam Giao được ghi chép đầu tiên vào đời vua Lý Anh Tông, năm 1154. Sử sách có chép lại nhiều lần các vua tế Giao đầu xuân vào đời Lê, đời Hồ… Theo bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” thì “Lễ này là nghi lễ tôn nghiêm, long trọng nhất”. Các sử quan triều Nguyễn rất phê phán khi thấy thời Lê Trung hưng, các chúa Trịnh chèn ép vua Lê, vua không còn thực quyền, “nói về lễ nghĩa vua tôi đã đổ nát hết, chỉ có việc Nam giao tế trời là còn giữ được thân phận tôn ti mà thôi”, sách “Cương mục” chép vậy.

Do đó, vào ngày Tết năm Canh Tý 1600, đời vua Lê Kính Tông, lần đầu tiên sau khi vua Lê chiến thắng nhà Mạc, được chúa Trịnh phò tá về Thăng Long và tổ chức lễ tế Nam giao, sách “Cương mục” chép long trọng: “Mùa xuân, tháng Giêng, nhà vua thân hành đến làm lễ (hợp tế trời ở điện Chiêu sự, đàn Nam Giao). Chúa Trịnh Tùng đem trăm quan theo hầu để dự lễ bồi tế. Việc này người ta cùng truyền tụng là một điển lễ long trọng”. Trong khi đó, bộ sử “Đại Việt sử ký toàn thư” do sử quan triều Lê dưới sự chỉ đạo của chúa Trịnh không chép chuyện này. Theo “Cương mục” thì nhiều lần trong thời Lê mạt, nhà vua đi tế Giao đúng ngày mùng Một Tết. Trong khi đó, sang thời Nguyễn, vua Gia Long sau khi lên ngôi tuy khẳng định “Tế trời là lễ lớn, sao có thể đơn giản được” và sai các quan Lễ bộ khảo kỹ lễ tế Giao, châm chước bàn định để thi hành, nhưng đến năm Gia Long thứ 6 (1807), mới chọn một ngày tốt trong tháng 2 để tế Trời. Thời điểm tiến hành lễ tế triều Nguyễn này đã xa dịp Tết Nguyên đán.

Thời nhà Nguyễn, nghi lễ tế tổ tiên được tiến hành rất phức tạp. Các miếu thờ các vị tiên tổ triều Nguyễn, từ Triệu miếu (thờ chúa Nguyễn Kim), Thái miếu (thờ các chúa Nguyễn), Hưng miếu (thờ thân phụ vua Gia Long), Thế tổ miếu (thờ các vua triều Nguyễn), điện Phụng Tiên (nơi thờ các vua và hoàng hậu cho phép các bà trong cung được phép vào cúng lễ) đều đỏ đèn, dâng lễ suốt cả dịp Tết, với quy cách về cỗ bàn chặt chẽ. Bên cạnh đó, miếu Lịch đại đế vương (thờ các vua triều đại trước), miếu công thần, rồi các điện thờ vua đời trước đặt tại lăng vua… cũng đều được dâng cỗ cúng lễ long trọng.

Ngoài ra, triều đình còn có hàng loạt lễ tế các miếu, điện khác trong dịp cuối năm và đầu năm. Ngoài các lễ trong Tết như lễ Trừ tịch vào đêm cuối năm, lễ các ngày mùng Một, Hai, mùng Ba Tết, thì các miếu, điện thờ mỗi năm lại có bốn lễ tế Hưởng vào đầu bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Theo điển lễ từ Trung Quốc, các lễ tế Hưởng này diễn ra vào ngày mùng Một tháng mạnh (tháng bắt đầu quý). Ngoài ra, cuối năm, còn có lễ tế Hợp hưởng để báo cáo với tổ tiên các việc đã làm trong năm qua. Thời vua Minh Mạng, lễ này diễn ra ngày 15 tháng Chạp. Còn lễ Xuân hưởng, do ngày mùng Một là Tết, nên thời vua Gia Long đã quy định lấy ngày 8 tháng Giêng để tổ chức. Theo lệ cúng các miếu vua Minh Mạng điều chỉnh năm 1822, vào lễ tế Xuân hưởng, vua đến tế ở Thái miếu. Còn lễ Hợp hưởng cuối năm 1824, nhà vua làm lễ ở Thái miếu, và năm tiếp theo làm lễ ở Thế miếu.

Trang 16: Tết xưa trong cung đình Việt Nam -0
Hoạt động dựng cây nêu trong hoàng cung triều Nguyễn ngày Tết. Ảnh tư liệu

“Cương mục" cũng cho biết, vào dịp Tết, các vua nhà hậu Lê đều cùng bá quan văn võ đến yết Thái miếu để ghi nhớ công ơn tổ tiên. Còn vào ngày đầu tiên của năm mới, các triều đại phong kiến nước ta đều có lễ vua ngự ra điện lớn cho các Hoàng hậu, phi tần, hoàng tử, vương hầu và trăm quan vào bái hạ, chúc thọ. Thời Trần, sáng mùng Một, vua ra điện Vĩnh Thọ cho con cháu và quan tướng làm lễ bái hạ. Vào dịp Tết, các vị vua Việt cũng thưởng tiền cho bề tôi hay dâng tiền lên Hoàng thái hậu. Tết Nguyên đán trong cung đình thời nhà Lê Trung hưng diễn ra ngắn gọn hơn. Lúc vua Lê còn có vai trò thì sáng mùng Một Tết, chúa Trịnh hoặc Thế tử (con trai cả của chúa) vâng lệnh chúa dẫn quan tướng mặc lễ phục vào chầu vua Lê, làm lễ chúc mừng năm mới, sau đó trở về phủ chúa chúc thọ chúa Trịnh, dự yến chúa đãi.

Sử triều Nguyễn cho biết, thường vào sáng mùng Một Tết, vua đến cung Diên Thọ lễ mừng Thái hậu, sau đó đến điện Thái Hòa nhận biểu mừng, các quan trong triều được ăn Tết đến khoảng mùng Bảy, tùy vào lịch ngày xấu đẹp do Khâm Thiên giám định trước. Trước đó, triều đình triển khai nhiều nghi lễ, từ lễ dựng nêu khoảng ngày 23 tháng Chạp, cho đến lễ Phất thức (kiểm kê, lau chùi, niêm phong kim sách, kim bảo – tức các loại ấn tín của triều đình) để chính thức nghỉ Tết. Trong thời gian từ lễ Phất thức cho đến lễ Khai ấn diễn ra vào ngày tốt đầu tháng Giêng, triều đình chính thức nghỉ Tết, các công sở đóng cửa. Tất nhiên, bên cạnh vua vẫn có các quan đại diện các Bộ, Viện chịu trách nhiệm trực Tết, và vẫn có ấn dự phòng để đóng khi cần thiết. Ngoài ra, từ thời vua Gia Long, lễ phong ấn cũng trùng hoặc sát ngày vua làm lễ ban lịch cho các quan và các địa phương. Đến năm 1806, lịch được vua ban từ ngày mùng Một tháng Chạp để tiện cho các địa phương đem về phổ biến trong nhân dân.

Còn ra năm mới, nhiều lần các vị vua tổ chức lễ cày ruộng Tịch điền đầu Xuân, với nghi lễ tế thần Tiên Nông. Tuy nhiên, triều Nguyễn dời lễ này sang tận tháng Năm. Sách nghi lễ triều Nguyễn viết: “Đầu mùa xuân duyệt binh để giảng việc võ; giữa mùa hạ cày ruộng Tịch điền để khuyến khích việc nông”. Theo bộ sử “Đại Nam thực lục”, năm Minh Mạng thứ 2 (1821), đầu Xuân, chỉ sau lễ khai ấn mấy ngày, “Vua mặc nhung phục ngự ở điện Càn Nguyên xem duyệt binh. Lệ duyệt binh bắt đầu từ đấy”.

Lê Tiên Long

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.