Sự kiện bí ẩn trên bầu trời Oahu

1 năm sau cuộc tấn công của Phát xít Nhật vào Trân Châu Cảng, sáng 8/12/1942 mạng lưới radar cùng một số phi công thuộc Hải quân Mỹ trên đảo Oahu đã chứng kiến một chuyện kỳ lạ mà đến nay, câu hỏi vẫn không lời giải đáp…

1. Lúc ấy là 9 giờ 45 phút sáng 8/12/1942, kíp trực radar ở phía tây đảo Oahu, Trân Châu Cảng gồm trung sĩ Andrew Jackson, trung sĩ Martin Moore và hạ sĩ Williams Blackburn phát hiện trên màn hình một máy bay đang hướng về phía họ. Do trận tập kích của không quân phát xít Nhật xảy ra 1 năm trước vẫn còn in sâu trong tâm trí mà hậu quả là 3.402 lính Mỹ chết, 1.218 người bị thương, 19 tàu bị đánh đắm hoặc hư hỏng nặng, 188 máy bay bị phá hủy nên cả ba một mặt tập trung theo dõi, mặt khác báo cho chỉ huy lực lượng Hải quân Mỹ ở Oahu. Theo trung sĩ Andrew Jackson, thời tiết lúc ấy nhiều mây, gió thổi mạnh, hoàn toàn không phù hợp cho một cuộc tấn công của không quân Nhật nên theo suy luận của họ, chiếc máy bay mà họ nhìn thấy có thể làm nhiệm vụ trinh sát.

Sự kiện bí ẩn trên bầu trời Oahu -0
Chiếc P-40 số hiệu 397 lúc rơi xuống đảo Oahu, Trân Châu Cảng.

Ngay khi nhận được thông báo, chỉ huy lực lượng không quân thuộc Hải quân Mỹ ở Oahu ra lệnh cho 2 máy bay tiêm kích P-51 Mustang lên đánh chặn nhưng lúc đến gần máy bay lạ, phi công trên 2 chiếc P-51 nhận ra rằng trước mắt họ là chiếc Curtiss P-40 Warhawk số hiệu 397 của Không quân Mỹ. Phi công Ferguson kể: “Trên thân chiếc P-40 có sơn phù hiệu là một vòng tròn màu xanh, bên trong có ngôi sao trắng, giữa có vòng tròn đỏ, cạnh đó là con số 397 nhưng phù hiệu này đã không còn được sử dụng từ khi vụ Trân Châu Cảng nổ ra nên tôi rất ngạc nhiên. Gọi về sân bay để báo cáo, chỉ huy phi đoàn của chúng tôi là đại tá Robert L. Scott. Jr cũng chẳng biết giải thích thế nào nên ông ấy nói “cứ để nó hạ cánh rồi tính”.

Bay gần hơn nữa, phi công Ferguson phát hiện thân chiếc P-40 bị thủng nhiều lỗ do trúng đạn còn bộ bánh xe cất hạ cánh hầu như đã biến mất. Trung úy Bob, phi công trên chiếc P-51 Mustang bay cạnh Ferguson kể: “Tôi thấy phi công ngồi gục đầu trong buồng lái. Áo anh ấy dính đầy máu nhưng thật kỳ lạ, khi tôi bay song song với anh ấy thì bất ngờ anh ấy ngước nhìn tôi rồi đưa tay lên chào. Và trong khi tôi chưa kịp ra dấu cho anh ấy tìm cách hạ cánh thì chiếc P-40 đã lao xuống đất…”.

Khoảng 30 phút, các đội cứu nạn tiếp cận vị trí máy bay rơi. Hình ảnh tại hiện trường cho thấy nó bị gãy mất phần đuôi và một bên cánh phải còn bộ bánh xe biến mất hoàn toàn. Thay vào đó là 3 thanh gỗ ở giữa bụng và hai bên cánh nhưng điều lạ lùng là họ không hề thấy xác phi công mặc dù phạm vi tìm kiếm đã mở rộng với bán kính 25km. Hai vật chứng duy nhất mà họ thu được là một chiếc đồng hồ loại dành riêng cho phi công cùng một cuốn nhật ký hành quân, nội dung ghi chép chứng tỏ chiếc Curtiss P-40 Warhawk số hiệu 397 do thiếu úy W. Sherrill cầm lái, xuất phát từ căn cứ Mindanao, Philippines, cách Trân Châu Cảng 2.300km!

Cũng cần nói thêm rằng máy bay Curtiss P-40 Warhawk nếu đổ đầy xăng thì chỉ có thể bay tối đa trên quãng đường 1.100km. Như vậy, nếu bay từ Mindanao, Philippines đến Oahu thì phi công bắt buộc phải tiếp nhiên liệu 2 lần, một ở sân bay dã chiến trên đảo Palau và hai là sân bay ở quần đảo Marshall nhưng qua xác minh, cả Palau lẫn Marshall đều cho biết trong các ngày từ 4/12 đến 8/12/1942, họ đều không tiếp nhận bất cứ máy bay P-40 nào hạ cánh. Tiếp tục tìm hiểu, họ được biết cũng trong thời gian này, chẳng có tàu sân bay nào của Mỹ hoạt động trên đường bay của chiếc P-40 và nếu có chăng nữa, P-40 cũng không thể đáp xuống vì nó không có móc hãm, là thiết bị hạ cánh xuống tàu sân bay.

Sự kiện bí ẩn trên bầu trời Oahu -0
Ảnh chụp toàn bộ phi đội 12 nơi Sherrill là thành viên nhưng không hề có mặt ông.

2. Trước sự việc lạ lùng ấy, Hải quân Mỹ mở cuộc điều tra, bắt đầu từ sân bay Mindanao, Philippines. Tại nơi này, họ được hạ sĩ Bill Stout, làm nhiệm vụ sửa chữa những chiếc thuyền tuần tra cho biết khoảng 8 giờ sáng ngày 7/12/1942, nghĩa là đúng thời điểm Trân Châu Cảng bị tấn công 1 năm trước, ông cùng các bạn đồng ngũ nhìn thấy một chiếc máy bay ở độ cao rất thấp. Lúc nó đến gần, mọi người nhận ra nó là chiếc P-40, số hiệu 397. Theo lời Stout, ông còn thấy phi công nghiêng cánh 3 lần - là dấu hiệu chào. Stout nói: “397 mang đầy bom dưới thân. Tất cả chúng tôi đều vẫy tay reo hò vì đó không phải là máy bay Nhật nhưng ai cũng tự hỏi P-40 sẽ làm gì khi mà nó đơn độc giữa trời”.

Vẫn theo hạ sĩ Bill Stout, sau khi nghiêng cánh chào, chiếc 397 bay về hướng Đông, là hướng Trân Châu Cảng. Các nhân viên phụ trách radar cho biết họ cũng ghi nhận sự xuất hiện của 397 trên màn hình nhưng họ không liên lạc với nó còn trạm radar ở quần đảo Marshall và đảo Palau thì nói rằng 397 không bay về hướng này.

Người thứ 2 được các điều tra viên Hải quân tìm gặp là đại tá Robert L. Scott. Jr, chỉ huy phi đoàn P-40 ở Mindanao, Philippines. Ông cho biết sáng ngày 7/12/1942, kỷ niệm 1 năm cuộc tấn công Trân Châu Cảng, ông ra lệnh cho 3 máy bay P-40 thuộc phi đội 12 cất cánh tuần tra, trong đó có chiếc 397. Hơn 1 tiếng sau, bộ phận tác chiến cho ông biết chiếc 397 do thiếu úy Sherrill cầm lái đã tấn công một sân bay Nhật trên vùng biển đảo San Hô, phá hủy ít nhất 3 máy bay. Và do bị máy bay Nhật đánh chặn, bắn hỏng bộ bánh đáp nên Sherrill gọi về cho biết sẽ bay đến địa điểm gần nhất là sân bay Formosa, đảo Đài Loan (Trung Quốc), nơi trú đóng của một bộ phận không quân Quốc Dân đảng Trung Quốc kháng chiến chống Nhật rồi tìm cách hạ cánh. Thiếu tá Cromwell, chỉ huy điều tra vụ P-40 cho biết việc kiểm tra hồ sơ quân ngũ của các phi công ở  Mindanao, Philippines lại càng gây ra sự ngạc nhiên: Không hề có bất kỳ một giấy tờ gì của thiếu úy phi công W. Sherrill. Trả lời các điều tra viên, đại tá Robert L. Scott. Jr. nói: “ Tôi biết trong phi đoàn của tôi có phi công Sherrill nhưng tôi không giữ hồ sơ lý lịch của anh ta vì đó là nhiệm vụ của bộ phận nhân sự”.

Làm việc với bộ phận quản lý nhân sự, các điều tra viên được biết Phi đoàn P-40 ở Mindanao có 57 phi công cùng hơn 100 thợ máy, kỹ thuật viên, chuyên viên bom đạn nhưng không ai tên là W. Sherrill mặc dù các phi công đều khẳng định Sherrill đã bay chung, ăn chung, ngủ chung với họ. Kiểm tra giường ngủ và tư trang của Sherrill, các điều tra viên chỉ thấy vài bộ quần áo bay, quần áo ngủ, 4 áo sơ mi, 3 quần dài dân sự, mấy đôi vớ và đồ lót nhưng tuyệt nhiên không hề có thư từ, nhật ký, hình ảnh như thường thấy ở các phi công khác. Thiếu tá Cromwell, chỉ huy đội điều tra nói: “Anh chàng Sherrill này là ai? Chẳng lẽ anh ta là người vô hình? Làm cách nào mà anh ta có thể sống, bay, chiến đấu cùng đồng đội nhưng không hề có một cái gì để chứng tỏ anh ta có thật. Tất cả phi công trong Phi đoàn P-40 có rất nhiều hình ảnh chụp chung với nhau nhưng không một tấm hình nào có mặt Sherrill. Cái quái gì đang xảy ra vậy?”.

Về phía Bộ Chiến tranh và Hải quân Mỹ, những thông tin về Sherrill được phổ biến rộng rãi trên toàn nước Mỹ, đề nghị những ai là thân nhân của thiếu úy phi công Sherrill, hiện đang tham chiến ở mặt trận Thái Bình Dương hãy nhanh chóng liên hệ với bộ phận quân lực của hải quân để cung cấp chi tiết về con người này. Kết quả là họ nhận được hàng nghìn hồi đáp nhưng sau khi xác minh, họ tên W. Sherrill thì đúng nhưng không có ai trong số đó là thiếu úy phi công ở Thái Bình Dương!

Sự kiện bí ẩn trên bầu trời Oahu -0
Chiếc đồng hồ được cho là của Thiếu úy Sherrill.

3. Song song với việc điều tra ở Mindanao, một đội điều tra khác đến sân bay Formosa, Đài Loan (Trung Quốc). Theo 3 thợ máy là Ching Qian, Wong và Yu Fat thì chiếc P-40 phải hạ cánh bằng bụng nhưng không hư hỏng nặng ngoại trừ cánh quạt bị cong, lớp vỏ nhôm dưới bụng móp méo, một bên cánh bị mất phần đầu. Sau khi xem xét tình trạng máy bay, Sherrill đề nghị sân bay Formosa sửa chữa giúp ông để ông có thể trở về căn cứ Mindanao. Thợ máy Yu Fat nói: “Cánh quạt P-40, vỏ nhôm chúng tôi có sẵn để thay thế nhưng bộ bánh xe thì không, phải yêu cầu Trân Châu Cảng gửi đến”.

Khi biết ít nhất 10 ngày nữa mới có được bộ bánh xe, phi công Sherrill nảy ra ý định: Bằng cách yêu cầu các kỹ thuật viên ở Formosa lắp cho ông 3 bộ ván trượt từ những ống tre, 1 ở dưới bụng còn 2 bộ kia ở 2 bên cánh, Sherrill biến chiếc P-40 thành thủy phi cơ! Vẫn thợ máy Yu Fat kể lại: “Tre là vật liệu có sẵn trên đảo nên chỉ hơn ba ngày, chúng tôi đã làm xong. Tuy nhiên chúng tôi cũng báo cho phi công Sherrill biết việc cố định 3 bộ ván trượt hoàn toàn không chắc chắn, nó có thể rơi ra bất cứ lúc nào nếu gặp gió mạnh nhưng ông ấy vẫn nhất quyết lên đường”.

Và thế là trưa ngày 8/12/1942, sau khi nhờ một cần cẩu đặt chiếc P-40 xuống biển, Sherrill khởi động máy rồi tăng tốc. Chiếc máy bay lướt đi rồi cất cánh một cách khó nhọc. Chứng cứ duy nhất về chiếc P-40 với bộ càng đáp quái dị được phi công George Osborn lái chiếc thủy phi cơ Catalina thuộc phi đội trinh sát số 54 ở Formosa ghi lại bằng máy chụp hình lúc nó cất cánh nhưng trưa hôm sau, trong một phi vụ tuần tra như thường lệ, Osborn đã vô ý làm rơi máy chụp hình xuống biển khi nhoài người ra cửa buồng lái để chụp một bầy cá heo!

Từ đó chẳng ai còn biết gì về chiếc P-40 nữa. Trung úy Cadwell, phụ trách radar ở quần đảo Marshall nói: “Có lẽ do bộ cất hạ cánh không bảo đảm an toàn nếu gặp gió mạnh nên phi công Sherrill phải bay ở độ cao rất thấp, nằm dưới tầm quét của radar nên chúng tôi không thể nhìn thấy”. Các tài liệu từ phía Nhật Bản mà người Mỹ thu được sau chiến tranh xác nhận một tàu khu trục của họ đã nhìn thấy một máy bay Mỹ với bộ bánh xe cất hạ cánh rất kỳ lạ, bay từ hướng Formosa, lướt ngang tàu họ.

Thế chiến II kết thúc, hồ sơ về chiếc P-40 số hiệu 397 và phi công Sherrill được xếp lại với vô số câu hỏi không lời giải đáp, kéo dài đến tận ngày nay: Vì sao ngày 8/12/1942 kíp trực radar ở phía tây đảo Oahu, Trân Châu Cảng gồm trung sĩ Andrew, trung sĩ Martin và hạ sĩ Williams phát hiện chiếc 397 trên màn hình radar, và 2 phi công Ferguson, Bob trên 2 chiếc P-51 đã tận mắt nhìn thấy phi công Sherrill trong lúc ngày 7/12/1942, chiếc P-40 và Sherrill vẫn còn ở Mindanao, cách Oahu 3.200km, chưa kể Sherrill còn phải mất thêm 5 ngày ở sân bay Formosa để sửa chữa máy bay và làm bộ càng đáp? Cả 3 thợ máy là Ching Qian, Wong và Yu Fat ở Formosa đều cùng khẳng định: “Có chém chết chúng tôi vẫn xác nhận rằng chúng tôi là người đã giúp cho phi công Sherrill cất cánh. Ngoại trừ ban đêm và lúc đến nhà ăn, còn thì anh ấy luôn ở cạnh chúng tôi, theo dõi công việc chúng tôi làm. Anh ấy là người thật chứ không phải là hồn ma bóng quế”.

Hiện tại, xác chiếc P-40 số hiệu 397 vẫn được trưng bày ở Bảo tàng Không quân thuộc Hải quân Mỹ ở San Diego, bang California nhưng Sherrill là ai và bằng cách nào ông bay từ Mindanao, rồi Formosa đến Oahu chỉ trong 1 ngày thì không trả lời được. Thiếu tá Cromwell, chỉ huy điều tra vụ P-40 nói: “Có vẻ như Sherrill bước ra từ hư vô và đã trở về với hư vô. Thế giới này còn nhiều điều bí ẩn mà chúng ta chưa thể giải thích mặc dù về khoa học kỹ thuật, nhân loại đã tiến một bước dài…”.

Vũ Cao (Theo War History)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.