Sinh nở, một tự sự đa dạng về nữ giới khi trật tự cũ bị phá bỏ

Những năm đầu thế kỉ XX, câu chuyện sinh nở của nữ giới dần được chuyển dịch vào vị thế trung tâm trong quá trình hiện đại hóa xã hội. Ở đó, không chỉ có việc cải thiện một cách mạnh mẽ các điều kiện y tế, hộ sinh và chăm sóc thai nhi mà còn thường xuyên đặt ra những đòi hỏi, nhận thức mới về nữ quyền trong việc sinh và nuôi con theo môi trường hiện đại, văn minh, đối kháng với các quan niệm và hủ tục lạc hậu.

Văn chương bấy giờ, tuy không quá dồi dào, nhưng cũng có một số trường hợp rất nổi bật khắc họa rõ nét cuộc đối kháng này với lí do trước tiên: người nữ cần tự đổi mới triệt để.

Cho đến khi chính quyền thực dân Pháp thiết lập ở Việt Nam, vấn đề sinh đẻ và thai sản mới thực sự được bàn định một cách nghiêm túc. Một trong những nguyên nhân chính yếu là vì tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh quá cao, ngay cả ở các đô thị. 

Một nghiên cứu chuyên sâu của Tiến sĩ Nguyễn Thùy Linh (“Childbirth, Maternity, and Medical Pluralism in French Colonial Vietnam, 1880-1945” - “Sinh con, thai sản và đa dạng y học tại Việt Nam thời thuộc địa Pháp, 1880-1945”, 2016) cho thấy trong giai đoạn 1898-1900, tỉ lệ trẻ tử vong dưới một tuổi ở Sài Gòn và Chợ Lớn lên đến 68,72%, ở Hà Nội trong các năm 1914-1917 là khoảng 30%-50%, cao nhất là năm 1923 với 58,1%. 

Tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao xảy ra do các bệnh liên quan đến thai sản, sinh nở (phổ biến như bệnh uốn ván) và đặc biệt, là do kĩ thuật hộ sinh quá lạc hậu trong khi điều kiện y tế hiện đại thì chưa được thiết lập. Gần như trong truyền thống làng quê Việt Nam, hộ sinh phó mặc cho “bà đỡ” (bà mụ) với những kinh nghiệm chắp nối nhiều đời. Vai trò của “bà đỡ”, vì thế, đôi khi được thần thánh hóa, cùng nhiều thủ thuật mê tín khác, để đảm bảo mọi sự mẹ tròn con vuông như ý.

Nhưng chính quyền thuộc địa nhận ra sự bất ổn này và họ nhanh chóng đưa vấn đề thai sản, sinh đẻ vào tâm điểm hành động thay đổi. Cơ quan cứu trợ Xã hội được thành lập (1929), rồi sáp nhập với Cứu trợ Y tế, nhằm tạo ra những hoạt động từ thiện và cứu trợ xã hội, hướng tới bảo vệ, chăm sóc bà mẹ trẻ em một cách qui củ nhất. Không chỉ có bệnh viện mà còn có các nhà hộ sinh. Bệnh viện Phụ sản ở Chợ Lớn được xây dựng từ năm 1901. 

Ở Hà Nội, năm 1902, cùng với việc xây Bệnh viện Bảo hộ (còn gọi là Nhà thương Phủ Doãn), Toàn quyền Paul Beau còn xây nhà hộ sinh đầu tiên (tiền thân của Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em hiện nay). Trường Y Khoa Đông Dương cũng mở lớp đào tạo nữ hộ sinh dành cho người Việt. 

Cho đến đầu thập niên 1940, đã có hàng chục các tổ chức độc lập dưới dạng tổ hội từ thiện và cứu trợ y tế (Hội Tế Sinh, Hội Hợp Thiện, Hội Ánh Sáng, Bắc Kỳ Quảng Thiên Hội,…), tạo thành mạng lưới tương trợ phụ nữ, trẻ em rất hữu hiệu. Đây cũng là giai đoạn ra đời, phát triển của các “ấu trĩ viên” (nhà trẻ, nhà mẫu giáo), định hình nền giáo dục mầm non hiện đại. Chính các “ấu trĩ viên” đã thay đổi rất căn bản nhận thức của nữ giới và xã hội nói chung trong việc hình thành môi trường dạy dỗ, chăm nom trẻ em thay vì để chúng tự nhiên khôn lớn. 

Cùng với sự xuất hiện ngày càng đông đảo của phụ nữ tân thời có học vấn, kiến thức và hiểu biết về sinh sản đã dần được nữ giới áp dụng trong đời sống thường ngày. Năm 1905, nhà hộ sinh Hà Nội chỉ đón 250 sản phụ, nhưng năm sau (1906) thì lên đến 474, chứng tỏ phụ nữ Việt đã bắt đầu tuân theo kĩ thuật sinh nở của phương Tây và họ sẽ cảm thấy chủ động, an toàn hơn trong những tình huống ngặt nghèo của kì vượt cạn. “Bà đỡ” bớt thao túng, nữ hộ sinh mới là hình ảnh đáng nghe theo.

Tuy thế, ở nhiều vùng nông thôn, tình trạng phụ nữ sinh đẻ không có y tế hiện đại chăm sóc vẫn diễn ra. Học giả Pierre Gourou khi thực địa tại các làng Bắc bộ vào đầu thập niên 1930 đã phải thốt lên rằng, “chắc chắn người phụ nữ Việt Nam có sức bao nhiêu thì đẻ bấy nhiêu. Lấy chồng khi con trẻ, thường là trước 20 tuổi, họ sinh con sòn sòn cho đến tận khi mãn kinh”. 

Đẻ nhiều và đời sống nghèo khó triền miên khiến phụ nữ nông thôn không thể nào chạm đến các quyền cơ bản như học hành, lập nghiệp, và chua xót hơn là họ phải cho con cái như một hình thức giải thoát túng quẫn. Đây chính là lí do khiến văn chương lẫn báo chí bấy giờ thường khắc họa những bi kịch nghèo túng, đói rách do sinh nhiều con. 

Số phận bi kịch của chị Dậu phải bán con bán chó trong “Tắt đèn” (1937), dầu không có ý nghĩa cảnh báo, nhưng đã mô tả chân xác tình trạng đẻ rồi cho con đi ở đợ, cho người khác nuôi khá phổ biến bấy giờ. 

Còn Nam Cao, một cây bút tả thực xuất sắc khác, thường lựa chọn tình thế oái oăm và bi đát gài cắm vào truyện kể về những gia đình tuy đông con nhưng luôn neo đơn, teo tóp dần về số lượng do đau ốm bệnh tật hoặc èo uột, yếu thế khi phải va chạm với quyền bính địa phương. 

Đáng chú ý, trong cái nhìn của Nam Cao, phận vị của người nữ ở gia đình rất thảm hại, phần vì họ phải chịu đựng những ông chồng tầm thường, phần vì họ sinh đẻ quá nhiều. Ngay cả nhân vật Từ trong “Đời thừa” (1943), tuy được văn sĩ Hộ yêu thương, nhưng vẫn tự trói mình trong vòng khép nép, nhẫn nhịn và luẩn quẩn vì nghĩ mình đẻ con nheo nhóc là nguyên do gây bĩ cực cho chồng. 

Ở một tác phẩm khác, Những ngày thơ ấu (1940), Nguyên Hồng không quên người bà “sinh nở những mười tám bận. Nhưng các cô và các chú tôi chết dần, chết mòn gần hết”. Rút cuộc thì người bà cũng thân góa con côi và càng già cả thì càng rền rĩ, đay nghiến con cháu. Nhưng gây đau khổ cho tuổi thơ cậu bé Hồng hơn cả là việc mẹ Hồng có con ngoài giá thú, sự kiện chia rẽ tình mẫu tử bởi cái nhìn hà khắc, cay nghiệt của xung quanh. 

Nguyên Hồng còn có kiểu nhân vật nạn khác, Tám Bính, trong “Bỉ vỏ” (1938). Bính lỡ có con trước hôn nhân với một anh chàng “quan tham đạc điền”, để rồi phải chịu cay cực, đau đớn khi còn xuân sắc. Cảm giác bị phụ bạc, bị sỉ nhục vì đứa con sinh ngoài ý muốn khiến nàng “ví mình với một người tù, một người tù hoàn toàn bị bó buộc, và bị bó buộc mãi mãi nếu... đứa con nhỏ này còn trong tay”. 

Như thế, có thể thấy, nhiều nhà văn tả thực đã tập trung khai thác tình cảnh bi đát, cơ cực của người phụ nữ một khi họ rẽ ngoặt vào đời sống hôn nhân và con cái. Sinh nở, chức phận thiêng liêng không đem đến niềm vui kéo dài, mà ngược lại, là trở lực làm trầm trọng hóa cảm giác tủi phận, bẽ bàng, thua thiệt nơi nữ giới.  

Ảnh trong bài: Các lớp đào tạo nữ hộ sinh tại Hà Nội đầu thế kỷ 20.
Ảnh trong bài: Các lớp đào tạo nữ hộ sinh tại Hà Nội đầu thế kỷ 20.

Tất nhiên, trong quá trình hiện đại hóa, một bộ phận phụ nữ thị dân sẽ không lựa chọn đường đi như phụ nữ nông thôn. Ý thức về sự giải phóng khỏi các khuôn thức đạo đức tam tòng và nỗ lực tìm kiếm bình quyền nam nữ khiến tầng lớp “gái mới”, “gái tân thời” không ngừng nổi loạn. Từ trách nhiệm, bổn phận phải sinh đẻ, họ đã bắt đầu tìm kiếm những nghĩa lí khác của việc này, chẳng hạn như quyền làm mẹ, quyền được nuôi con và giáo dục con cái theo định hướng của mình. 

Một số trường hợp khác, thậm chí, đã coi sinh nở là “ngăn trở sự ăn chơi”, không được “rảnh rang sống cái đời phù hoa cùng chúng bạn” như lời than của nhà giáo Thái Phỉ vào năm 1941 trong “Một nền giáo dục Việt Nam mới”. Tôi nghĩ, đấy là lúc phụ nữ bắt đầu khiến xã hội lúng túng và câu chuyện sinh đẻ, từ đó, không thể giản đơn chỉ diễn ra một chiều. 

Trong tiểu thuyết “Nửa chừng xuân” (1934), cuốn tiểu thuyết gây tiếng vang lớn thời kì đó, nhân vật Mai là hiện thân cho kiểu phụ nữ có học thức biết cách định đoạt hạnh phúc và giá trị của mình. Việc Mai chấp nhận rủi ro, điều tiếng để tự mình nuôi con, làm “mẹ đơn thân” đã báo hiệu những tiếng nói dữ dội, dứt khoát hơn trong việc xiển dương cái mới và triệt tiêu cái hủ tục, lạc hậu. 

Quan niệm môn đăng hộ đối và kế đó, sinh con trai để nối dõi tông đường, đã bị Khái Hưng bóc mẽ bằng chính tinh thần trẻ trung, dứt khoát của kiểu người phụ nữ mới. Trên đà tiến của xã hội đang từng ngày canh tân, hành động Mai tự vượt cạn, tự nuôi con như một cuộc đối thoại lớn với thời đại, với thế hệ còn bám víu những luật lệ, khuôn thức đạo đức Nho giáo. 

Tuy thế, Mai vẫn chưa quyết liệt và mạnh mẽ như Loan trong tiểu thuyết “Đoạn tuyệt” (1936) của Nhất Linh. Loan, thậm chí, còn xem việc có con với người đàn ông mình không yêu là “cái dây trói chặt nàng vào cái đời đọa đày”. 

Loan nung nấu ý chí vùng thoát khỏi cuộc hôn nhân oái oăm đến mức “đến nỗi con nàng mà nàng cũng không mong mỏi nó ra đời”. Cuối cùng thì đứa bé bất hạnh ấy cũng đoản mệnh và Loan không còn khả năng sinh đẻ. Sự lưu cữu, dấu vết của cái cũ, như vậy, đã hoàn toàn bị đoạn tuyệt một cách đầy đau đớn.

Câu chuyện sinh nở, trong mắt các văn nhân ham muốn cải cách xã hội, thực ra, chỉ đóng vai phương tiện. Họ mượn câu chuyện này để truyền tải những biểu tượng có sức lay động tâm can và nhận thức của lớp độc giả mới. Nhất thiết phải cà khịa, phá vỡ và lật đổ các trật tự lỗi thời, các kiềm tỏa phi nhân. Đứng lên từ nước mắt nhưng người nữ mới, vì thế, đã luôn ngẩng cao đầu tiến về phía trước.

(Còn nữa)

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.