Sinh nở, một tự sự đa dạng về nữ giới khi trật tự cũ bị phá bỏ

Những năm đầu thế kỉ XX, câu chuyện sinh nở của nữ giới dần được chuyển dịch vào vị thế trung tâm trong quá trình hiện đại hóa xã hội. Ở đó, không chỉ có việc cải thiện một cách mạnh mẽ các điều kiện y tế, hộ sinh và chăm sóc thai nhi mà còn thường xuyên đặt ra những đòi hỏi, nhận thức mới về nữ quyền trong việc sinh và nuôi con theo môi trường hiện đại, văn minh, đối kháng với các quan niệm và hủ tục lạc hậu.

Văn chương bấy giờ, tuy không quá dồi dào, nhưng cũng có một số trường hợp rất nổi bật khắc họa rõ nét cuộc đối kháng này với lí do trước tiên: người nữ cần tự đổi mới triệt để.

Cho đến khi chính quyền thực dân Pháp thiết lập ở Việt Nam, vấn đề sinh đẻ và thai sản mới thực sự được bàn định một cách nghiêm túc. Một trong những nguyên nhân chính yếu là vì tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh quá cao, ngay cả ở các đô thị. 

Một nghiên cứu chuyên sâu của Tiến sĩ Nguyễn Thùy Linh (“Childbirth, Maternity, and Medical Pluralism in French Colonial Vietnam, 1880-1945” - “Sinh con, thai sản và đa dạng y học tại Việt Nam thời thuộc địa Pháp, 1880-1945”, 2016) cho thấy trong giai đoạn 1898-1900, tỉ lệ trẻ tử vong dưới một tuổi ở Sài Gòn và Chợ Lớn lên đến 68,72%, ở Hà Nội trong các năm 1914-1917 là khoảng 30%-50%, cao nhất là năm 1923 với 58,1%. 

Tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao xảy ra do các bệnh liên quan đến thai sản, sinh nở (phổ biến như bệnh uốn ván) và đặc biệt, là do kĩ thuật hộ sinh quá lạc hậu trong khi điều kiện y tế hiện đại thì chưa được thiết lập. Gần như trong truyền thống làng quê Việt Nam, hộ sinh phó mặc cho “bà đỡ” (bà mụ) với những kinh nghiệm chắp nối nhiều đời. Vai trò của “bà đỡ”, vì thế, đôi khi được thần thánh hóa, cùng nhiều thủ thuật mê tín khác, để đảm bảo mọi sự mẹ tròn con vuông như ý.

Nhưng chính quyền thuộc địa nhận ra sự bất ổn này và họ nhanh chóng đưa vấn đề thai sản, sinh đẻ vào tâm điểm hành động thay đổi. Cơ quan cứu trợ Xã hội được thành lập (1929), rồi sáp nhập với Cứu trợ Y tế, nhằm tạo ra những hoạt động từ thiện và cứu trợ xã hội, hướng tới bảo vệ, chăm sóc bà mẹ trẻ em một cách qui củ nhất. Không chỉ có bệnh viện mà còn có các nhà hộ sinh. Bệnh viện Phụ sản ở Chợ Lớn được xây dựng từ năm 1901. 

Ở Hà Nội, năm 1902, cùng với việc xây Bệnh viện Bảo hộ (còn gọi là Nhà thương Phủ Doãn), Toàn quyền Paul Beau còn xây nhà hộ sinh đầu tiên (tiền thân của Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em hiện nay). Trường Y Khoa Đông Dương cũng mở lớp đào tạo nữ hộ sinh dành cho người Việt. 

Cho đến đầu thập niên 1940, đã có hàng chục các tổ chức độc lập dưới dạng tổ hội từ thiện và cứu trợ y tế (Hội Tế Sinh, Hội Hợp Thiện, Hội Ánh Sáng, Bắc Kỳ Quảng Thiên Hội,…), tạo thành mạng lưới tương trợ phụ nữ, trẻ em rất hữu hiệu. Đây cũng là giai đoạn ra đời, phát triển của các “ấu trĩ viên” (nhà trẻ, nhà mẫu giáo), định hình nền giáo dục mầm non hiện đại. Chính các “ấu trĩ viên” đã thay đổi rất căn bản nhận thức của nữ giới và xã hội nói chung trong việc hình thành môi trường dạy dỗ, chăm nom trẻ em thay vì để chúng tự nhiên khôn lớn. 

Cùng với sự xuất hiện ngày càng đông đảo của phụ nữ tân thời có học vấn, kiến thức và hiểu biết về sinh sản đã dần được nữ giới áp dụng trong đời sống thường ngày. Năm 1905, nhà hộ sinh Hà Nội chỉ đón 250 sản phụ, nhưng năm sau (1906) thì lên đến 474, chứng tỏ phụ nữ Việt đã bắt đầu tuân theo kĩ thuật sinh nở của phương Tây và họ sẽ cảm thấy chủ động, an toàn hơn trong những tình huống ngặt nghèo của kì vượt cạn. “Bà đỡ” bớt thao túng, nữ hộ sinh mới là hình ảnh đáng nghe theo.

Tuy thế, ở nhiều vùng nông thôn, tình trạng phụ nữ sinh đẻ không có y tế hiện đại chăm sóc vẫn diễn ra. Học giả Pierre Gourou khi thực địa tại các làng Bắc bộ vào đầu thập niên 1930 đã phải thốt lên rằng, “chắc chắn người phụ nữ Việt Nam có sức bao nhiêu thì đẻ bấy nhiêu. Lấy chồng khi con trẻ, thường là trước 20 tuổi, họ sinh con sòn sòn cho đến tận khi mãn kinh”. 

Đẻ nhiều và đời sống nghèo khó triền miên khiến phụ nữ nông thôn không thể nào chạm đến các quyền cơ bản như học hành, lập nghiệp, và chua xót hơn là họ phải cho con cái như một hình thức giải thoát túng quẫn. Đây chính là lí do khiến văn chương lẫn báo chí bấy giờ thường khắc họa những bi kịch nghèo túng, đói rách do sinh nhiều con. 

Số phận bi kịch của chị Dậu phải bán con bán chó trong “Tắt đèn” (1937), dầu không có ý nghĩa cảnh báo, nhưng đã mô tả chân xác tình trạng đẻ rồi cho con đi ở đợ, cho người khác nuôi khá phổ biến bấy giờ. 

Còn Nam Cao, một cây bút tả thực xuất sắc khác, thường lựa chọn tình thế oái oăm và bi đát gài cắm vào truyện kể về những gia đình tuy đông con nhưng luôn neo đơn, teo tóp dần về số lượng do đau ốm bệnh tật hoặc èo uột, yếu thế khi phải va chạm với quyền bính địa phương. 

Đáng chú ý, trong cái nhìn của Nam Cao, phận vị của người nữ ở gia đình rất thảm hại, phần vì họ phải chịu đựng những ông chồng tầm thường, phần vì họ sinh đẻ quá nhiều. Ngay cả nhân vật Từ trong “Đời thừa” (1943), tuy được văn sĩ Hộ yêu thương, nhưng vẫn tự trói mình trong vòng khép nép, nhẫn nhịn và luẩn quẩn vì nghĩ mình đẻ con nheo nhóc là nguyên do gây bĩ cực cho chồng. 

Ở một tác phẩm khác, Những ngày thơ ấu (1940), Nguyên Hồng không quên người bà “sinh nở những mười tám bận. Nhưng các cô và các chú tôi chết dần, chết mòn gần hết”. Rút cuộc thì người bà cũng thân góa con côi và càng già cả thì càng rền rĩ, đay nghiến con cháu. Nhưng gây đau khổ cho tuổi thơ cậu bé Hồng hơn cả là việc mẹ Hồng có con ngoài giá thú, sự kiện chia rẽ tình mẫu tử bởi cái nhìn hà khắc, cay nghiệt của xung quanh. 

Nguyên Hồng còn có kiểu nhân vật nạn khác, Tám Bính, trong “Bỉ vỏ” (1938). Bính lỡ có con trước hôn nhân với một anh chàng “quan tham đạc điền”, để rồi phải chịu cay cực, đau đớn khi còn xuân sắc. Cảm giác bị phụ bạc, bị sỉ nhục vì đứa con sinh ngoài ý muốn khiến nàng “ví mình với một người tù, một người tù hoàn toàn bị bó buộc, và bị bó buộc mãi mãi nếu... đứa con nhỏ này còn trong tay”. 

Như thế, có thể thấy, nhiều nhà văn tả thực đã tập trung khai thác tình cảnh bi đát, cơ cực của người phụ nữ một khi họ rẽ ngoặt vào đời sống hôn nhân và con cái. Sinh nở, chức phận thiêng liêng không đem đến niềm vui kéo dài, mà ngược lại, là trở lực làm trầm trọng hóa cảm giác tủi phận, bẽ bàng, thua thiệt nơi nữ giới.  

Ảnh trong bài: Các lớp đào tạo nữ hộ sinh tại Hà Nội đầu thế kỷ 20.
Ảnh trong bài: Các lớp đào tạo nữ hộ sinh tại Hà Nội đầu thế kỷ 20.

Tất nhiên, trong quá trình hiện đại hóa, một bộ phận phụ nữ thị dân sẽ không lựa chọn đường đi như phụ nữ nông thôn. Ý thức về sự giải phóng khỏi các khuôn thức đạo đức tam tòng và nỗ lực tìm kiếm bình quyền nam nữ khiến tầng lớp “gái mới”, “gái tân thời” không ngừng nổi loạn. Từ trách nhiệm, bổn phận phải sinh đẻ, họ đã bắt đầu tìm kiếm những nghĩa lí khác của việc này, chẳng hạn như quyền làm mẹ, quyền được nuôi con và giáo dục con cái theo định hướng của mình. 

Một số trường hợp khác, thậm chí, đã coi sinh nở là “ngăn trở sự ăn chơi”, không được “rảnh rang sống cái đời phù hoa cùng chúng bạn” như lời than của nhà giáo Thái Phỉ vào năm 1941 trong “Một nền giáo dục Việt Nam mới”. Tôi nghĩ, đấy là lúc phụ nữ bắt đầu khiến xã hội lúng túng và câu chuyện sinh đẻ, từ đó, không thể giản đơn chỉ diễn ra một chiều. 

Trong tiểu thuyết “Nửa chừng xuân” (1934), cuốn tiểu thuyết gây tiếng vang lớn thời kì đó, nhân vật Mai là hiện thân cho kiểu phụ nữ có học thức biết cách định đoạt hạnh phúc và giá trị của mình. Việc Mai chấp nhận rủi ro, điều tiếng để tự mình nuôi con, làm “mẹ đơn thân” đã báo hiệu những tiếng nói dữ dội, dứt khoát hơn trong việc xiển dương cái mới và triệt tiêu cái hủ tục, lạc hậu. 

Quan niệm môn đăng hộ đối và kế đó, sinh con trai để nối dõi tông đường, đã bị Khái Hưng bóc mẽ bằng chính tinh thần trẻ trung, dứt khoát của kiểu người phụ nữ mới. Trên đà tiến của xã hội đang từng ngày canh tân, hành động Mai tự vượt cạn, tự nuôi con như một cuộc đối thoại lớn với thời đại, với thế hệ còn bám víu những luật lệ, khuôn thức đạo đức Nho giáo. 

Tuy thế, Mai vẫn chưa quyết liệt và mạnh mẽ như Loan trong tiểu thuyết “Đoạn tuyệt” (1936) của Nhất Linh. Loan, thậm chí, còn xem việc có con với người đàn ông mình không yêu là “cái dây trói chặt nàng vào cái đời đọa đày”. 

Loan nung nấu ý chí vùng thoát khỏi cuộc hôn nhân oái oăm đến mức “đến nỗi con nàng mà nàng cũng không mong mỏi nó ra đời”. Cuối cùng thì đứa bé bất hạnh ấy cũng đoản mệnh và Loan không còn khả năng sinh đẻ. Sự lưu cữu, dấu vết của cái cũ, như vậy, đã hoàn toàn bị đoạn tuyệt một cách đầy đau đớn.

Câu chuyện sinh nở, trong mắt các văn nhân ham muốn cải cách xã hội, thực ra, chỉ đóng vai phương tiện. Họ mượn câu chuyện này để truyền tải những biểu tượng có sức lay động tâm can và nhận thức của lớp độc giả mới. Nhất thiết phải cà khịa, phá vỡ và lật đổ các trật tự lỗi thời, các kiềm tỏa phi nhân. Đứng lên từ nước mắt nhưng người nữ mới, vì thế, đã luôn ngẩng cao đầu tiến về phía trước.

(Còn nữa)

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Các cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero), chính sách “xanh” với những mục tiêu quyết đoán cùng các tuyên bố mạnh mẽ của chính giới, làn sóng đầu tư vào năng lượng tái tạo cùng áp lực cắt giảm khí thải carbon khiến than đá, loại nhiên liệu từng là động lực cho các cuộc cách mạng công nghiệp dường như đang dần bị đẩy ra bên lề.

Nhưng trước các cú sốc địa chính trị, khủng hoảng năng lượng khi nguồn cung gián đoạn, và đặc biệt là nhu cầu điện tăng vọt do tăng trưởng kinh tế cũng như sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), than đá một lần nữa được nhắc đến như giải pháp an ninh năng lượng. Liệu thế giới có thể thực sự rời bỏ than đá? Quá trình chuyển đổi xanh trên thực tế dường như mong manh hơn nhiều so với những tuyên bố chính trị?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Một trong những bước thay đổi lớn của chiến tranh trong vòng mười năm trở lại đây là sự lên ngôi của máy bay không người lái (UAV). Những chiếc máy bay cho vào vali được mà có thể đảm nhận nhiệm vụ trinh thám, tiêu diệt mục tiêu, v.v… không kém gì các loại khí tài đắt tiền. Nhờ UAV mà các lực lượng phiến quân có thể tham gia cuộc chiến trên không chứ không còn phải chịu cảnh hoàn toàn lép vế trước quân đội chính quy. Tất nhiên là việc sử dụng drone hàng loạt cũng kéo theo hoạt động phát triển vũ khí diệt drone. Nhưng sử dụng máy bay - cả loại có và không có người lái - để tiêu diệt UAV có là giải pháp hữu hiệu?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Một cuộc chiến bí mật được cho là đang leo thang mạnh mẽ dọc theo biên giới Nam Mỹ. Theo CNN và hãng thông tấn Anadolu, ngày càng nhiều thông tin và nghi vấn cho rằng CIA đang tham gia sâu hơn vào các hoạt động nhằm vào mạng lưới băng đảng ma túy tại Mexico. Những thay đổi chiến lược trở nên rõ nét hơn khi chính quyền Mỹ nhìn nhận các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia này như những mối đe dọa an ninh có tính khủng bố, qua đó mở đường cho các hoạt động tình báo và bán quân sự tinh vi hơn trên lãnh thổ nước láng giềng.

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Sau gần 80 năm trong các kho lưu trữ mật của quân đội Mỹ, hàng trăm hồ sơ về UFO (vật thể bay không xác định) vừa lần đầu được Lầu Năm Góc công khai trước thế giới. Không có “xác người ngoài hành tinh” hay bằng chứng về những cuộc đổ bộ từ vũ trụ, nhưng các đoạn phim hồng ngoại, ghi âm và lời kể của phi công đang mở ra cuộc tranh luận lớn nhất nhiều thập niên qua về những vật thể bí ẩn mà ngay cả Washington cũng chưa thể giải thích.

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

Cuộc tấn công bằng drone vào nhà máy điện hạt nhân Barakah của UAE hôm 17/5 chỉ gây ra thiệt hại nhỏ. Nhưng dư chấn thì rất lớn, khi nó cho thấy ranh giới giữa một vụ tấn công “suýt trúng” với một thảm họa phóng xạ đang ngày càng mong manh, trong bối cảnh bất ổn địa chính trị bủa vây Trung Đông như hiện nay.

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Khi con tàu du lịch MV Hondius rời cảng Ushuaia, Argentina vào ngày 1/4/2026, không ai trên tàu có thể ngờ rằng họ sắp trở thành tâm điểm của một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu. Sau bốn tuần, ba hành khách đã tử vong, nhiều người khác nguy kịch, cuộc truy vết phức tạp được tiến hành. Ổ dịch virus Hanta trên con tàu này không chỉ là một thảm kịch đơn lẻ, nó đã trở thành phép thử mới đối với khả năng chống chịu của hệ thống y tế toàn cầu trong bối cảnh chúng ta vẫn đang loay hoay tìm kiếm sự đồng thuận để đối phó với những đại dịch mới.

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Nói về quốc phục hay cao hơn là bàn tới câu chuyện quốc phục ở nước ta có lẽ rất khó ấn định được thời điểm chính xác, bởi mỗi giai đoạn lại bùng lên rồi xẹp xuống, hòa tan trong vô vàn sự kiện, hoạt động... Những ngày gần đây, thông qua một hoạt động mang tính lễ nghi cấp Nhà nước, vấn đề cần có một bộ quốc phục, lễ phục mang tính thành quy lại xôn xao dư luận, khiến nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa trăn trở, đặt câu hỏi: “Tại sao, đến hôm nay, chúng ta vẫn còn băn khoăn đi tìm quốc phục?”.

Cây giáo trên tay vua

Cây giáo trên tay vua

Giáo là món vũ khí “kinh điển” của thời cổ đại, vì nó dễ chế tạo, dễ huấn luyện và được sử dụng rất linh hoạt. Ngoài binh lính, có những vị vua nước Việt cũng từng cầm giáo làm vũ khí, và có vị còn... ra đi vì mũi giáo.

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang âm thầm thúc đẩy sự mở rộng của nhiên liệu hóa thạch, giúp một số quốc gia gây ô nhiễm lớn nhất thế giới khoan và khai thác nhiều dầu khí hơn. Đã đến lúc cần xem xét lượng khí thải do AI tạo ra, vốn có thể vượt xa đáng kể so với tác động môi trường từ cơ sở hạ tầng của nó.

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

Thảm họa Chernobyl không chỉ khép lại bằng những con số thương vong, mà còn mở ra một bước ngoặt lớn trong tư duy về an toàn và chính sách năng lượng toàn cầu. Từ cú sốc 1986, khái niệm "văn hóa an toàn hạt nhân" được đặt lên hàng đầu, kéo theo những thay đổi sâu rộng trong thiết kế, vận hành và giám sát các nhà máy điện nguyên tử. Ngày nay, khi nhu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng, điện hạt nhân đang trở lại và đáng tin cậy hơn nhiều so với cách đây 4 thập kỷ.

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

Ngày 28/4/2026, Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về Chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch đã diễn ra tại thành phố Santa Marta của Colombia, với sự tham dự của đại diện hơn 50 quốc gia. Bức tranh rối ren của thị trường năng lượng thế giới thời gian qua cho thấy một thực tế phũ phàng là sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch đang trói buộc các quốc gia vào những biến động địa chính trị phức tạp, vốn nằm ngoài tầm kiểm soát. Trong bối cảnh đó, hội nghị tại Santa Marta đã được nhiều ý kiến ca tụng là sự kiện đánh dấu “bước khai tử” nhiên liệu hóa thạch.

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Khi những người ủng hộ ông Trump trong cuộc đua trở lại Nhà Trắng hô vang khẩu hiệu “Đưa việc làm trở lại”, họ không chỉ nói về những bảng lương đã mất, mà còn về cả một bản sắc đang phai mờ. Thực tế, những nhà máy mới vẫn đang mọc lên trên đất Mỹ, chỉ có điều chúng không nằm ở những thị trấn công nghiệp xưa cũ mà chọn những vùng đất mới. Đây vừa là lựa chọn tất yếu, đồng thời là một nghịch lý của nền kinh tế - chính trị Mỹ hiện tại.

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

Trong nhiều thế kỷ, ưu thế trên không là đặc quyền của các cường quốc quân sự. Máy bay không người lái (UAV) đang thay đổi điều đó. Khi khả năng tiếp cận từ trên không không còn là đặc quyền của vài cường quốc nữa, nó đang khiến cho những cuộc xung đột trở nên “cân bằng” hơn nhưng cũng khó kiểm soát hơn.

Sắc cờ thời xưa

Sắc cờ thời xưa

Chúng ta thường nghe kể rằng thời Nguyễn ở nước ta, vua treo cờ vàng, nhưng ít người biết rằng vua còn có nhiều sắc cờ khác nữa.

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Tòa án Pháp ra phán quyết phạt tù lãnh đạo một tập đoàn đa quốc gia vì hành vi tài trợ khủng bố trong bối cảnh xung đột tại Syria giai đoạn 2013 - 2014. Động thái này không chỉ phơi bày mức độ gắn kết giữa hoạt động kinh doanh và các mạng lưới cực đoan, mà còn phát đi cảnh báo rõ rệt về ranh giới pháp lý mà doanh nghiệp không thể vượt qua khi hiện diện tại các khu vực chiến sự.

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.