Rắc rối đặt tên chiến hạm trong Hải quân Mỹ

Trong nhiều thập kỷ, Hải quân Mỹ tuân thủ chặt chẽ các quy định việc đặt tên các tàu chiến. Truyền thống này đã thay đổi trong Chiến tranh Lạnh, khi Hải quân Mỹ phải chiều theo các chính trị gia để đổi lấy sự ủng hộ việc đóng mới tàu. Nhưng các sự kiện gần đây báo hiệu rằng truyền thống đang quay trở lại.

Trong suốt thế kỷ 20, Hải quân Mỹ nhìn chung có nhiều tàu hơn hiện nay. Quy mô của hạm đội dao động rất nhiều do bối cảnh chiến tranh, điều kiện kinh tế và nhu cầu chung. Số lượng tàu dao động từ mức thấp nhất là 174 tàu chiến vào năm 1905 (thời kỳ tương đối hòa bình) đến mức cao nhất là 6.768 tàu chiến vào năm 1945 (năm cuối cùng của Thế chiến II).

Trong phần lớn thời gian đó, Hải quân Mỹ thường kiểm soát chặt chẽ các quy ước đặt tên tàu. Thiết giáp hạm được đặt theo tên các bang, tàu sân bay được đặt theo tên các tàu chiến cũ hoặc nhân vật nổi tiếng, tàu tuần dương được đặt theo tên các thành phố và tàu khu trục được đặt theo tên các nhân vật nổi tiếng của hải quân và thủy quân lục chiến. Cho đến cuối những năm 1930, các tàu ngầm đều được đánh số, tạo thành những tên hiệu USS M-1 hay USS S-47. Sau đó, tàu ngầm được đặt tên theo các loài cá như USS Wahoo, USS Tang hay USS Moray.

Rắc rối đặt tên chiến hạm trong Hải quân Mỹ -0
Tàu tuần dương USS San Francisco, 1945.

Các quy định này được thực thi trong một thời gian dài và người ta có thể hiểu ngay con tàu là loại gì dựa trên cái tên. Nếu đọc tin trên báo nói rằng USS San Francisco sắp ghé thăm thành phố, người ta có thể đoán được rằng con tàu đó là tuần dương hạm, vì tất cả các con tàu được đặt tên theo các thành phố đều là tàu tuần dương.

Ngày nay, tên của một con tàu thực sự không liên quan nhiều đến chủng loại. Tàu được đặt theo tên của một thành phố có thể là tàu ngầm hoặc tàu chiến ven biển, trong khi tàu được đặt theo tên một người có thể là tàu tuần dương, tàu khu trục hoặc thậm chí là tàu ngầm. Kết quả này phần lớn là do các mưu đồ chính trị tạo ra.

“Cá không đi bỏ phiếu”

Việc đặt tên tàu luôn gắn liền với chính trị. Thiết giáp hạm, từng là vua của hạm đội, là loại khí tài cực kỳ đắt đỏ. Việc đặt tên một con tàu theo tên một bang khiến các đại diện của bang đó trong Quốc hội Mỹ nhiều khả năng ủng hộ yêu cầu tăng ngân sách cho hải quân. Logic tương tự cũng khi con tàu được đặt tên theo thành phố. Nhưng các tàu nhỏ hơn như tàu tuần dương, tàu khu trục, khinh hạm và tàu ngầm vẫn được đặt tên theo cách truyền thống.

Ở thời kỳ đầu thế kỷ 20 và Thế chiến II, Hải quân Mỹ có các thiết giáp hạm Iowa, Missouri, Massachusetts, North Carolina, Texas, New Jersey…, đều được đặt theo tên các bang. Chiến tranh Lạnh (thời kỳ sau Thế chiến II) đã khiến hệ thống đặt tên cũ thay đổi. Vào những năm 1970, Hải quân Mỹ thay vì đặt tên tàu ngầm tấn công theo loài cá như trước đổi qua đặt tên theo các thành phố và từ đặt tên tàu ngầm tên lửa theo các nhân vật lịch sử của Mỹ sang đặt tên theo các bang. Vào thời điểm đó, vẫn còn những tàu tuần dương được đặt tên theo các bang (chẳng hạn như những tuần dương hạm lớp California chạy bằng năng lượng hạt nhân), việc này bắt đầu khiến mọi thứ trở nên khó hiểu.

Theo tạp chí Pop Mech, lý do Hải quân Mỹ thay đổi, đặt tên các tàu theo địa danh là để tìm kiếm nguồn tài trợ. Cái chết của thiết giáp hạm sau Thế chiến II có nghĩa là những con tàu đắt tiền mới như tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân có thể được đặt tên theo các bang và thành phố. Đô đốc Hyman Rickover (cha đẻ chương trình tàu ngầm hạt nhân của Hải quân Mỹ) giải thích ngắn gọn lý do không còn đặt tên tàu ngầm theo tên sinh vật biển: “Cá không đi bỏ phiếu”.

Rắc rối đặt tên chiến hạm trong Hải quân Mỹ -0
Thiết giáp hạm USS Alabama trong ảnh chụp năm 1912 được đặt theo tên một bang của Mỹ.

Chiến tranh lạnh kết thúc và việc cắt giảm ngân sách quốc phòng càng khiến hệ thống đặt tên cũ bị phá vỡ. Sau khi Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát năm 1963, các tàu sân bay từ chỗ được đặt tên theo các tàu chiến nổi tiếng (ví dụ Enterprise, Lexington và Saratoga) lúc này mang tên các tổng thống và chính trị gia. Các tàu tuần dương bắt đầu được đặt tên theo các thành phố, con người, rồi đến những trận chiến nổi tiếng. Một số trận chiến (chẳng hạn như Gettysburg) không liên quan gì đến lực lượng hải quân. Nhiều tàu được đặt tên theo các trận chiến trên bộ ở Mỹ, đặt ra câu hỏi liệu đó có phải là cách để giành được sự ủng hộ của quốc hội hay không. Không chỉ tuần dương hạm, các tàu ngầm tấn công lúc này cũng được đặt tên theo các thành phố, bắt đầu với USS Los Angeles.

Các quyết định đặt tên đôi khi quay lại gây rắc rối cho Hải quân Mỹ. Tên của hai nghị sĩ ủng hộ hải quân là John C. Stennis và Carl Vinson trở thành tên của các tàu sân bay. Nhưng cả hai ông này đều là người da trắng phân biệt chủng tộc và việc gắn tên Stennis và Vinson khiến những người phản đối chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, các binh sỹ da màu không hài lòng.

John P. Murtha, nghị sĩ, sỹ quan thủy quân lục chiến Mỹ, là người dính vào nhiều vụ việc tham nhũng và tai tiếng khác. Tuy nhiên, sau khi ông này qua đời năm 2010, một tàu chiến đổ bộ đã được đặt tên là USS John P. Murtha. Năm 2015, Hải quân Mỹ đưa vào hoạt động tàu chiến đấu ven biển USS Jackson. Những người chỉ trích chỉ ra rằng tàu được đặt theo tên của tổng thống Andrew Jackson, được biết đến là chủ sở hữu nô lệ, ủng hộ chế độ nô lệ, ủng hộ cưỡng bức di dời nhiều bộ lạc người Mỹ bản địa.

Gần đây, Hải quân Mỹ quay trở lại thực hiện các quy ước đặt tên cổ điển. Tàu sân bay gần đây nhất được đặt theo tên của một tổng thống Mỹ là USS Gerald R. Ford. Nếu xu hướng này tiếp tục, tên của cựu Tổng thống Bill Clinton, người chưa bao giờ phục vụ trong quân đội và bị chỉ trích là trốn quân dịch, có thể được đặt cho một tàu sân bay và tương tự là cựu Tổng thống Barack Obama. Tàu tuần dương tên lửa dẫn đường USS Chancellorsville, được đặt tên theo chiến thắng ở Chancellorsville trong Nội chiến Mỹ thế kỷ 19, được đổi tên thành USS Robert Smalls để vinh danh anh hùng hải quân người Mỹ gốc Phi. Mặc dù điều này phá vỡ truyền thống gần đây là đặt tên các tàu tuần dương theo các trận chiến nổi tiếng, nhưng Hải quân Mỹ sẽ cho tất cả các tàu tuần dương nghỉ hưu vào năm 2027 và sau đó nhiều khả năng sẽ không biên chế mới loại tàu này.

Các tàu ngầm thuộc lớp Virginia trước đây được đặt theo tên các bang, đô đốc “cá không đi bỏ phiếu” Rickover và thượng nghị sĩ bang Virginia là John Warner. Tuy nhiên, ba tàu lớp Virginia mới nay lại được đặt tên theo truyền thống gắn với tên loài cá (đồng thời cũng là tên của các tàu ngầm trong Thế chiến II với thành tích chiến đấu lừng lẫy) là USS Barb, USS Tang, và USS Wahoo. Các tàu sau đó mang tên người đứng đầu Hải quân John Dalton và tên các thành phố, với ba tàu USS Long Island, USS San Francisco và USS Miami.

Rắc rối đặt tên chiến hạm trong Hải quân Mỹ -0
Các khinh hạm lớp Constellation mới sẽ được đặt theo tên các khinh hạm được Hải quân Mỹ đặt hàng vào năm 1794.

Lịch sử đặt tên phức tạp

Sự rắc rối trong cách đặt tên tàu chiến của Hải quân Mỹ đã được hình thành từ thế kỷ 18. Theo history.navy.mil, trang web lịch sử của Hải quân Mỹ, lực lượng này ra đời ngày 13/ 10/1775, theo đạo luật của Quốc hội Lục địa, cơ quan đại diện được thành lập bởi các thuộc địa thuộc Anh ở Bắc Mỹ vào năm 1774, đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn đến Cách mạng Mỹ và sự thành lập nước Mỹ.

Các tàu của Hải quân Lục địa và của Hải quân Mỹ khi đó chưa được đặt tên theo bất kỳ quy tắc nào. Tên tàu trong Hải quân Lục địa và Hải quân Mỹ thời kỳ đầu được đặt theo nhiều cách. Để nhấn mạnh mối quan hệ mà nhiều người Mỹ vẫn dành cho Anh, con tàu đầu tiên của Hải quân Lục địa được đặt tên là Alfred để vinh danh Alfred Đại đế, vua xứ Wessex, người có công xây dựng lực lượng hải quân Anh. Một con tàu khác được đặt tên là Raleigh để tưởng nhớ những thành tích đi biển của Walter Raleigh, nhà thám hiểm, chính trị gia, nhà văn tài năng người Anh. Một số tàu vinh danh những người yêu nước và anh hùng thời kỳ đầu.

Những tàu khác được đặt tên với ý niệm đề cao các lý tưởng và thể chế của đất nước non trẻ, ví dụ tàu Constitution (hiến pháp), tàu Independence (độc lập), tàu Congress (quốc hội). Một tàu chiến hạ thủy năm 1782 sau đó đem tặng hải quân Pháp được đặt tên là America (nước Mỹ). Một khinh hạm được đặt tên Bourbon để chào mừng nhà vua Pháp, thúc đẩy liên minh giữa hai nước ủng hộ sự nghiệp độc lập của Mỹ. Các tên tàu khác vinh danh địa danh nước Mỹ (Boston, Virginia).

Thời kỳ đặt tên “ngẫu hứng” cho các chiến hạm kết thúc từ đầu thế kỷ 19. Ngày 3/3/1819, một đạo luật của Quốc hội Mỹ chính thức trao trách nhiệm đặt tên cho các tàu của Hải quân vào tay Bộ trưởng Hải quân, cho dù đây vốn là một đặc quyền mà nhân vật này vẫn thực hiện. Đạo luật này tuyên bố rằng tất cả các tàu của Hải quân Mỹ, đang đóng hoặc được đóng sau này, sẽ do Bộ trưởng Hải quân đặt tên, dưới sự giám sát của Tổng thống Mỹ, theo quy tắc sau đây: Những tàu hạng nhất được gọi theo tên các bang, hạng hai theo sông ngòi, hạng ba theo tên các thành phố, thị tứ chính… Điểm cuối cùng là phải đảm bảo không có tàu trùng tên. Điều luật này vẫn tồn tại đến ngày nay.

Tuy nhiên, gần 40 năm sau mới có luật quy định cụ thể thế nào là tàu chiến hạng nhất, hạng hai. Đạo luật ngày 12/ 6/ 1858 chính thức xác định "lớp tàu” theo số lượng pháo. Tàu được trang bị 40 khẩu pháo trở lên thuộc loại hạng nhất, những tàu có ít hơn 40 nhưng trên 20 pháo là hạng hai. “Ngân hàng tên” cho các tàu hạng hai đã được mở rộng, ngoài các con sông có thêm các thị tứ chính.

Cuối thế kỷ 19, nhiều điều luật mới ra đời phản ánh những thay đổi trong Hải quân Mỹ khi tàu gỗ có buồm, đạn pháo nạp ở đầu nòng nhường chỗ cho những con tàu thép có pháo nạp đạn ở phía sau. Một đạo luật ngày 4/5/1898 quy định rằng “tất cả các thiết giáp hạm và tàu giám sát hạng nhất (tàu phòng thủ bờ biển được trang bị pháo hạng nặng) sẽ được đặt tên theo các bang và không được đặt tên theo bất kỳ thành phố, địa điểm hoặc nhân vật nào cho đến khi hết tên của các bang”.

Theo trang web của Hải quân Mỹ, các thủ tục và thông lệ liên quan đến việc đặt tên tàu chiến của họ là di sản của quá trình phát triển và truyền thống hơn là luật pháp. Nhưng điều không thay đổi là tên của các tàu mới đều do Bộ trưởng Hải quân quyết định. Hằng năm, Bộ Tư lệnh Di sản và Lịch sử Hải quân Mỹ (NHHC) tổng hợp các đề xuất về tên tàu và chuyển cho Giám đốc Tác chiến Hải quân theo phân cấp. Những khuyến nghị này là kết quả nghiên cứu về lịch sử của Hải quân Mỹ và từ những đề xuất của quân nhân, cựu chiến binh và công chúng.

Sau khi xem xét ở các cấp chỉ huy khác nhau, Giám đốc Tác chiến Hải quân ký bản ghi nhớ đề xuất tên cho chương trình đóng tàu năm hiện tại gửi Bộ trưởng Hải quân. Bộ trưởng xem xét những đề cử này, cùng với những đề cử khác mà ông nhận được, cũng như những suy nghĩ của riêng ông về vấn đề này. Vào thời điểm thích hợp, ông ta chọn tên cho những con tàu cụ thể và công bố.

Nguyễn Xuân Thủy

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.