Những tranh cãi mới về người đầu tiên chinh phục Everest

Những tranh cãi mới trong giới khoa học đang cho rằng, đỉnh núi cao nhất địa cầu Everest đã có người đặt chân tới lần đầu tiên cách đây hơn 9 thập niên, chứ không phải mãi tới tận giữa thế kỷ trước như nhiều người vẫn lầm tưởng.

Thoạt nghe thật vô lý, vì bất cứ ai cũng biết rằng Everest - ngọn núi cao 8.848m trên “mái nhà thế giới” Himalaya - bị chinh phục trước tiên bởi vận động viên leo núi cự phách người New Zealand Edmund Hillary và Tenzing Norgay - một thổ dân Nepal trong vai người dẫn đường - cách đây đúng 62 năm, vào ngày 29/5/1953.

Những bức ảnh do đích thân E. Hillary chụp về cuộc chinh phục lịch sử này đã được kiểm chứng chi tiết tại trụ sở Hiệp hội Địa lý Hoàng gia Anh ở London, trước khi được công bố rộng rãi trên tờ nhật báo The Times vào giai đoạn giữa thập niên 1950 của thế kỷ XX. Đồng thời các bằng chứng tư liệu cũng cho thấy vùng sườn phía bắc Everest - thuộc phần lãnh thổ Trung Hoa - luôn phủ dày băng tuyết…

Tuy không phản bác lại thành tích của E. Hillary và T. Norgay, nhưng Giáo sư T. Holzel vẫn một mực khẳng định rằng, thực ra “kỳ tích” ấy đã được hoàn tất ngay từ năm 1924 bởi một nhóm thám hiểm người Anh, họ cũng tiến hành chinh phục Everest từ mạn bắc… Sau đây là lời tường trình của học giả T. Holzel: “Gần trưa ngày 8/6/1924, một ngày lặng gió, Phó giáo sư Viện đại học Cambridge George Mallory (1886-1924), được người sinh viên Andrew Irvine (1902-1924) tháp tùng đã khởi hành từ sườn phía bắc hướng lên đỉnh núi. Họ đã ở độ cao khoảng 8.600m so với mực nước biển, 250m còn lại tới đỉnh núi hiển nhiên sẽ được họ chinh phục tối đa là trong vòng 3 giờ sau…

Còn từ độ cao 7.900m bên dưới, một trong những thành viên khác thuộc đoàn thám hiểm là Noel Odell (1890-1987) đang quan sát 2 người bằng ống nhòm. Anh nhìn thấy rõ cái bóng nhỏ nhắn đi trước của Phó giáo sư G. Mallory, kế sau là hình dáng cao lớn của chàng sinh viên A. Irvine… Đột nhiên vào lúc 12 giờ 55 phút, hình dáng của cả 2 nhà leo núi quả cảm đã vĩnh viễn “tan vào mây ngàn, không để lại một dấu vết nào nữa”, như lời thuật lại của N.Odell.

Cặp thầy trò G.Mallory (trái) và A.Irvine trước giờ khởi hành lên Everest (ảnh chụp năm 1924).
Cặp thầy trò G.Mallory (trái) và A.Irvine trước giờ khởi hành lên Everest (ảnh chụp năm 1924).

Sự kiện bi đát trên rặng Himalaya lúc ấy đã khiến cả thế giới chấn động. Một buổi truy điệu trọng thể tưởng nhớ G. Mallory và A. Irvine đã được tổ chức tại giáo đường Thánh Pavel nổi tiếng giữa kinh thành London, với sự hiện diện của Vua Anh George Đệ ngũ và Hoàng hậu Mary.

Còn những bức pô ảnh tư liệu về sự kiện tang thương này do Đại úy John Noel thực hiện, đã làm xúc động hàng triệu con tim trên hành tinh. J.Noel cũng chính là một thành viên trong đoàn thám hiểm, đã dùng ống kính tele chuyên dụng chụp các cảnh minh chứng về sự mất tích của Mallory và Irvine: các túi ngủ thám hiểm được N.Odell, J.Noel và 2 người dẫn đường xếp thành hình chữ thập - biểu tượng cho cái chết vĩnh hằng…

Số phận rủi ro của 2 nhà leo núi quả cảm người Anh vào đầu thế kỷ XX đã được Tom Holzel lưu tâm ngay từ khi còn là học sinh. Sau khi đọc một bài báo kèm các bức ảnh tư liệu về câu chuyện thám hiểm bất thành… ông liền dốc sức vào công việc truy tìm và nghiên cứu tất cả các hồ sơ lẫn tàng thư lưu trữ có trong các thư viện, liên quan tới sự chinh phục ngọn núi cao nhất địa cầu, rồi đưa ra giả thuyết mang tính thuyết phục của mình trước công luận.

Theo học giả Tom Holzel, thì trong 250m còn lại dẫn lên đỉnh núi, Phó giáo sư Mallory đã quyết định “chia tay” với người tháp tùng Irvine để tự mình tấn công - chinh phục đỉnh núi hiểm trở. Với tất cả đoàn tùy tùng còn lại cũng vậy, Mallory đã buộc họ phải “trụ” lại tại Trạm nghỉ số 6 - tương ứng với cao độ 8.229m. Đồng thời Tom Holzel cho biết thêm: “Cũng có thể nguyên nhân khiến Mallory phải tạm “giã từ” cậu học trò Irvine vì có sự trục trặc trong bộ máy cung cấp dưỡng khí đeo sau lưng. Rõ ràng là khí oxy đã bị đóng băng hoặc là rò rỉ…”.

Đại úy kiêm nhiếp ảnh gia J. Noel tham gia đoàn thám hiểm Everest của Phó giáo sư G. Mallroy.
Đại úy kiêm nhiếp ảnh gia J. Noel tham gia đoàn thám hiểm Everest của Phó giáo sư G. Mallroy.

Vẫn theo giả thuyết của Giáo sư Tom Holzel, thì G. Mallory quyết chí tận dụng thời gian cố lên đến đỉnh núi vào xế chiều, để kịp xuống núi trở lại Trại số 6 trước lúc trời tối. Nhưng nhà khoa học lão luyện kiêm vận động viên nghiệp dư lại mặc rất “phong phanh” trước thời tiết vô cùng khắc nghiệt quanh vùng đỉnh Everest. G. Mallory chỉ vận có 2 chiếc áo len bên trong áo khoác lông, song song bên dưới là chiếc quần lông lót bông.

Cũng chính cái đêm 8/6/1924 đáng ghi nhớ ấy lại là một buổi tối giá lạnh nhất trong suốt thời gian cuộc thám hiểm. Ví như nhà leo núi Roger Odel ngụ tại Trại số 5 ở độ cao 7.900m chẳng hạn, suốt cả đêm anh trằn trọc không sao ngủ được vì lạnh, cho dù anh đã đắp chồng cả hai chiếc túi ngủ cực dày.

Mặt khác, học giả Tom Holzel cũng thừa nhận: “G. Mallory thừa biết rằng khả năng sống sót của mình chỉ là “một phần ngàn của tia hy vọng”. Hiển nhiên là ông đã bị chết cóng trong cái đêm kinh hoàng ấy giữa đỉnh núi”. Số phận của A. Irvine cũng chẳng khả quan hơn, cho dù anh đã kịp tuột xuống lúc màn đêm giá buốt chưa ập tới, nhưng bất ngờ Irvine gặp phải bão tuyết giữa chừng, khiến bị trượt chân và rơi thẳng xuống dọc theo sườn núi phía bắc.

Khi học giả Tom Holzel cho công bố giả thuyết của mình trên tờ tạp chí chuyên ngành Mountain, ông gặp phải sự phản đối dữ dội từ giới Everest học. Riêng Giáo sư Wolt Answer, tác giả công trình nghiên cứu Everest đồ sộ nhất thì khẳng định rằng: “Cả 2 thầy trò Mallory không rời nhau nửa bước trong việc chinh phục phần còn lại của đỉnh núi, cũng như họ cùng tử nạn bên nhau”.

Phía ủng hộ giả thuyết của Giáo sư Tom Holzel, tiêu biểu là 2 thành viên cùng đoàn với G. Mallory thuở trước: J.Noel và N.Odell. Họ đều lên tiếng quả quyết: “Everest huyền bí không bao giờ có thể hé lộ hết mọi bí mật của mình!”. Nhà leo núi N.Odell nay đã 109 tuổi, đồng thời là vị Giáo sư Địa chất đầu ngành suốt mấy thập niên nay ở Vương quốc Anh, tái khẳng định: “Theo tôi, chí ít một trong 2 thầy trò Mallory đã leo được tới đỉnh Everest!”.

Giả thuyết của học giả Tomas Holzel còn được sự hậu thuẫn từ cựu Tổng thống Mỹ George H. Bush - thân phụ của nguyên Tổng thống George W. Bush, người dạo năm 1975 khi đang là đại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc, từng tiến hành thương thảo và được Bắc Kinh cho phép giới thám hiểm Everest có thể chinh phục ngọn núi từ phần phía bắc - ít hiểm trở hơn - thuộc lãnh thổ Trung Hoa.

Chiếc cuốc chim của A. Irvine.
Chiếc cuốc chim của A. Irvine.

Mục đích kế tiếp giúp củng cố giả thuyết của Giáo sư Tom Holzel là phải cử các toán thám hiểm mới lên Everest, cốt sao tìm được thi thể của 2 thầy trò G. Mallory và A. Irvine. Người ta cho rằng xác của 2 người đã được “ướp băng” ở độ cao trên 8000m, nơi nhiệt độ xung quanh không bao giờ vượt quá mức 0 độ C. Ngoài ra học giả T. Holzel cũng hy vọng là sẽ tìm thấy những dòng nhật ký do chính tay Mallory quả cảm viết, cũng như tìm ra các đồ vật liên quan như chiếc bình dưỡng khí, hoặc một đoạn dây nào đó chẳng hạn…

Trong trường hợp không hiện hữu một mẩu dây nào hết, rõ ràng là 2 thầy trò Mallory đã chia tay nhau - vì không buộc tay vào nhau - ngay sau khi học rời Trại số 6. Còn từ cuốn nhật ký của Phó giáo sư G. Mallory ta sẽ hiểu được vấn đề, rằng vì sao 2 nhà leo núi nghiệp dư lại quyết định chinh phục 250m độ cao còn lại tận gần xế trưa, chứ không phải vào lúc 8 giờ sáng như dự tính? Vật chứng rõ ràng nhất sẽ là cỗ máy ảnh hiệu Kodak mà Phó giáo sư G. Mallory luôn mang bên mình, một trong những bằng chứng khiến giả thuyết về những người đầu tiên chinh phục đỉnh núi cao nhất thế giới của Tom Holzel trở thành hiện thực.

Theo các chuyên gia của Kodak, thì trong điều kiện thời tiết luôn khô lạnh giữa bình độ cao, các tấm phim sẽ vẫn giữ được nét “nguyên bản” - bất chấp thời gian, tương tự như cách bảo quản phim trong môi trường nhiệt độ thấp - không đổi bây giờ vậy. Nhưng điều tiên quyết là phải tiến hành tráng rửa phim ngay tại chỗ - trên độ cao tương ứng; còn với cao độ thấp hơn như tại các trại tạm nghỉ phía dưới chẳng hạn, có thể hình âm bản sẽ không hiện ra do thời gian quá lâu của 9 thập niên qua.

Giáo sư Tom Holzel tràn trề hy vọng là sẽ tìm được các cuộn phim vô giá ấy, vì “sở trường” cố hữu của Mallory - như các thành viên cùng đoàn thám hiểm cho biết - là chụp ảnh, ngay cả khi các ngón tay đang tê cứng vì lạnh, ông vẫn lên phim và nhấn nút chụp liên hồi. Còn phim từ máy ảnh của Irvine có thể cho biết rằng phải chăng G. Mallory đã đi một mình lên đỉnh… Học giả Tom Holzel quyết định đặt làm các thiết bị dò tìm cảm ứng kỹ thuật số tân tiến, giúp phát hiện ra các đồ vật cho dù đang nằm dưới lớp tuyết dày nhiều mét.

  Điều đáng nói nữa là đích thân Giáo sư Tom Holzel cũng tham gia vào công việc truy tìm các bằng chứng trên núi cao. Ủng hộ quan điểm của ông là câu chuyện của nhà leo núi cự phách người Nhật Bản Ryoten Hasagawa - người từng chinh phục đỉnh Everest trong năm 1979, cùng với người dẫn đường là Wang Hungbao - một thổ dân người Hoa đã nhiều năm “lăn lộn” với Everest và trực tiếp đặt chân lên đỉnh núi lần đầu tiên vào năm 1975.

W. Hungbao cho biết là trong quá trình “chinh phục” núi cao của mình, anh đã 2 lần gặp phải xác tử thi trên các độ cao tương ứng là 6.508m và 8.100m. Người đầu đã được nhận dạng: đó là Morrirs Wilson, một vận động viên nghiệp dư người Anh ở địa hạt Yorkshire, từng bị thôi thúc bởi ý tưởng tự mình “chiếm lĩnh” Everest và đã bỏ mạng giữa chừng. Thế còn nạn nhân thứ 2 trên độ cao 8.100m là ai?

Theo lời Wang Hungbao thì đó cũng là một người Anh. Khi W. Hungbao chạm tay vào quần áo của nạn nhân, tự dưng nó bục ra… “như bột mì vậy”. Còn R. Hasagawa không thể hỏi thêm W. Hungbao cho kỹ hơn được, bởi vài ngày sau anh đã bỏ mạng vì một cơn tuyết lở. Riêng R. Hasagawa bị gãy 3 cái xương sườn cũng trong vụ tai nạn ấy… Nhưng câu chuyện dang dở của người dẫn đường gạo cội nói trên đã góp phần củng cố thêm giả thuyết của học giả Tom Holzel, vì không xa nơi W. Hungbao phát hiện ra xác nạn nhân vô danh, người ta đã tìm thấy cây cuốc chim nhỏ của chàng sinh viên A. Irvine. Tới năm 1999, các nhà leo núi đã tìm ra thi hài của Phó giáo sư G. Mallory trên độ cao 8.155m thuộc mạn bắc Everest, tuy nhiên chiếc máy ảnh “bất li thân” của ông vẫn vương vất đâu đó dưới các lớp băng sâu…

Riêng vận động viên huyền thoại 71 tuổi người Italia Reinhold Messner, người duy nhất đã chinh phục tất cả các đỉnh núi cao hơn 8000m trên địa cầu, đã lên tiếng nhận định: “Trường hợp George Mallory là một trong những điều bí ẩn nhất của lịch sử đương đại, cần phải được khám phá một cách thuyết phục nhất!”.

Kim Dung

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.