Những góc tối trong việc xây dựng kênh đào Panama

Nằm ở Trung Mỹ, bờ biển Panama một bên giáp với Đại Tây Dương, bên kia giáp với Thái Bình Dương. Trước khi có con kênh đào, tàu thuyền từ Đại Tây Dương muốn sang Thái Bình Dương hoặc ngược lại sẽ phải đi vòng qua eo biển Drake và mũi Horn, đường dài 4.500km; nhưng nếu đi qua kênh đào, nó chỉ còn 77km. Tuy nhiên trong quá trình xây dựng, gần 28.000 người đã thiệt mạng.

Ý tưởng từ thế kỷ 16

Năm 1513, Vasco Nunez de Balboa, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha trong chuyến đi dọc bờ biển Nam Mỹ đã nhận ra rằng eo đất nằm giữa thành phố Gamboa và cảng biển Kobbe của Panama dài gần 80km là con đường ngắn nhất để tàu bè có thể từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương và ngược lại nếu eo đất ấy được thay thế bằng một con kênh đào.

pa1.jpg -0
Các kỹ sư theo dõi việc xẻ núi đào kênh.

Ý tưởng của Balboa đã khơi mào cho câu hỏi làm thế nào để rút ngắn khoảng cách giữa hai đại dương. Năm 1534, Hoàng đế La Mã là Charles V ra lệnh khảo sát để xác định xem có thể xây dựng một con kênh hay không. Tuy nhiên những người khảo sát cho rằng việc này là không thể vì địa hình quá phức tạp.

Trong những thế kỷ tiếp theo, vài quốc gia cũng đã nuôi tham vọng đào kênh Panama nhưng mãi đến năm 1881, một công ty Pháp, lãnh đạo bởi Ferdinand de Lesseps, người đã phát triển kênh đào Suez ở Ai Cập, dự định đào một con kênh ngang với mực nước biển, giống như kênh đào Suez nhưng quá trình đo đạc đã chứng minh rằng nếu không làm âu thuyền thì tàu bè không thể qua lại, đặc biệt là khi thủy triều xuống thấp. Và mặc dù đã đổ vào 260 triệu USD cũng như đã đào được 70 triệu mét khối đất nhưng cuối cùng, dự án phải bỏ ngang vì công ty của Ferdinand de Lesseps  phá sản.

Cuối năm 1896, Philippe Jean Bunau Varilla, kỹ sư Pháp, người đã cùng Ferdinand de Lesseps đào kênh Panama vận động các nhà lập pháp Mỹ mua lại dự án này bởi lẽ lúc đó, người Mỹ cũng đang muốn đào một con kênh xuyên qua Nicaragua. Sau khi Bunau Varilla chứng minh rằng Nicaragua có những ngọn núi lửa nguy hiểm, đe dọa sự an toàn của tàu bè thì năm 1902, Quốc hội Mỹ đồng ý mua lại dự án nhưng khi đó Panama là một phần của Colombia nên quốc gia này từ chối phê chuẩn thỏa thuận cho phép người Mỹ tiến hành đào kênh.

Với sự cố vấn của Bunau Varilla rồi được sự chấp thuận ngầm của Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt, người Panama nổi dậy và tuyên bố độc lập. Tiếp theo, chính phủ lâm thời Panama cho phép nước Mỹ có toàn quyền đối với một khu vực rộng hơn 900km2 để triển khai việc xây dựng kênh đào. Chưa hết, con kênh đào ấy sau khi hoàn thành sẽ do người Mỹ kiểm soát vĩnh viễn với sự đồng ý của chính phủ lâm thời Panama.

Những góc tối

Năm 1904, việc tái khởi công đào kênh Panama bắt đầu bằng cách xây dựng một tuyến đường sắt dùng để chuyên chở máy móc thiết bị, khởi đầu từ thành phố Gamboa. Hàng nghìn công nhân mang vác vật liệu trên vai, đi bộ trong những khu rừng rậm giữa những ngọn núi với nhiệt độ mùa hè trung bình 37 độ C trong tiếng vo ve của ruồi vàng và muỗi. Vào mùa mưa, những cơn mưa nhiệt đới như trút nước kéo dài từ ngày này sang ngày khác đã khiến con sông Chagres tràn bờ, làm ngập lụt phần lớn lán trại. Đã vậy đa số thực phẩm được những chiếc tàu biển từ Mỹ mang đến sau khi vượt một quãng đường dài 22.500km nếu tính từ điểm khởi hành là cảng San Francisco.

Những góc tối trong việc xây dựng kênh đào Panama -0
Lắp đặt âu thuyền trên kênh đào Panama.

Kỹ sư Rufus Forde viết trong nhật ký: “Đôi khi bạn không nhìn thấy mặt trời trong hai tuần liên tiếp. Quần áo luôn ẩm ướt vì không thể phơi khô. Rắn độc xuất hiện khắp nơi, tôi đã tận mắt chứng kiến 27 người chết vì bị rắn cắn trong thời gian chưa đầy 3 tháng. Và không chỉ loài rắn, cái chết đến với chúng tôi dưới mọi hình thức: Những tảng đá nặng hàng tấn bất ngờ lăn xuống, những con muỗi bé li ti mang mầm bệnh sốt rét, những cơn lũ quét qua, cướp đi hàng chục mạng người…”. 

Kỹ sư trưởng John Findley Wallace xuống tinh thần đến mức đặt mua từ Mỹ một chiếc… quan tài bằng kim loại để nếu ông chết, xác ông có thể đưa về nhà thay vì chôn trong rừng. John Findley Wallace cho biết đến tháng 6-1905, 3/4 công nhân từ Mỹ sang đã bỏ trốn khiến ông phải gấp rút tuyển người bản xứ Antigua, Barbados và Jamaica. Trong sổ ghi chép công tác hiện còn lưu giữ tại Bảo tàng Hàng hải San Francisco, kỹ sư trưởng Wallace viết: “Người bỏ trốn phần lớn đều không thể chịu nổi cuộc sống cơ cực, công việc nặng nhọc và thức ăn thiếu thốn. Vào mùa mưa, hàng tuần lễ liền họ chỉ được cung cấp bánh mì và súp củ cải. Rất nhiều lần chúng tôi phải thuyết phục dân bản xứ bán cho chúng tôi những con la để xẻ thịt nhưng không phải lúc nào cũng thành công vì loài la là phương tiện chính của họ trong việc vận chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác…”.

Người kế nhiệm Wallace là kỹ sư trưởng John F. Stevens. Do nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ vệ sinh môi trường nên Stevens chỉ định bác sĩ  William Crawford Gorgas phụ trách vấn đề này. Trước đó, hầu hết những người làm việc trên công trường xây dựng kênh đào Panama đều tin rằng rác thải thối rữa, những hố chứa phân người của những nhà vệ sinh lộ thiên cộng với vi khuẩn trong không khí sinh ra từ đất nhiệt đới đã gây nên bệnh sốt vàng da và sốt rét nên để chống lại nó, công nhân bản xứ thường xuyên nhai lá coca - là loại lá về sau được dùng để chiết xuất ra chất ma túy cocain. Chỉ riêng bác sĩ Gorgas nghi ngờ muỗi là nguyên nhân nên ông đã yêu cầu tất cả công nhân rắc vôi bột xung quanh từng ngôi nhà, đổ dầu hỏa xuống các vũng nước, che chắn cửa sổ và cửa ra vào bằng những tấm vải nên bệnh sốt vàng da có phần giảm đi nhưng bệnh sốt rét tỏ ra ngoan cố hơn. Theo bác sĩ Gorgas, 80% công nhân đã phải nhập viện ít nhất 1 lần trong năm 1906 vì bệnh sốt rét. Chỉ đến khi ông bắt buộc công nhân phải ngủ trong màn và phải uống thuốc Quinin thường xuyên cũng như bôi dầu hỏa lên người trong suốt quá trình làm việc thì bệnh sốt rét mới thuyên giảm. Tuy vậy, nó cũng đã kịp giết chết gần 3.000 người.

Khi mối đe dọa do bệnh tật giảm bớt, tai nạn lao động trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Năm 1909, khi công nhân đào một con mương sâu 12m, rộng 100m, dài 15km xuyên qua một hẻm núi có biệt danh là “Hẻm núi địa ngục”, nó đã làm chết hơn 100 người do đuối nước, cây đè, đất lở. Với khối lượng thuốc nổ được sử dụng lên tới 3 triệu kg, nhiều công nhân trước đó đã bị điếc một phần do tác dụng phụ của thuốc Quinin ngừa sốt rét, họ không nghe rõ hiệu lệnh tìm nơi ẩn náu khi các kỹ sư đốt dây cháy chậm nên hàng nghìn mét khối đất ập xuống đầu họ, biến nơi họ đứng thành nơi an nghỉ cuối cùng.

Công nhân Antonio Sanchez kể với con trai mình: “Nhiều lao động bị thương nặng, một số phải cắt cụt chi. Các bệnh viện trong khu vực kênh đào giống như những bệnh viện thời chiến”. Khi đã bị cắt cụt chi, họ buộc phải nghỉ việc với số tiền bồi thường ít ỏi. Nhân cơ hội này, các nhà sản xuất tay chân giả cạnh tranh ráo riết để giành được hợp đồng. Một nhà sản xuất là AA Marks đã tự hào rằng tay chân giả chống thấm nước của họ “hoàn toàn phù hợp với khí hậu và điều kiện địa phương”, và là “loại duy nhất đáp ứng nhu cầu”.  Vẫn theo Antonio Sanchez, một số công nhân sau khi bị cắt cụt một bàn chân hoặc một đoạn xương ống chân rồi khi được lắp chân giả, họ lại tiếp tục làm việc. Con trai Antonio Sanchez cho biết: “Cha tôi nói có lần ông tận mắt chứng kiến một công nhân mang chân giả nhảy lên một chiếc xe lửa chở vật liệu đang chuẩn bị khởi hành. Do mất thăng bằng nên ông ấy ngã xuống, bị bánh xe lửa nghiến đứt làm đôi…”.  

Tương lai của kênh đào Panama

Ngày 15-8-1914, kênh đào Panama chính thức mở cửa và con tàu đầu tiên đi qua nó là tàu chở hàng Ancon. Kênh có 17 âu thuyền cùng 2 hồ nhân tạo để cung cấp nước cho âu thuyền với tổng chiều dài 77km nếu chỉ tính riêng phần do con người thực hiện, còn nếu tính toàn bộ con kênh thì nó là 81,5km.

Những góc tối trong việc xây dựng kênh đào Panama -0
Con tàu đầu tiên vào âu thuyền để qua kênh đào Panama khi nó chính thức hoạt động ngày 15-8-1914.

Kỹ sư McCommick, người phụ trách việc xây dựng âu thuyền nói: “Âu thuyền - hay còn gọi là hệ thống khóa nước là những tấm thép khổng lồ lắp đặt ở những cao độ khác nhau dọc theo con kênh. Khi thủy triều xuống thấp, tàu thuyền đi vào một âu thì cánh cửa thép nằm phía sau đuôi tàu và trước mũi tàu sẽ đóng lại, nước được bơm vào cho đến khi tàu thuyền qua được âu tiếp theo, trung bình là 30m so với mực nước biển. Quá trình này được lặp đi lặp lại cho đến lúc mực nước ở âu cuối cùng bằng với mực nước ở cửa biển, nơi tàu thuyền sẽ ra khỏi kênh. Cứ mỗi lần đóng mở 17 âu thuyền, 200 triệu lít nước sẽ chảy ra biển”.

Cuối năm 1999, Chính phủ Mỹ chính thức chuyển giao quyền quản lý kênh đào cho Panama sau những vụ biểu tình phản đối của người dân nước này nhưng Mỹ có quyền sử dụng vũ lực quân sự để bảo vệ con kênh trước bất kỳ mối đe dọa nào đối với Panama. Hiện tại, Mỹ là quốc gia sử dụng kênh đào nhiều nhất, tiếp đó là Trung Quốc, Chile, Nhật Bản, Colombia, Hàn Quốc... Mọi tàu thuyền đi qua kênh đào đều phải trả phí dựa trên kích thước và khối lượng hàng hóa. Phí của những con tàu lớn nhất có thể lên đến 450.000USD/ lần. Trung bình mỗi tàu mất từ 8-10 tiếng để đi hết con kênh nhưng bắt buộc phải có hoa tiêu hướng dẫn.

Hiện tại, kênh đào Panama nhiều lúc đã lâm vào tình trạng “thắt cổ chai” bởi lẽ với những kỹ thuật tiên tiến, nhiều tàu hàng - nhất là tàu chở container ngày càng lớn hơn, sức chở cũng nhiều hơn. Vì thế, năm 2015, nó đã phải mở rộng để có thể cùng một lúc, 79% các tàu chở hàng đi qua thay vì 45% như trước đó. Theo số liệu của Cục Quản lý kênh đào Panama, năm 2020 đã có 2,1 triệu con tàu đi qua con kênh này, mang lại cho chính quyền gần 2 tỉ USD.

Trong suốt quá trình xây dựng kênh đào Panama, tổng cộng đã có gần 28.000 người chết - kể cả khi dự án còn nằm trong tay người Pháp, hơn 8.000 người khác mang thương tật suốt đời. Nếu tính từ giữa thế kỷ 19 đến nay thì kênh đào Panama là công trình xây dựng do con người thực hiện có số thương vong cao nhất dù lợi ích do nó mang lại đã góp phần làm thay đổi nền kinh tế của nhiều quốc gia trên hành tinh…

Vũ Cao (Theo Panama Canal History)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.