Những chuyện độc đáo của các chiến sĩ Tây Tiến

Xa Hà Nội nên thiếu thốn đủ đường, chấy rận nhiều nên hành quân, công tác, chiến đấu thì thôi, thời gian còn lại, các chiến sĩ thi nhau... bắt chấy, bắt rận. Quần áo thì cho vào nồi nấu lên để giết... những chú rận, chú chấy to kềnh, trắng hếu, béo nẫn.

Chuyện thứ nhất

Đoàn “Vệ trọc” cương cường sắt đá, bên xác thù càng ngã càng lên, trí như gang thép vững bền... trích bài thơ “Hội núi sông” của Huyền Kiêu đọc trong đại hội luyện quân, lập công Liên khu 3 năm 1948.

Đặc trưng của các chiến sĩ Trung đoàn Tây Tiến trong buổi sơ khai là cái “đầu trọc”. Từ trung đoàn trưởng, chính ủy, đến các chiến sĩ trong trung đoàn đều đầu trọc. Nhiều anh em còn lấy những mảnh dạ bắt được của Tây làm xà cạp “cò cưa”, để đầu sáng bóng như gương soi dưới ánh nắng.

Đã nhiều bài báo, nhiều câu chuyện giải thích ý nghĩa của cái “đầu trọc”, nhưng dường như vẫn chưa đầy đủ. Để hiểu tường tận về chuyện này, cần biết là, anh em trong Trung đoàn Tây Tiến hầu hết là thanh niên, học sinh Hà Nội. Họ rất coi trọng mái tóc phi-lô-dốp của mình.

Nhiều anh em còn mang theo lọ Bi-ăng-tin làm bóng mượt mái tóc, hoặc ngâm hạt bưởi làm gôm chải tóc. Đêm ngủ, có anh còn lấy mù xoa buộc tóc, giữ gìn mái tóc một cách công phu, cầu kỳ. Bên dòng suối trong vắt nhiều khi bắt gặp những chiến sĩ soi đầu mình trên bóng nước, nâng niu, vuốt ve mái tóc.

Nhưng xa Hà Nội, thiếu thốn đủ đường, chấy rận nhiều lắm. Hành quân, công tác, chiến đấu thì thôi, thời gian còn lại là bắt chấy, bắt rận. Cho quần áo vào nồi nấu lên, cũng không hết rận, vì áo quần một bộ, xà phòng không có, chăn chiếu thiếu, nằm úp thìa vào nhau, những chú rận, chú chấy to kềnh, trắng hếu, béo nẫn cắm đầu vào da thịt, hút máu. Thế là, nhằm loại trừ các “anh bạn” bất đắc dĩ đó, không còn cách nào hơn là... gọt trọc đầu. Tất nhiên sự việc này, khi đó cũng chỉ mang tính chất địa phương, đơn vị, vì nhiều anh em đâu dễ dàng từ bỏ mái tóc phiêu bồng, tài tử.

Cho tới một hôm, tiểu đội tôi dưới sự chỉ huy của Tiểu đội trưởng Phượng nhào xuống suối tắm sau buổi đi lấy củi, mỗi người chỉ có một bộ quần áo, giặt đem lên bờ phơi, rồi ngâm mình xuống nước, chờ quần áo khô mới mặc. Số anh em không tắm thì về trước, còn lại 5 người trong đó có Tiểu đội trưởng Phượng.

Bỗng, bọn Tây đen xuất hiện, quẳng súng trên bờ, lao xuống bắt chiến sĩ ta. Những tên Tây đen to lớn, đen trùi trũi vớ được lưng chiến sĩ ta thì da trơn nhẫy nên để tuột mất. Chúng quay sang định giữ lấy đầu chiến sĩ ta nhưng đầu không có tóc, trơn tuồn tuột. Anh em cứ tồng ngồng lao lên bờ, vớ hai khẩu súng, nhảy tọt vào rừng. Trên đường chạy về bản, gặp các mế, các chị đi ra suối, ai cũng ngượng chín mặt. Các mế, các chị thì rú lên.

- Eng, ún bộ đội xấu quá! Xấu quá!...

Chúng tôi nhào vào bụi cây, Tiểu đội trưởng Phượng dùng tiếng Mường giải thích với các mế, các chị. Bà con cười như nắc nẻ, bảo nhau về lấy mấy cái váy đem ra cho bộ đội.

Hôm sau, anh em giặt sạch sẽ đem trả, không quên cảm ơn các mế, các chị "chi viện" kịp thời.

Câu chuyện “Tây vồ” của tiểu đội tôi lan nhanh trong trung đoàn và cái “đầu trọc” bỗng trở thành quy định bắt buộc, bất thành văn trong toàn Trung đoàn Tây Tiến.

Chuyện thứ hai

Cả trung đội tôi hồi đó đóng quân trên một bản nghèo, thưa thớt ở một thung lũng sâu, địa bàn Hòa Bình. Không hiểu anh em ăn phải cái gì bị "tào tháo đuổi" hàng loạt. Trung đội trưởng, trung đội phó, chính trị viên nằm lả trên sàn gác, nhiều anh em ra rừng không thể lê về được tới nhà.

Tôi là chiến sĩ vệ sinh trong trung đội cũng bị nhưng còn chút sức lực, đã đi gặp bà mế ở nơi đóng quân, xin bà cứu giúp. Một lúc sau, mế bê ra một chậu nước sóng sánh như nước gạo loãng cho bộ đội uống. Kỳ diệu thay, uống buổi trưa, buổi chiều anh em cầm hẳn bệnh, trở lại khỏe mạnh như trước. Tối hôm đó, bên bếp lửa, tôi thủ thỉ với mế. Mế cười:

- Thuốc gia truyền mà, mế không nói cho eng ún bộ đội biết đâu.

Tôi phải giới thiệu mình là chiến sĩ vệ sinh, lo lắng sức khỏe cho bộ đội và tha thiết đề nghị:

- Mế cho con biết loại lá gì ở rừng mà công hiệu đến vậy, để sau này con sử dụng cấp cứu anh em chứ! Giúp bộ đội cũng là đánh Tây mà!

Mế cười tủm tỉm:

- Mế nói, eng ún lại trách mế...

- Không, bộ đội ơn mế lắm, sao lại trách mế được!

- Mế lấy cục phân mới đi, nướng cháy lên, hòa với nước đun sôi cho eng ún uống đấy!

Tôi rùng mình, nói:

- Lá trong rừng thiếu chi, mà mế phải lấy thứ ấy cho bộ đội uống.

- Không được, tối nay eng ún đã phải hành quân rồi. Lá rừng không chữa được nhanh thế đâu!

Chuyện thứ ba

Trung đội tôi được phái đi làm nhiệm vụ độc lập. Sau một trận đánh, trung đội bị kẻ địch bao vây trên một ngọn đồi rậm rạp. Trung đội trưởng quyết định sáng sớm hôm sau mở đường máu thoát hiểm.

Tôi lên cái bắp chuối rất to, đỏ rực, nóng như lửa ở bắp chân. Chân co rút không tài nào bước đi được. Tôi là chiến sĩ ít tuổi (17 tuổi) lại là chiến sĩ vệ sinh, chiến sĩ văn hóa dạy chữ cho anh em trong trung đội, nên được các anh rất nuông chiều. Ban chỉ huy lo lắng, toàn trung đội lo lắng.

Cáng tôi theo không được, vì quân địch bủa vây nhiều lớp. Mở đường máu phải tuyệt đối bí mật, nhanh gọn. Lúng túng với bệnh binh thì chắc chắn không thể thoát hiểm. Hơn nữa, bộ đội nhịn đói, chiến đấu cả ngày và cũng có nhiều anh em bị thương nhẹ đi theo trung đội.

Trong ánh nắng yếu ớt của chiều tà miền núi, trung đội trưởng nhìn tôi hồi lâu, lắc đầu. Tôi hiểu anh nghĩ gì - Không đem tôi đi theo, cái chết chắc chắn sẽ đến với tôi. Tôi nắm tay anh:

- Anh cho em xin quả lựu đạn!

Anh hiểu tôi có ý định gì. Những chiến binh Tây Tiến đó còn tới hôm nay hẳn còn nhớ câu nói đầu lưỡi bằng tiếng Pháp trước khi lâm trận “Nous Mourissons ensemble” (chúng ta cùng chết) hoặc “Moi et toi, nous mourissons ensemble” (tao với mày cùng chết). Kẻ thù hung hãn, vũ khí trang bị đến tận răng. Quân ta ăn đói, mặc rách, vũ khí thô sơ, ghẻ lở đầy người, sẵn sàng lấy cái chết chứng tỏ uy dũng của Bộ đội Cụ Hồ, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh. Tất cả vì nước, vì dân, vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Nhân dân Lào với các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam.
Nhân dân Lào với các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam.

Trung đội trưởng rơm rớm nước mắt, tay run run tháo quả lựu đạn ở thắt lưng trao cho tôi.

Trời miền núi chóng tối, nằm gối đầu lên gốc cây, tôi chợt nhớ tới chuyện mẹ tôi kể. Bà không là thầy thuốc nhưng đọc sách nhiều, giỏi về thuốc nam, thuốc bắc. Có lần bà nói – Phân người cũng là vị thuốc quý, chữa được bệnh đường ruột, thượng thổ, hạ tả, đặc biệt đồ ung nhọt rất kiến hiệu.

Còn nước, còn tát, không có lý mình bị rơi vào tay quân thù hoặc chết vô ích. Tôi dùng chính phân của mình trát đầy lên chỗ sưng tấy. Đang tuổi ăn, tuổi ngủ, đêm hôm đó, tôi làm một giấc đến khi đơn vị rục rịch lên đường. Thật là kỳ diệu, chân tôi không còn đau nhức, co duỗi dễ dàng. Tôi đứng lên nhảy mấy cái. Mừng quá, tôi chống gậy chạy đến cạnh trung đội trưởng, thì thào:

- Khỏi rồi! Em đi được rồi, anh ạ!

Trung đội trưởng ôm lấy tôi.

- Thật, hả!

Tôi nhảy tưng tưng chung quanh anh, tuy bắp chân vẫn còn tưng tức. Anh vui mừng nói:

- Đi vào giữa hàng quân, anh em tương trợ.

Đơn vị tôi thoát khỏi vòng vây. Nửa giờ sau, quân địch tràn lên ngọn đồi.

Gần đây, có dịp, tôi trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ y học Lê Hùng Lâm, nguyên là Giám đốc Trường Bổ túc cán bộ Y tế thuộc Bộ Y tế. Anh nói:

- Phân người là Nhân Trung Hoàng (màu vàng trong ruột người) là một vị thuốc được ghi trong sách thuốc nam của các cụ ta ngày xưa. Khi mà nhân dân ta còn nghèo, thiếu thốn đủ đường, trình độ y học còn hạn chế, buộc ta phải dùng vị thuốc bất đắc dĩ đó, miễn là chữa khỏi bệnh.

Gần đây, vài bài báo có nói về tác dụng chữa bệnh của Nhân Trung Hoàng. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, lúc còn sinh thời hoạt động trên chiến trường miền Nam gian nan mà anh dũng, đã dùng phân người chữa bệnh cho bộ đội, đạt hiệu quả tốt. Còn hiện nay thuốc men đầy đủ, nhiều chủng loại, khả năng chữa được bách bệnh thì không ai dùng đến vị thuốc đó nữa

Trần Kỳ (Nguyên đội viên Đại đội Bạch binh 121, Tiểu đoàn 150)

Các tin khác

Xuôi dòng sông Gâm

Xuôi dòng sông Gâm

Dòng sông Gâm từ xứ sở Lâm Bình xuôi về vùng đất Na Hang (Tuyên Quang) sở hữu hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên mặt hồ, những khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật vô cùng phong phú và làn nước trong xanh tựa ngọc. Với khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, đất trời, non nước giao hòa, nơi đây, từ lâu được xem như “Vịnh Hạ Long” trên núi, “Nàng tiên xanh” giữa đại ngàn Đông Bắc.

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour du lịch quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.