Người xóm Đẻo Giữa “Bóng dài, đường vắng”*

Anh em văn nghệ địa phương “ăn đời, ở kiếp” với nhau, dù nói ra hay không thì vẫn luôn dành sự tôn trọng cần thiết đối với những người có tác phẩm, có sách công bố trước, có bài vở đăng đàn trên các báo Trung ương, lại đã là “hội viên Trung ương” nữa thì càng “tợn”, càng được trọng vọng.

Tuy vậy, chính những “hội viên Trung ương” ấy lại hầu như không mảy may nửa giây, nửa phút nghĩ về điều đó; trái lại họ luôn gần gũi, thậm chí bỗ bã với tất thảy mọi người. Nhà thơ Nguyễn Quốc Anh, thời Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh và Hội Văn nghệ Nghệ An hay Hội Văn nghệ Thành phố Vinh chắc chắn là một người trong số đó, nhất là đối với tôi, người ít tuổi đời, tuổi viết hơn và nhiều điều khác.

Khi tôi mới học phổ thông cấp 1, cấp 2 trường làng thì anh Nguyễn Quốc Anh đã từ bộ đội chuyển ngành về làm Chánh văn phòng Hội Văn nghệ Hà Tĩnh (1971) rồi đi học Lớp bồi dưỡng viết văn khóa VI, sau đó in chung với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo tập thơ đầu tay “Tình yêu sáng sớm” (1974). Khi tôi học xong đại học về Vinh nhận công tác, háo hức tìm về Hội Văn nghệ tỉnh với hành trang vài ba bài thơ đăng báo, mong được xếp một chân điếu đóm gì đó để thỏa mãn đam mê viết lách nhưng không hiểu vì lý do gì lại đi làm “phóng viên văn nghệ” cho Đài truyền hình tỉnh, thì anh Nguyễn Quốc Anh dù chậm hơn so với bạn bè cùng lứa cũng đã là người có vai, có vế, có chỗ đứng ở Hội, rồi trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2001.

img_4852.jpg -0
Hai cố nhà thơ Nguyễn Quốc Anh (trái) và Nguyễn Trọng Tạo.

Ấy vậy mà với lứa đàn em chúng tôi, anh Nguyễn Quốc Anh dù gặp lần đầu cũng thân thiết như bạn thuốc lào từ lâu lắm “Viết được gì không, đọc nghe cho vui, gửi cho tạp chí đi. Tôi vừa viết được một bài rất thích, đọc anh nghe nha?”. Vậy là anh Quốc Anh “ngấc ngấc đầu và cười và chớp chớp mắt” (từ dùng của nhà văn Đức Ban) hay “ngúc ngắc cái cần cổ” (từ dùng tếu táo đầy “chất” riêng nhà thơ Tùng Bách) lên giọng: “Bàn tay tôi trồng đào/ Bàn tay tôi cắm đào vào lọ/ Bàn tay tôi vẫn bàn tay tôi/ Vứt cành đào ra ngõ” (Tâm trạng). Đọc xong câu cuối cùng, nhà thơ cúi xuống rít một hơi thuốc lào thật kêu rồi nghiêng đầu phả ra một làn khói lâng lâng, bay bay trong sự tấm tắc của mọi người.

Có lần, anh Nguyễn Quốc Anh nói với tôi, ý là nếu tôi gặp anh và có ý định sớm, việc về Hội của tôi sẽ đơn giản vô cùng. Tiếc thật? Tôi thừa nhận điều anh nói có thể đúng, đơn giản vì anh vốn rất thông thạo việc to, việc nhỏ, nhanh tay nhanh mắt, miệng nói tay làm, rất hay giúp đỡ bạn bè nên thời xin - cho bấy giờ, mọi việc “luôn ở trong tầm tay”.

Tôi từng biết chuyện anh Nguyễn Quốc Anh thời làm Chánh văn phòng Hội Văn nghệ Hà Tĩnh từng có lần “điều chuyển cán bộ từ phòng này qua phòng khác” thuộc Ty Văn hóa - Thông tin: anh Tùng Bách vốn là bạn thân “về làm Chánh văn phòng thay mình, để mình đi học bồi dưỡng viết văn. Nửa năm sau, mình về, cậu đi học khóa tiếp”. Mọi việc cứ như lập trình sẵn trong từng lời của Nguyễn Quốc Anh. Lý do đưa ra rất thông suốt là các cụ trên Ty, trên Hội đều “gật” hết rồi, không cần ý kiến ra vô chi nữa, cứ thế mần.

Cũng một người bạn cùng lứa khác, nhà văn Đức Ban kể rằng, thời ở Tổng đội Thanh niên xung phong (TNXP) 299, P18 đang loay hoay sẽ trở lại làm ruộng hay chuyển ngành nào đó thì các nhà văn Chính Tâm, Nguyễn Quốc Anh đạp xe đến đơn vị thông báo Hội Văn nghệ Hà Tĩnh nhận cây bút trẻ về làm “người Nhà nước” để rồi mấy chục năm sau, nhà văn đầy tâm huyết với xứ Nghèn quê ông vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2016)…

Sau khi quen thuộc, thân thiết hơn với anh Nguyễn Quốc Anh, tôi hiểu không phải ngẫu nhiên cơ quan lại phân công anh làm Chánh văn phòng, rồi làm công đoàn, chưa kể trọng trách Trưởng Ban hội viên 2 nhiệm kỳ liền của Hội. Công việc thường ngày “chỉ chê mà không bao giờ được khen” ở văn phòng hội đó, dễ hiểu phải chịu khó, tỷ mẩn, chu tất như Nguyễn Quốc Anh thì mới đảm đương được, mới giảm thiểu được lời ong, tiếng ve đâu đó của cuộc sống mặn nhạt đời  thường.

Rồi cũng thời xin - cho chưa xa ấy, phải là một người quen biết rộng, sục hết lối ngang, lối dọc của cuộc sống, định làm việc gì thì làm cho kỳ được như Nguyễn Quốc Anh may ra mới có thể kiếm thêm được cho cơ quan, cho anh em một khoản a, b ngoài chế độ nào đó. Những mùn cưa đun bếp, cân đường, mét vải, thậm chí sau này một căn hộ nhà tầng Quang Trung hay một miếng đất dựng nhà ở phố Phong Định Cảng… hẳn còn lưu mãi trong ký ức một thời của nhiều người, có công “chạy” của người luôn xông thẳng vào phòng lãnh đạo tỉnh, thành phố, nhỏ to tỷ tê từng lời với người biết chia sẻ đồng cảm với anh em văn nghệ sỹ, “tôi làm đầy đủ thủ tục, giấy tờ, xin ý kiến trên dưới hoàn thiện, giờ anh giúp ký cho để tôi về báo với anh Thung, anh Huệ, anh Hoài và anh em, khoe với anh em văn nghệ các tỉnh”.

Hồi Nguyễn Quốc Anh còn làm Trưởng Ban hội viên của Hội, có lần tìm gặp tôi ở cơ quan, anh bỗng nghiêm giọng so với bình thường sau khi “ngấc ngấc đầu”: “Việc ni tôi nhờ anh, chỉ có anh mới làm được và anh ký thì tôi yên tâm, mọi người mới thôi ý kiến”. Tôi đâm hoảng khi không hiểu chuyện gì mà trầm trọng đến thế lại liên quan đến chữ ký không ra tiền, ra bạc của thằng tôi lính trơn viết lách mới qua thời học trò. Hóa ra là có một trường hợp đang xét kết nạp hội viên ở quê tôi. Vị này thi thoảng viết lách đôi ba câu gì đó, chủ yếu làm nghề khá có tiếng trong vùng, không hiểu sao lại nổi máu viết đơn xin gia nhập Hội, thêm chút tiếng tăm nhà nọ, nhà kia. Khi hiểu ra, không biết ai xui mà tôi nói. “Nếu bác ủng hộ thì em ủng hộ, ta thêm một người viết, thêm một bạn văn. Ký”. Tiếc là sau khi vào Hội, vị kia lại tịt ngòi, không viết cũng chẳng tham gia hội hè gì, coi như bỏ.

Tưởng như tôi không có “duyên” với anh Nguyễn Quốc Anh so với nhiều anh em khác nhưng rồi cái duyên ấy vẫn đến theo một cách khá bất ngờ. Ấy là hồi năm 2000, anh Nguyễn Quốc Anh đi xe máy qua cơ quan tôi ở gần ngã 5, đầu phố Minh Khai, dáng vẻ vội vã. Vào phòng, anh nói ngay: “Dạo ni bận phải không, không thấy thơ ca hò vè gì. Nào, bận thì bận, tranh thủ viết đi, có viết mới ra, bỏ viết một lúc là quên hẳn đi đấy, rất khó lấy lại. Chiều tôi qua lấy bài. Cố gắng nhé”.

Anh Nguyễn Quốc Anh đi rồi tôi mới thấy mình dở tệ. Dở ở chỗ cứ nể nang do anh ấy nhiệt tình đến không nỡ chối từ, rồi hứa đại đi để cuối cùng có khi lại dở hơn vì bài vở nhạt nhẽo, không ra hồn vía gì. Tôi mở lại tập bản thảo, lướt qua một lượt các bài viết cũ, mới chưa thành và quyết tìm lại cảm hứng khi rắp tâm “đóng phòng văn hì hục viết”. Mệt hơn cả cày ruộng vì tôi con nhà quê, cũng cày bừa tạm tạm, nên có thể so sánh việc này. Tôi ngồi đọc từng dòng “… Bắt đầu cái xô đựng nước, chiếc giỏ nhặt rau/ Chữa lại câu thơ nông cạn/ Đâu đây bước ngựa khuya/ Âm âm lối mòn lau trắng/ Chia tay bây giờ/ Gặp gỡ ngày xưa…”. (Phác thảo Vinh).

Để rồi, cuối năm đó, từ bài thơ do anh Nguyễn Quốc Anh “đặt hàng” này, tôi may mắn được đón nhận tặng phẩm của Tạp chí Sông Lam, lúc đó Tổng biên tập là nhà thơ Dương Huy. Thì ra, chuyện viết lách lắm khi chẳng tuân theo một quy luật hay bài vở có sẵn nào. Anh Nguyễn Quốc Anh chả có lần từng nói với bạn thân Tùng Bách hồi đi “bồi dưỡng viết văn” rằng thì là “các thầy chỉ qua loa đại khái thôi. Học viên cỡ này các thầy dại gì mà khua chân múa tay”.

Tôi thì bỗng “nghiệm” ra rằng, khi cái “yên – sĩ – phi – lý - thuần” dồi dào viết lách thăng hoa là một nhẽ, nhưng khi mình bị dồn/ tự dồn đến chân tường biết đâu lại tóe ra một điều gì đó bất ngờ, thú vị, cũng là một nhẽ khác, rất đáng nói. Quả nói không ngoa rằng, nếu không có anh Nguyễn Quốc Anh đến giục sau lưng sát nút, không có người đi trước tin cậy gửi gắm thì mình đã không thể có được một kết quả nào, dù thật nhỏ bé.

Tôi thầm biết ơn anh Nguyễn Quốc Anh, nhưng đã không nói lời nào với anh và tất nhiên, người như anh không bao giờ chờ đợi ở bất cứ ai một lời cám ơn nào đó. Đơn giản, mọi việc anh cứ làm vô tư, hồn hậu, nhiệt tình đến thế, việc này nối việc kia không nhớ hết, không nhớ nổi. Không làm thế với bạn bè không phải là Nguyễn Quốc Anh, một người xóm Đẻo từ quê Đức Thọ, Hà Tĩnh ra thành phố Vinh, Nghệ An, giữa ngổn ngang thị thành sao vẫn thấy “bóng dài, đường vắng” rồi lại tìm về với quê, với người quê vồn vã, chân thật để sống và viết, miệng nói tay làm, luôn tìm gặp bạn bầu “ngấc ngấc đầu” và cười và chớp chớp mắt: “Tiếc thật. Có thuốc lào không?”.

---------                                                                                            

(*) Tên một tập thơ của Nhà thơ Nguyễn Quốc Anh (1944 - 2012)

Bùi Sỹ Hoa

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.