Nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam: Giữa ngã ba đường

Hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học là chính sách đã được thực hiện liên tục ở nước ta trong khoảng 15 năm qua, kể từ khi Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 được ban hành.

Hội nhập quốc tế ở đây được thể hiện ở 2 hình thức: một là, áp dụng các tiêu chuẩn của quốc tế trong việc vận hành hệ thống giáo dục đại học (ví dụ: kiểm định chất lượng quốc tế, nghiên cứu khoa học theo các chuẩn quốc tế…); hai là, tăng cường các yếu tố quốc tế trong các cơ sở giáo dục đại học (ví dụ: tuyển sinh sinh viên quốc tế và tuyển dụng giảng viên quốc tế…). 

Qua 15 năm thực hiện, công cuộc hội nhập quốc tế, một mặt, đã có một số thành tựu nhất định; mặt khác, cũng có nhiều mong muốn chưa đạt được. Bản thân trong 15 năm qua, đã có khá nhiều nghiên cứu đánh giá về những điểm được và chưa được này.

Ảnh bìa cuốn sách.
Ảnh bìa cuốn sách.

Mặc dù vậy, các tổng kết kể trên chủ yếu mới chỉ ở dạng các bài báo/ tham luận nhỏ lẻ hoặc được lưu hành trong phạm vi hẹp; chưa có nhiều nghiên cứu nào đủ “dày dặn” được công bố rộng rãi. Trong bối cảnh đó, cuốn sách “The Vietnamese Social Sciences: at a fork in the road” (tạm dịch là (i) “Khoa học xã hội tại Việt Nam: ở thời khắc quyết định” hoặc (ii) “Khoa học xã hội tại Việt Nam: giữa ngã ba đường”) ra đời, phần nào thỏa mãn được nhu cầu kể trên.

Cuốn sách do NXB De Gruyter (Đức) phát hành tháng 11/2019, do TS. Vương Quân Hoàng (Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành, Đại học Phenikaa) và PGS. Trần Trung (Học viện Dân tộc Việt Nam) đồng chủ biên; cùng với sự đóng góp của 16 nhà nghiên cứu khoa học xã hội trẻ khác (tuổi từ 20-40), đến từ nhiều đơn vị trong và ngoài nước. Cuốn sách gồm 8 chương, bên cạnh 1 phần mở đầu, 1 phần kết luận và 1 phục lục, dày hơn 200 trang đã tổng kết toàn bộ kết quả, thực trạng, xu hướng về các nghiên cứu của các tác giả người Việt trong lĩnh vực khoa học xã hội (bao gồm: kinh tế, giáo dục, tâm lý, y cộng đồng, khoa học chính trị, luật…) trong khoảng thời gian 11 năm (từ 2008-2018) trên các ấn phẩm quốc tế.

Điểm đặc biệt của cuốn sách, bên cạnh việc viết bằng tiếng Anh nhưng lại có tác giả hoàn toàn người Việt 100% thể hiện ở một số điểm:

Thứ nhất, cuốn sách được viết dựa trên nền tảng là một bộ dữ liệu về toàn bộ các nhà nghiên cứu người Việt trong và ngoài nước, có các công trình nghiên cứu về khoa học xã hội trên các ấn phẩm quốc tế được Quỹ Phát triển Khoa học và Quốc gia NAFOSTED công nhận. 

Đây là bộ dữ liệu công phu (https://sshpa.com/) được nhóm tác giả thu thập, tổng hợp và phát triển trong vòng gần 3 năm (từ tháng 2/2017) mà không nơi nào có được (bản thân Quỹ NAFOSTED cũng chỉ có danh sách các công trình do NAFOSTED tài trợ chứ không có đủ danh mục các công trình mà Quỹ không tài trợ). Nhờ vậy, cuốn sách có được một đặc điểm mà không nhiều cuốn sách trong khoa học xã hội có được, đó là: dữ liệu vừa toàn diện, vừa sâu, lại có hình ảnh trực quan, dễ hiểu và bắt mắt.

Thứ hai, cuốn sách thực tế bản thân cũng là một tổng kết của một chuỗi nghiên cứu được nhóm tác giả thực hiện liên tiếp trong 3 năm trước đó với khoảng 10 công trình khoa học đã được công bố trên các tạp chí quốc tế. Nói cách khác, cuốn sách, một mặt tổng kết về vấn đề nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam trong 11 năm; nhưng mặt khác, bản thân nó cũng  có thể được xem là một “tiểu tổng kết” của một cụm công trình của chính nhóm tác giả trong quá trình 3 năm làm việc miệt mài.

Số lượng chưa nhiều nhưng tăng trưởng đều đặn

Trong những năm qua, giới học thuật ở Việt Nam vẫn lưu truyền một nhận định của một đại diện ngành khoa học tự nhiên, đại ý: “Việt Nam làm gì có nghiên cứu khoa học xã hội”. Nhận định hẳn nhiên là gây tranh cãi; nhưng nếu xét về khía cạnh công bố quốc tế, thì nhận định trên thực tế là “đau nhưng mà đúng”. Mặc dù vậy, khi đọc cuốn sách mới công bố này, thì có thể thấy, nhận định kể trên dường như không hẳn còn đúng trong thời điểm hiện nay nữa.

Lưu đồ mô tả sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội Việt Nam trong 2 năm 2008 (hình a) và 2018 (hình b).
Lưu đồ mô tả sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội Việt Nam trong 2 năm 2008 (hình a) và 2018 (hình b).

Nếu so với lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, có thể về số lượng các công bố trong khoa học xã hội chưa nhiều; nhưng về tốc độ tăng trưởng thì cũng rất đáng kể. Theo thống kê từ cuốn sách (Chương 2), trong vòng 11 năm, đã tổng cộng 2,363 công bố với sự tham gia của 1,374 tác giả người Việt. Nếu như trong năm 2008, chỉ tổng cộng 83 nghiên cứu với 136 tác giả người Việt, thì con số tương ứng tại năm 2018 lần lượt là 391 và 923 (tăng 4,7 và 6.8 lần). Rõ ràng, mặc dù về số lượng vẫn còn khiêm tốn, nhưng khoa học xã hội Việt Nam đã có những đóng góp ngày càng rõ nét cho khoa học Việt Nam nói chung. 

Những ngành hàng đầu, những cơ sở tiên phong và vai trò của các nhóm nghiên cứu 

Dữ liệu từ cuốn sách cũng chỉ ra những ngành có nhiều công bố nhất trong lĩnh vực KHXH trong 10 năm qua (Chương 3,4). Cụ thể, kinh tế là ngành dẫn đầu với 620 bài trong vòng 11 năm (chiếm 22.7%), tiếp theo có thể kể đến Giáo dục (338 bài, 12.38%), Chăm sóc sức khỏe (313 bài, 11.46%), kinh doanh (308 bài, 11.28%), xã hội học (179 bài, 6.55%). Đặc biệt ngành khoa học chính trị, ngành vốn được xem là khó đăng theo phản ánh của nhiều nhà khoa học trong nước cũng đã đóng góp 74 bài, 2.71%, đứng thứ 10 trong tổng số 32 ngành được liệt kê.

Đâu là những đơn vị hàng đầu trong nghiên cứu KHXH tại Việt Nam cũng sẽ là một chủ đề được nhiều người quan tâm. Dữ liệu nghiên cứu (Chương 2) cho thấy, Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở có nhiều công bố quốc tế thuộc lĩnh vực KHXH nhất cả nước trong giai đoạn 2008-2018 (268 bài); tiếp theo có thể kể đến Đại học Kinh tế Quốc dân (160 bài), ĐH Y Hà Nội (141 bài), ĐH Kinh tế TP.HCM (106 bài) và ĐH Quốc gia TP.HCM (105 bài).

Vai trò của các nhà khoa học hàng đầu, đồng thời cũng là trưởng của nhóm nghiên cứu do họ lãnh đạo đóng vai trò căn cốt cho sự phát triển của khoa học. 

Trong cuốn sách này, tại Chương 5, chúng ta cũng sẽ có cơ hội được làm quen với những gương mặt “năng suất nhất” trong giới nghiên cứu KHXH hơn 10 năm qua như Trần Xuân Bách (ĐH Y Hà Nội), Lưu Trọng Tuấn (ĐH Kinh tế TP.HCM), Nguyễn Việt Cường (ĐH Kinh tế Quốc dân), Trần Thị Lý (ĐH Deakin)... Điểm đáng chú ý là, những gương mặt này, trong một số năm, thậm chí còn có năng suất công bố hơn cả một trường. Dường như đây cũng chính là đặc điểm của các nước có nền khoa học non trẻ như Việt Nam.

Những động lực phía sau

Sự phát triển tương đối nhanh của KHXH Việt Nam từ 2008 đến nay hẳn nhiên là có các động lực đằng sau.

Và sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc đến những động lực này. Cụ thể, theo nhóm tác giả, 2 nhóm động lực chính được chia thành: (i) các chính sách của Nhà nước mà nổi bật nhất là việc ra đời Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia NAFOSTED vào năm 2008 và Quy định về đào tạo tiến sĩ kèm theo Thông tư 08 năm 2017; và (ii) sự tham gia của các trường đại học (bao gồm cả các đại học truyền thống như ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Kinh tế TP HCM…; hay đại học mới thành lập như ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Duy Tân); và các quỹ tư nhân (như của VinGroup hay của Tập đoàn Phenikaa). Độc giả có thể tìm hiểu kỹ hơn về các vấn đề này trong Chương 1 và Chương 7 của cuốn sách.

Hướng tới phía trước

Trong chương 6 và chương 8 của sách, nhóm tác giả đề cập đến 2 vấn đề, mà nếu xem xét kỹ thì nó không những đúng cho bản thân ngành KHXH mà còn đúng cho toàn bộ lĩnh vực nghiên cứu và giáo dục đại học ở nước ta.

Vấn đề thứ nhất là chất lượng của nghiên cứu. Thực tế, kể từ ngày hội nhập, giới nghiên cứu ở nước ta vẫn dùng các chỉ số đánh giá khoa học như chỉ số tác động Impact Factor, Citescore hay H-index … để đánh giá kết quả của một công trình hay một nhà khoa học. Cách tiếp cận này là đúng nhưng chưa đủ.

Tại Chương 6, nhóm tác giả giới thiệu và bình luận về những xu hướng mới nhất, cũng đang được thế giới quan tâm như: khoa học mở, dữ liệu mở, phản biện mở hay truyền thông khoa học.

Vấn đề thứ hai, được trình bày trong Chương 8 bàn về việc vận hành hệ thống khoa học như một lĩnh vực kinh tế. Về mặt truyền thống, các trường đại học ở nước ta chủ yếu là các cơ sở công lập, được nhà nước bao cấp và thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ trong một cơ chế tập quyền cao.

Bối cảnh mới yêu cầu các trường đại học phải tự chủ hơn, dựa vào chức năng nghiên cứu nhiều hơn. Sự dịch chuyển này yêu cầu các trường đại học phải tự thân vận động hơn, hay nói như lời của nhóm tác giả , phải có năng lực “doanh chủ học thuật” (academic entrepreneurship) nhiều hơn.

Cả hai nội dung kể trên chắc chắn là những điều các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý đại học và bản thân các nhà nghiên cứu không thể bỏ qua.

Phạm Hiệp

Các tin khác

Khi cỏ tự nhiên được "trồng bằng công nghệ"

Khi cỏ tự nhiên được "trồng bằng công nghệ"

Thay vì phụ thuộc vào ánh nắng mặt trời hay thổ nhưỡng tự nhiên tại chỗ, toàn bộ hệ thống thảm nhung phục vụ World Cup 2026 tại 11 sân bóng ở Mỹ đều được kiến tạo, vận chuyển, lắp đặt và duy trì bằng những giải pháp kỹ thuật sinh học và cơ khí tối tân nhất trong lịch sử thể thao thế giới. Những ghi nhận thực tế từ các kỹ sư tại hiện trường đã hé lộ nhiều bí mật kinh ngạc về quy trình chuẩn bị mặt sân khắt khe chưa từng có này.

Mật mã thiêng nơi đội tuyển Argentina đóng quân tại World Cup 2026

Mật mã thiêng nơi đội tuyển Argentina đóng quân tại World Cup 2026

Giữa cái nóng hầm hập vùng Trung Tây nước Mỹ, đội tuyển Argentina thiết lập đại bản doanh tại Kansas City chuẩn bị bảo vệ ngai vàng World Cup 2026. Bất chấp thời tiết khắc nghiệt và gợi ý đổi địa điểm từ FIFA, Lionel Messi cùng đồng đội vẫn kiên định bám trụ tại đây. Đây không đơn thuần là quyết định hậu cần kỹ thuật, mà là sự tính toán kỹ lưỡng nhằm tìm kiếm không gian bình yên, kết nối văn hóa quê hương và tiếp nhận báu vật tinh thần vô giá truyền lại từ lịch sử chính trị, thể thao vĩ đại dân tộc Nam Mỹ.

Cận cảnh bên trong máy tính lượng tử Hanyuan-2. Ảnh: Quantum Computing Report

Dấu mốc mới trong cuộc đua lượng tử toàn cầu

Khi công ty CAS Cold Atom Technology của Trung Quốc công bố Hanyuan-2, hệ thống máy tính lượng tử lõi kép đầu tiên, cuộc đua toàn cầu dường như đã bước sang một giai đoạn mới. Từ Washington tới Bắc Kinh, từ Paris tới London, các chính phủ và tập đoàn công nghệ đang đổ hàng tỷ USD vào lĩnh vực sẽ định hình thế hệ điện toán tiếp theo của thế giới.

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Các cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero), chính sách “xanh” với những mục tiêu quyết đoán cùng các tuyên bố mạnh mẽ của chính giới, làn sóng đầu tư vào năng lượng tái tạo cùng áp lực cắt giảm khí thải carbon khiến than đá, loại nhiên liệu từng là động lực cho các cuộc cách mạng công nghiệp dường như đang dần bị đẩy ra bên lề.

Nhưng trước các cú sốc địa chính trị, khủng hoảng năng lượng khi nguồn cung gián đoạn, và đặc biệt là nhu cầu điện tăng vọt do tăng trưởng kinh tế cũng như sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), than đá một lần nữa được nhắc đến như giải pháp an ninh năng lượng. Liệu thế giới có thể thực sự rời bỏ than đá? Quá trình chuyển đổi xanh trên thực tế dường như mong manh hơn nhiều so với những tuyên bố chính trị?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Một trong những bước thay đổi lớn của chiến tranh trong vòng mười năm trở lại đây là sự lên ngôi của máy bay không người lái (UAV). Những chiếc máy bay cho vào vali được mà có thể đảm nhận nhiệm vụ trinh thám, tiêu diệt mục tiêu, v.v… không kém gì các loại khí tài đắt tiền. Nhờ UAV mà các lực lượng phiến quân có thể tham gia cuộc chiến trên không chứ không còn phải chịu cảnh hoàn toàn lép vế trước quân đội chính quy. Tất nhiên là việc sử dụng drone hàng loạt cũng kéo theo hoạt động phát triển vũ khí diệt drone. Nhưng sử dụng máy bay - cả loại có và không có người lái - để tiêu diệt UAV có là giải pháp hữu hiệu?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Một cuộc chiến bí mật được cho là đang leo thang mạnh mẽ dọc theo biên giới Nam Mỹ. Theo CNN và hãng thông tấn Anadolu, ngày càng nhiều thông tin và nghi vấn cho rằng CIA đang tham gia sâu hơn vào các hoạt động nhằm vào mạng lưới băng đảng ma túy tại Mexico. Những thay đổi chiến lược trở nên rõ nét hơn khi chính quyền Mỹ nhìn nhận các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia này như những mối đe dọa an ninh có tính khủng bố, qua đó mở đường cho các hoạt động tình báo và bán quân sự tinh vi hơn trên lãnh thổ nước láng giềng.

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Sau gần 80 năm trong các kho lưu trữ mật của quân đội Mỹ, hàng trăm hồ sơ về UFO (vật thể bay không xác định) vừa lần đầu được Lầu Năm Góc công khai trước thế giới. Không có “xác người ngoài hành tinh” hay bằng chứng về những cuộc đổ bộ từ vũ trụ, nhưng các đoạn phim hồng ngoại, ghi âm và lời kể của phi công đang mở ra cuộc tranh luận lớn nhất nhiều thập niên qua về những vật thể bí ẩn mà ngay cả Washington cũng chưa thể giải thích.

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

Cuộc tấn công bằng drone vào nhà máy điện hạt nhân Barakah của UAE hôm 17/5 chỉ gây ra thiệt hại nhỏ. Nhưng dư chấn thì rất lớn, khi nó cho thấy ranh giới giữa một vụ tấn công “suýt trúng” với một thảm họa phóng xạ đang ngày càng mong manh, trong bối cảnh bất ổn địa chính trị bủa vây Trung Đông như hiện nay.

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Khi con tàu du lịch MV Hondius rời cảng Ushuaia, Argentina vào ngày 1/4/2026, không ai trên tàu có thể ngờ rằng họ sắp trở thành tâm điểm của một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu. Sau bốn tuần, ba hành khách đã tử vong, nhiều người khác nguy kịch, cuộc truy vết phức tạp được tiến hành. Ổ dịch virus Hanta trên con tàu này không chỉ là một thảm kịch đơn lẻ, nó đã trở thành phép thử mới đối với khả năng chống chịu của hệ thống y tế toàn cầu trong bối cảnh chúng ta vẫn đang loay hoay tìm kiếm sự đồng thuận để đối phó với những đại dịch mới.

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Nói về quốc phục hay cao hơn là bàn tới câu chuyện quốc phục ở nước ta có lẽ rất khó ấn định được thời điểm chính xác, bởi mỗi giai đoạn lại bùng lên rồi xẹp xuống, hòa tan trong vô vàn sự kiện, hoạt động... Những ngày gần đây, thông qua một hoạt động mang tính lễ nghi cấp Nhà nước, vấn đề cần có một bộ quốc phục, lễ phục mang tính thành quy lại xôn xao dư luận, khiến nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa trăn trở, đặt câu hỏi: “Tại sao, đến hôm nay, chúng ta vẫn còn băn khoăn đi tìm quốc phục?”.

Cây giáo trên tay vua

Cây giáo trên tay vua

Giáo là món vũ khí “kinh điển” của thời cổ đại, vì nó dễ chế tạo, dễ huấn luyện và được sử dụng rất linh hoạt. Ngoài binh lính, có những vị vua nước Việt cũng từng cầm giáo làm vũ khí, và có vị còn... ra đi vì mũi giáo.

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang âm thầm thúc đẩy sự mở rộng của nhiên liệu hóa thạch, giúp một số quốc gia gây ô nhiễm lớn nhất thế giới khoan và khai thác nhiều dầu khí hơn. Đã đến lúc cần xem xét lượng khí thải do AI tạo ra, vốn có thể vượt xa đáng kể so với tác động môi trường từ cơ sở hạ tầng của nó.

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

Thảm họa Chernobyl không chỉ khép lại bằng những con số thương vong, mà còn mở ra một bước ngoặt lớn trong tư duy về an toàn và chính sách năng lượng toàn cầu. Từ cú sốc 1986, khái niệm "văn hóa an toàn hạt nhân" được đặt lên hàng đầu, kéo theo những thay đổi sâu rộng trong thiết kế, vận hành và giám sát các nhà máy điện nguyên tử. Ngày nay, khi nhu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng, điện hạt nhân đang trở lại và đáng tin cậy hơn nhiều so với cách đây 4 thập kỷ.

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

Ngày 28/4/2026, Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về Chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch đã diễn ra tại thành phố Santa Marta của Colombia, với sự tham dự của đại diện hơn 50 quốc gia. Bức tranh rối ren của thị trường năng lượng thế giới thời gian qua cho thấy một thực tế phũ phàng là sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch đang trói buộc các quốc gia vào những biến động địa chính trị phức tạp, vốn nằm ngoài tầm kiểm soát. Trong bối cảnh đó, hội nghị tại Santa Marta đã được nhiều ý kiến ca tụng là sự kiện đánh dấu “bước khai tử” nhiên liệu hóa thạch.

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Khi những người ủng hộ ông Trump trong cuộc đua trở lại Nhà Trắng hô vang khẩu hiệu “Đưa việc làm trở lại”, họ không chỉ nói về những bảng lương đã mất, mà còn về cả một bản sắc đang phai mờ. Thực tế, những nhà máy mới vẫn đang mọc lên trên đất Mỹ, chỉ có điều chúng không nằm ở những thị trấn công nghiệp xưa cũ mà chọn những vùng đất mới. Đây vừa là lựa chọn tất yếu, đồng thời là một nghịch lý của nền kinh tế - chính trị Mỹ hiện tại.

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

Trong nhiều thế kỷ, ưu thế trên không là đặc quyền của các cường quốc quân sự. Máy bay không người lái (UAV) đang thay đổi điều đó. Khi khả năng tiếp cận từ trên không không còn là đặc quyền của vài cường quốc nữa, nó đang khiến cho những cuộc xung đột trở nên “cân bằng” hơn nhưng cũng khó kiểm soát hơn.

Sắc cờ thời xưa

Sắc cờ thời xưa

Chúng ta thường nghe kể rằng thời Nguyễn ở nước ta, vua treo cờ vàng, nhưng ít người biết rằng vua còn có nhiều sắc cờ khác nữa.

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Tòa án Pháp ra phán quyết phạt tù lãnh đạo một tập đoàn đa quốc gia vì hành vi tài trợ khủng bố trong bối cảnh xung đột tại Syria giai đoạn 2013 - 2014. Động thái này không chỉ phơi bày mức độ gắn kết giữa hoạt động kinh doanh và các mạng lưới cực đoan, mà còn phát đi cảnh báo rõ rệt về ranh giới pháp lý mà doanh nghiệp không thể vượt qua khi hiện diện tại các khu vực chiến sự.

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.