Nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam: Giữa ngã ba đường

Hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học là chính sách đã được thực hiện liên tục ở nước ta trong khoảng 15 năm qua, kể từ khi Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 được ban hành.

Hội nhập quốc tế ở đây được thể hiện ở 2 hình thức: một là, áp dụng các tiêu chuẩn của quốc tế trong việc vận hành hệ thống giáo dục đại học (ví dụ: kiểm định chất lượng quốc tế, nghiên cứu khoa học theo các chuẩn quốc tế…); hai là, tăng cường các yếu tố quốc tế trong các cơ sở giáo dục đại học (ví dụ: tuyển sinh sinh viên quốc tế và tuyển dụng giảng viên quốc tế…). 

Qua 15 năm thực hiện, công cuộc hội nhập quốc tế, một mặt, đã có một số thành tựu nhất định; mặt khác, cũng có nhiều mong muốn chưa đạt được. Bản thân trong 15 năm qua, đã có khá nhiều nghiên cứu đánh giá về những điểm được và chưa được này.

Ảnh bìa cuốn sách.
Ảnh bìa cuốn sách.

Mặc dù vậy, các tổng kết kể trên chủ yếu mới chỉ ở dạng các bài báo/ tham luận nhỏ lẻ hoặc được lưu hành trong phạm vi hẹp; chưa có nhiều nghiên cứu nào đủ “dày dặn” được công bố rộng rãi. Trong bối cảnh đó, cuốn sách “The Vietnamese Social Sciences: at a fork in the road” (tạm dịch là (i) “Khoa học xã hội tại Việt Nam: ở thời khắc quyết định” hoặc (ii) “Khoa học xã hội tại Việt Nam: giữa ngã ba đường”) ra đời, phần nào thỏa mãn được nhu cầu kể trên.

Cuốn sách do NXB De Gruyter (Đức) phát hành tháng 11/2019, do TS. Vương Quân Hoàng (Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành, Đại học Phenikaa) và PGS. Trần Trung (Học viện Dân tộc Việt Nam) đồng chủ biên; cùng với sự đóng góp của 16 nhà nghiên cứu khoa học xã hội trẻ khác (tuổi từ 20-40), đến từ nhiều đơn vị trong và ngoài nước. Cuốn sách gồm 8 chương, bên cạnh 1 phần mở đầu, 1 phần kết luận và 1 phục lục, dày hơn 200 trang đã tổng kết toàn bộ kết quả, thực trạng, xu hướng về các nghiên cứu của các tác giả người Việt trong lĩnh vực khoa học xã hội (bao gồm: kinh tế, giáo dục, tâm lý, y cộng đồng, khoa học chính trị, luật…) trong khoảng thời gian 11 năm (từ 2008-2018) trên các ấn phẩm quốc tế.

Điểm đặc biệt của cuốn sách, bên cạnh việc viết bằng tiếng Anh nhưng lại có tác giả hoàn toàn người Việt 100% thể hiện ở một số điểm:

Thứ nhất, cuốn sách được viết dựa trên nền tảng là một bộ dữ liệu về toàn bộ các nhà nghiên cứu người Việt trong và ngoài nước, có các công trình nghiên cứu về khoa học xã hội trên các ấn phẩm quốc tế được Quỹ Phát triển Khoa học và Quốc gia NAFOSTED công nhận. 

Đây là bộ dữ liệu công phu (https://sshpa.com/) được nhóm tác giả thu thập, tổng hợp và phát triển trong vòng gần 3 năm (từ tháng 2/2017) mà không nơi nào có được (bản thân Quỹ NAFOSTED cũng chỉ có danh sách các công trình do NAFOSTED tài trợ chứ không có đủ danh mục các công trình mà Quỹ không tài trợ). Nhờ vậy, cuốn sách có được một đặc điểm mà không nhiều cuốn sách trong khoa học xã hội có được, đó là: dữ liệu vừa toàn diện, vừa sâu, lại có hình ảnh trực quan, dễ hiểu và bắt mắt.

Thứ hai, cuốn sách thực tế bản thân cũng là một tổng kết của một chuỗi nghiên cứu được nhóm tác giả thực hiện liên tiếp trong 3 năm trước đó với khoảng 10 công trình khoa học đã được công bố trên các tạp chí quốc tế. Nói cách khác, cuốn sách, một mặt tổng kết về vấn đề nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam trong 11 năm; nhưng mặt khác, bản thân nó cũng  có thể được xem là một “tiểu tổng kết” của một cụm công trình của chính nhóm tác giả trong quá trình 3 năm làm việc miệt mài.

Số lượng chưa nhiều nhưng tăng trưởng đều đặn

Trong những năm qua, giới học thuật ở Việt Nam vẫn lưu truyền một nhận định của một đại diện ngành khoa học tự nhiên, đại ý: “Việt Nam làm gì có nghiên cứu khoa học xã hội”. Nhận định hẳn nhiên là gây tranh cãi; nhưng nếu xét về khía cạnh công bố quốc tế, thì nhận định trên thực tế là “đau nhưng mà đúng”. Mặc dù vậy, khi đọc cuốn sách mới công bố này, thì có thể thấy, nhận định kể trên dường như không hẳn còn đúng trong thời điểm hiện nay nữa.

Lưu đồ mô tả sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội Việt Nam trong 2 năm 2008 (hình a) và 2018 (hình b).
Lưu đồ mô tả sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội Việt Nam trong 2 năm 2008 (hình a) và 2018 (hình b).

Nếu so với lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, có thể về số lượng các công bố trong khoa học xã hội chưa nhiều; nhưng về tốc độ tăng trưởng thì cũng rất đáng kể. Theo thống kê từ cuốn sách (Chương 2), trong vòng 11 năm, đã tổng cộng 2,363 công bố với sự tham gia của 1,374 tác giả người Việt. Nếu như trong năm 2008, chỉ tổng cộng 83 nghiên cứu với 136 tác giả người Việt, thì con số tương ứng tại năm 2018 lần lượt là 391 và 923 (tăng 4,7 và 6.8 lần). Rõ ràng, mặc dù về số lượng vẫn còn khiêm tốn, nhưng khoa học xã hội Việt Nam đã có những đóng góp ngày càng rõ nét cho khoa học Việt Nam nói chung. 

Những ngành hàng đầu, những cơ sở tiên phong và vai trò của các nhóm nghiên cứu 

Dữ liệu từ cuốn sách cũng chỉ ra những ngành có nhiều công bố nhất trong lĩnh vực KHXH trong 10 năm qua (Chương 3,4). Cụ thể, kinh tế là ngành dẫn đầu với 620 bài trong vòng 11 năm (chiếm 22.7%), tiếp theo có thể kể đến Giáo dục (338 bài, 12.38%), Chăm sóc sức khỏe (313 bài, 11.46%), kinh doanh (308 bài, 11.28%), xã hội học (179 bài, 6.55%). Đặc biệt ngành khoa học chính trị, ngành vốn được xem là khó đăng theo phản ánh của nhiều nhà khoa học trong nước cũng đã đóng góp 74 bài, 2.71%, đứng thứ 10 trong tổng số 32 ngành được liệt kê.

Đâu là những đơn vị hàng đầu trong nghiên cứu KHXH tại Việt Nam cũng sẽ là một chủ đề được nhiều người quan tâm. Dữ liệu nghiên cứu (Chương 2) cho thấy, Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở có nhiều công bố quốc tế thuộc lĩnh vực KHXH nhất cả nước trong giai đoạn 2008-2018 (268 bài); tiếp theo có thể kể đến Đại học Kinh tế Quốc dân (160 bài), ĐH Y Hà Nội (141 bài), ĐH Kinh tế TP.HCM (106 bài) và ĐH Quốc gia TP.HCM (105 bài).

Vai trò của các nhà khoa học hàng đầu, đồng thời cũng là trưởng của nhóm nghiên cứu do họ lãnh đạo đóng vai trò căn cốt cho sự phát triển của khoa học. 

Trong cuốn sách này, tại Chương 5, chúng ta cũng sẽ có cơ hội được làm quen với những gương mặt “năng suất nhất” trong giới nghiên cứu KHXH hơn 10 năm qua như Trần Xuân Bách (ĐH Y Hà Nội), Lưu Trọng Tuấn (ĐH Kinh tế TP.HCM), Nguyễn Việt Cường (ĐH Kinh tế Quốc dân), Trần Thị Lý (ĐH Deakin)... Điểm đáng chú ý là, những gương mặt này, trong một số năm, thậm chí còn có năng suất công bố hơn cả một trường. Dường như đây cũng chính là đặc điểm của các nước có nền khoa học non trẻ như Việt Nam.

Những động lực phía sau

Sự phát triển tương đối nhanh của KHXH Việt Nam từ 2008 đến nay hẳn nhiên là có các động lực đằng sau.

Và sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc đến những động lực này. Cụ thể, theo nhóm tác giả, 2 nhóm động lực chính được chia thành: (i) các chính sách của Nhà nước mà nổi bật nhất là việc ra đời Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia NAFOSTED vào năm 2008 và Quy định về đào tạo tiến sĩ kèm theo Thông tư 08 năm 2017; và (ii) sự tham gia của các trường đại học (bao gồm cả các đại học truyền thống như ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Kinh tế TP HCM…; hay đại học mới thành lập như ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Duy Tân); và các quỹ tư nhân (như của VinGroup hay của Tập đoàn Phenikaa). Độc giả có thể tìm hiểu kỹ hơn về các vấn đề này trong Chương 1 và Chương 7 của cuốn sách.

Hướng tới phía trước

Trong chương 6 và chương 8 của sách, nhóm tác giả đề cập đến 2 vấn đề, mà nếu xem xét kỹ thì nó không những đúng cho bản thân ngành KHXH mà còn đúng cho toàn bộ lĩnh vực nghiên cứu và giáo dục đại học ở nước ta.

Vấn đề thứ nhất là chất lượng của nghiên cứu. Thực tế, kể từ ngày hội nhập, giới nghiên cứu ở nước ta vẫn dùng các chỉ số đánh giá khoa học như chỉ số tác động Impact Factor, Citescore hay H-index … để đánh giá kết quả của một công trình hay một nhà khoa học. Cách tiếp cận này là đúng nhưng chưa đủ.

Tại Chương 6, nhóm tác giả giới thiệu và bình luận về những xu hướng mới nhất, cũng đang được thế giới quan tâm như: khoa học mở, dữ liệu mở, phản biện mở hay truyền thông khoa học.

Vấn đề thứ hai, được trình bày trong Chương 8 bàn về việc vận hành hệ thống khoa học như một lĩnh vực kinh tế. Về mặt truyền thống, các trường đại học ở nước ta chủ yếu là các cơ sở công lập, được nhà nước bao cấp và thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ trong một cơ chế tập quyền cao.

Bối cảnh mới yêu cầu các trường đại học phải tự chủ hơn, dựa vào chức năng nghiên cứu nhiều hơn. Sự dịch chuyển này yêu cầu các trường đại học phải tự thân vận động hơn, hay nói như lời của nhóm tác giả , phải có năng lực “doanh chủ học thuật” (academic entrepreneurship) nhiều hơn.

Cả hai nội dung kể trên chắc chắn là những điều các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý đại học và bản thân các nhà nghiên cứu không thể bỏ qua.

Phạm Hiệp

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.