Ngân Giang: Một nhà thơ từng bị lãng quên

Nhà thơ Ngân Giang (1916 - 2002) tham gia cách mạng từ rất sớm (1935) và làm thơ cũng đã lâu, trước Cách mạng Tháng Tám.

Đọc thơ Ngân Giang, thấy bà ảnh hưởng rất mạnh từ thơ Đường và cũng thuần thục về thơ lục bát - hai thể loại có hầu hết trong thơ Ngân Giang.

Ở nhà thơ này, trước hết là một nỗi buồn vô tận trải dài dường như suốt từ ngày mới làm thơ đến tận lúc qua đời. Tuy nhiên, cùng với ấn tượng ấy, còn là một ấn tượng khác: lòng yêu nước, ý thức tự hào dân tộc, cũng có ngay từ thuở mới làm thơ. Người ta thường nhắc đến những bài như Bạch Đằng Giang viết về anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, Trưng Nữ Vương viết về anh hùng dân tộc Trưng Trắc, mà ở đó có những lời rất mạnh:

Bạch Đằng Giang! Bạch Đằng Giang!
Máu đỏ quân thù bao giờ tan?
Kể chi ngựa đá hai lần nhọc
Đây sóng reo vang khúc khải hoàn...
Thuyền giặc ngổn ngang
Chiều tà đổ bóng hoàng hôn xuống
Sóng bạc pha màu máu đỏ loang...
Quân ta say vỗ gươm mà hát
Hát rằng "Vạn cổ thử giang san"...

(Bạch Đằng Giang)

và:                              

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng, khăn trở lạnh đầu voi...

(Trưng Nữ Vương)

Nhà thơ Ngân Giang.
Nhà thơ Ngân Giang.

Không phải ai cũng còn nhớ những câu êm đềm này mở đầu bài Xuân chiến địa (1946), cho dù bây giờ đọc lại, thấy lời có phần xưa cũ:

Gió dịu, mây hiền, ánh nắng tươi,
Núi sông bừng nở vạn hoa cười.
Bãi sa trường ngát men tranh đấu
Chiến sĩ say nhìn mãi viễn khơi... 

Người đẹp phương trời xiết đợi trông
Một chiều nhạc ngựa rộn bên sông
Chàng đi lo trả thù dân tộc
Đã trở về cùng những chiến công 

Lá thư và áo người thương ấy
Gửi độ sang thu lá chớm vàng:
Đây cả tấm lòng dâng chiến sĩ
Quên tình riêng nhé, nhớ giang san!

Thế nhưng nhìn lại cả đời thơ tác giả những dòng thơ  trên, có thể thấy bà đã không được may mắn, nếu không muốn nói là đã có phần bị lãng quên, so với các nhà thơ nữ sáng tác cùng thời, từ trước Cách mạng Tháng Tám cho đến những năm sau này, như Vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ... chẳng hạn.

Kể từ 1954 là năm kết thúc cuộc kháng chiến chiến chống Pháp cho đến khi qua đời, nhà thơ Ngân Giang ít được nói đến trên văn đàn. Lại như, trong khi khá nhiều người biết chuyện nhà thơ Hằng Phương (1908 - 1983) gửi gói cam kèm theo một bài thơ tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào đầu năm 1946, và được Người trả lời bằng thơ, thì không mấy ai được biết rằng cũng vào khoảng thời gian ấy, nhà thơ Ngân Giang đã gửi tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh bài thơ Kính dâng các bậc Anh hùng dân tộc mà bà thêu trên một tấm vóc đại hồng, và được Chủ tịch Hồ Chí Minh  gửi lời cảm ơn bằng những câu:

Mấy lời cảm tạ Ngân Giang
Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu

(Bài thơ “Kính dâng...” ấy của Ngân Giang như sau: Ta say uy võ Trần Hưng Đạo/ Ta say sự nghiệp Hồ Chí Minh/ Nhật nguyệt soi trời cùng Thúy Lĩnh/ Hoa hương chầu ngát đất Mê Linh/ Dải Lam Sơn treo gương hào kiệt/ Gò Đống Đa hằn gót viễn chinh/ Mấy thuở không phai hồn chủng tộc/ Muôn năm cờ đỏ dựng thanh bình).

Nhà thơ Ngân Giang còn bị lãng quên đến mức, không như các nhà thơ nữ nói trên, bà hoàn toàn vắng bóng trong Từ điển văn học, bộ từ điển  chuyên ngành văn chương đầu tiên được làm ở ta, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội in làm hai tập, vào các năm 1983, 1984. Mãi đến hai chục năm sau đó, khi tái bản Từ điển văn học, người ta mới sực nhớ ra, và thấy không thể không nói đến Ngân Giang (Từ điển văn học lần này in từ Nhà xuất bản Thế giới, năm 2004). Mục từ Ngân Giang ở đây do Nguyễn Vinh Phúc và Đặng Thị Hảo viết (khá kỹ).

Sở dĩ có hiện tượng trên, theo tôi, có thể vì những lý do này chăng:

Nhà thơ Ngân Giang viết nhiều, nhưng ít gửi thơ đăng báo chí. Thơ bà có phần nào xa hiện thực đời sống xã hội, mà đi nhiều hơn vào cõi riêng tư với nhiều tâm trạng buồn chán. Ngôn ngữ trong thơ Ngân Giang thường cổ xưa. Lại có thể bà có những uẩn khúc gì trong cuộc đời chăng?

Những phán đoán trên, tôi nghĩ là có cơ sở. Vì theo Từ điển văn học thì nhà thơ đã tham gia Cách mạng từ sớm: Năm 1944 vào Mặt trận Việt Minh, tham gia cướp chính quyền từ thực dân Pháp; năm 1946 phụ trách Ban lễ tân của Bộ Nội vụ, và làm việc ở Sở Tuyên truyền trong chiến khu... Đến năm 1949, do hoàn cảnh gia đình, phải về Hà Nội... Từ điển văn học cũng cho biết: Năm 1961 Ngân Giang hoạt động văn nghệ quần chúng ở quê, và do từ chối quan hệ với một người đàn ông mà bị thù ghét, bị viết thư nặc danh vu cáo là "Nhân văn", là "thiếu phẩm hạnh"...

Bị bức bách về tinh thần, bà buồn chán, quay ra Hà Nội, cuối năm 1970 thì làm ghề thêu ren cổ truyền của gia đình, sau đó mở quán bán chè chén, xoay xở nuôi mười người con của ba đời chồng. Cũng theo Từ điển văn học, nhà thơ Nguyễn Vỹ (1910 - 1971) từng viết về Ngân Giang: "Không giống như Mộng Sơn, Anh Thơ, Ngân Giang sống rất nhiều về tình yêu, mơ mộng rất nhiều về tình yêu, đau khổ rất nhiều về tình yêu, nhưng chẳng bao giờ có hạnh phúc với tình yêu cả".

Với nhà thơ Ngân Giang, riêng tôi có một niềm ân hận. Bấy giờ là năm 1990, cách đây đã một phần tư thế kỷ. Tập Thơ Ngân Giang ra đời từ Nhà xuất bản Hà Nội. Tôi đang làm lý luận, phê bình ở tạp chí “Văn nghệ quân đội”. Chỉ mới đọc lướt qua tập thơ, tôi đã "bị" hấp dẫn và quyết định viết về tập thơ này để in trên tạp chí - cho dù tác giả và tập thơ không phải là "ưu tiên" số một đối với tờ tạp chí chủ yếu dành cho các lực lượng vũ trang như “Văn nghệ quân đội”.

Bài tôi viết (không được dài và kỹ lắm) in ra độ nửa tháng thì tôi nhận được thư của nhà thơ Ngân Giang, kèm theo hai quyển sách tặng: tập thơ nói trên và một tập khác, cũng có tên Thơ Ngân Giang, được in gần như cùng một lúc, ở Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh. Cả hai tập đều có bút tích nhà thơ sửa những lỗi in sai và thay đổi một ít câu chữ. Nhà thơ mời tôi đến nhà chơi, trò chuyện. Bây giờ, tôi không còn nhớ rõ vì sao tôi không đến được.

Có thể bấy giờ, ở nhà tôi có một việc riêng, quá bận. Có thể gặp lúc tôi chuẩn bị cho một chuyến đi công tác... Mà hồi ấy phương tiện đi lại và phương tiện liên lạc khó khăn, không được như bây giờ. Dẫu sao, tôi vô cùng tiếc nuối, đã lỡ mất một dịp được trò chuyện với một nhà thơ kỳ cựu mà tôi biết tiếng từ lâu. Nếu có cuộc gặp ấy, biết đâu những dòng tôi viết hôm nay chẳng có thêm những điều bổ ích và lý thú?

Tôi chú ý đến một chi tiết mà hai tác giả Nguyễn Phan Cảnh và Phạm Thị Hòa viết trên báo “Sài Gòn giải phóng” số ra ngày 5-3-1989 trùng với chi tiết mà hai tác giả Nguyễn Vinh Phúc và Đặng Thị Hảo viết trong Từ điển văn học: Nhà thơ Ngân Giang đã làm đến... bốn nghìn bài thơ!

Nếu đọc hai tập Thơ Ngân Giang đã nói, và hai tập thơ Ngân Giang viết trước Cách mạng là Giọt lệ xuân (1931) và Tiếng vọng sông Ngân (1944) cùng với mấy quyển tuyển tập thơ khác, chúng ta chỉ mới được biết hơn một trăm bài thơ của Ngân Giang - một tỉ lệ quá nhỏ.

Phải chăng, đã đến lúc cần sưu tầm cho được một mức độ tối đa kho tàng thơ Ngân Giang. Đến lúc ấy, chúng ta mới có thể bình luận, nhận định đầy đủ, chính xác về nhà thơ này - nhà thơ đã có thơ đăng báo (bài “Vịnh Kiều” trên báo Đông Pháp) từ năm mới chín tuổi, đã in tập thơ đầu (tập “Giọt lệ xuân”, ở Nhà xuất bản Tân Dân) năm mười lăm tuổi, và kỳ lạ hơn nữa, tương truyền hồi sáu tuổi đã có hai câu thơ thật hay:

Tàu về rồi tàu lại đi
Khối vô tình ấy nhớ gì sân ga!

(Tôi xin nhắc lại: hai câu thơ này là của một cô bé sáu tuổi!)

Hồng Diệu

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.