Nén hương cho một người cô độc

Đại tá, nhà văn Nguyễn Quốc Trung không vô danh. Ông, chính xác là tác phẩm của ông, rất nổi tiếng, mà ông thì không hẳn. Nhưng ông không hề biết mà cũng không cần biết. Bạn bè, độc giả thương quý ông, cả trong đời sống lẫn trong trang viết đều rất đông. Nhưng ông không quảng giao và luôn rất kiệm ngôn.

Huyền thoại Dagestan, thi hào Rasul Gamzatovich Gamzatov có mấy câu mà tôi rất thích:

"Ai là người lắm lời hơn cả?
Cô gái già không có người yêu.
Ai là người nói nhiều hơn cả?
Nhà văn vô danh, luống tuổi, viết nhiều"…

Đại tá, nhà văn Nguyễn Quốc Trung không vô danh. Ông, chính xác là tác phẩm của ông, rất nổi tiếng, mà ông thì không hẳn. Nhưng ông không hề biết mà cũng không cần biết. Bạn bè, độc giả thương quý ông, cả trong đời sống lẫn trong trang viết đều rất đông. Nhưng ông không quảng giao và luôn rất kiệm ngôn. Tác phẩm của nhà văn suốt đời áo lính ấy, tôi đọc gần hết. Đến trước năm 2000, ông vẫn viết rất nhanh. Và viết nhiều. Toàn những cuốn tiểu thuyết, truyện, ký dày dặn: "Thời chúng mình yêu nhau" (1989), "Biên giới" (1982), "Người đàn bà hồn nhiên" (1996), "Cú điện thoại lúc quá nửa đêm", "Đứa con người lái đò" (1992), "Bên rừng thốt nốt" (1984), "Người đàn bà khóc mướn" (1990), "Tháng chạp của đời người", "Đêm trừ tịch" (1998)...

Nén hương cho một người cô độc -0
Nhà văn Nguyễn Quốc Trung.

Năm 1974, mới 18 tuổi, ông đã rời quê vào quân ngũ, thuộc Sư đoàn 341 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam. Hòa bình chưa lâu, chiến tranh lại kéo ông sang đất bạn Campuchia, chiến đấu và cầm bút, sau đó về học khóa III Trường viết văn Nguyễn Du, rồi quay lại chiến trường K trong vai trò phóng viên báo Quân đoàn 4. Phải thừa nhận, ông viết rất sâu về chiến tranh, nhất là với cuộc chiến biên giới Tây Nam. Khác với những nhà văn áo lính khác, chiến tranh trong tác phẩm của ông thường hiện ra trong những góc riêng, góc khuất dịu sâu đau đớn. Đó là tiếng thét câm lặng vọt ra từ lồng ngực hơn là đùng đoàng bom rơi đạn nổ. Ông viết về mảnh đất nào, viết về cái gì người ta cũng đọc ra tác giả là người xứ Nghệ. Ông viết về lửa khói chiến tranh dưới tán thốt nốt đất bạn Campuchia mà người đọc như tôi vẫn cứ hình dung ra chái bếp lợp lá cọ tỏa khói dưới những nhánh cọ bên vùng trung du Hương Sơn, Hà Tĩnh quê ông...

Tôi ấn tượng nhất với ông là cuốn "Người đàn bà khóc mướn" (1990), cuốn đầu tiên của ông mà tôi đọc. Đọc đi, đọc lại, ám ảnh. Nó riêng quá, độc đáo quá, dịu dàng, giằng xé và đau đớn đến nghẹt thở. Nó hình thành nên một cốt cách văn chương không giống ai. Phải là một con người đau đáu với quê hương, với ám thị tuổi thơ, với hắt hiu phận người vừa trung du, vừa chiêm trũng của thập niên 60 - 70 thế kỷ trước mới có thể vắt tuổi mình mà viết ra được thế... Tôi đọc khi mới học năm thứ hai đại học. Và nhớ đến tận giờ. Cũng vì những trang viết đầy ám thị đó mà tôi phải tìm đọc cho bằng hết tác phẩm của ông. 

Cùng một khoảng thời gian, Việt Nam có mấy tác phẩm văn chương tự hiện đầy tài hoa mà tôi không quên được. Đó là "Nỗi buồn chiến tranh" (Bảo Ninh), "Hồi ức làng Che" (Nguyễn Đức Thọ), "Bước qua lời nguyền" (Tạ Duy Anh) và "Người đàn bà khóc mướn" (Nguyễn Quốc Trung). Họ viết không hề giống bất kỳ cuốn nào, tác giả nào trước đó. Họ viết cho chính họ. Họ viết không mưu cầu, chỉ tuôn trào những đau đớn và ẩn ức từ trái tim vỡ vụn...

Đó là điều mà khi chập chững cầm bút tôi nhận ra, ám ảnh, dù không cắt nghĩa được.

Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống mới của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.

Xa lạ với chữ tranh đua, hiển nhiên ông không mưu cầu thành bại. Tâm hồn mẫn cảm của một người cầm bút chỉ chất đầy những đau buồn mất mát của kiếp người. Cả trong chất liệu sáng tạo lẫn đời sống, ông, chính ông đã tự hóa một thực tại folklore trôi lạc giữ dòng văn chương đương đại. Nhà văn chỉ viết cho chính mình. Viết chỉ để viết, để giải tỏa, chữ nghĩa bật ra, vỡ tung từ tận tâm can. Trang viết giàu ma mị, ám thị, cứ thế tuôn trào. Bạn bè, người đọc nghĩ về ông, đau đớn cùng ông với bao nhiêu thương quý. Nhưng ngoài trang viết, cơ hồ ông cũng chẳng biết mình có ai là bạn. Đến và đi, sống và viết, ông lặng lẽ. Tự chính nhà văn đã thừa đủ thành nguyên mẫu và chất liệu cho một cuốn tiểu thuyết về thân phận con người hay một cuộc chiến dai dẳng giữa thời bình nhưng ông không hề biết. Lòng ông chất đầy phế tích. Hồi ức cũ luôn đau đớn dằn vặt nhưng dù có muốn, ông cũng không thể một lần quay trở lại. 

Nén hương cho một người cô độc -0
Tác phẩm cuối đời của nhà văn Nguyễn Quốc Trung.

Sau này, tôi tham gia làm tờ Văn hóa văn nghệ Công an từ khi nó chưa ra đời (từ tháng 11 - 1995). Nhà văn Nguyễn Quốc Trung là một trong những cộng tác viên đầu tiên. Ông hay ghé tòa soạn. Chỉ nói chuyện bài vở, trang viết, tuyệt không luận bàn thêm điều gì khác, chẳng chơi, chẳng chuyện trò cà kê dê ngỗng. Ông đến bất ngờ, lặng lẽ, rồi ra về cũng lặng lẽ, bất ngờ. Gặp ở nơi khác, ông vẫn thế. Ông chưa bao giờ cười đùa, không mấy khi để ai nghe tiếng. Ông như cái bóng đổ dài dưới ánh đèn nhà bao người khác.

Mãi sau này tôi mới hiểu. Từ 1989, nhà văn nặng lòng với quê hương Nguyễn Quốc Trung chỉ sống ở Sài Gòn, một mình, không gia đình. Đời ông vận vào số ly hương và cô độc. Tuy nhiên, ông vẫn chăm bẵm, lo lắng cho hai cô con gái mình đến nơi đến chốn, thành đạt. Tác phẩm của ông cũng là những hồi ức cô độc, gần như thoát ly hẳn với thời sự và đề tài của những cái chung.

Điều duy nhất tôi biết về ông là sự cần mẫn, kỹ lưỡng đến kinh ngạc với trang viết. Thỉnh thoảng đang hồi thời sự nóng bỏng của vụ việc gì đó, tôi lại thấy ông đến tận nơi tìm. Có khi ông xin kết luận điều tra hay cáo trạng vụ nào đó, lúc lại nhờ tìm giúp hình ảnh. Tôi lạ, anh có viết báo vụ việc đâu, cần những thứ đó làm gì? Ông bảo: "Ừ, anh không viết báo. Anh cần biết cho chắc chắn. Bây giờ chưa viết, mai mốt viết sợ không tìm được. Không sống thật với thực tại, mai sau chẳng có gì đáng để gọi là quá khứ…".

 Quả đúng thế, ông chỉ cẩn trọng chứ chẳng chạy đua, chẳng đeo bám thời sự bao giờ. Ông sống bằng ký ức, viết bằng nỗi u hoài và tiếc nuối. Ông không mưu cầu điều gì, hình như mối quan tâm của ông không phải là tương lai. Ông chỉ chuẩn bị từ hiện tại để tương lai giàu thêm quá khứ. Tất nhiên, cũng chỉ để giàu thêm cho trang viết. Với đời riêng, nhà văn Nguyễn Quốc Trung chẳng trù liệu, vun quén chút gì. Và vì thế, trong mắt không ít người, ông có phần lập dị. Chỉ khi bàn vào ngưỡng văn chương, ông mới thật là ông. Vẫn nhẹ nhàng, ngắn gọn, không ồn ào, nhưng quyết liệt và không hề khoan nhượng.

Đời ông, như tôi biết, không hề đua chen, biệt bóng cả cơn giận lẫn nụ cười, già hơn tuổi. Sang thế kỷ XXI, ông viết ít hơn. Là ít với chính ông, nhưng vẫn sung sức chán so với bạn văn cùng thời cùng tuổi. Tác phẩm của ông vẫn đều đặn trình làng, với "Trong tiết thanh minh", "Đêm trừ tịch", "Người đến từ nước Mỹ", "Cô gái tính nhảy cầu Rạch Miễu". Gần đây nhất, trước đại dịch, ông còn cho ra mắt tiểu thuyết "Dòng sông bên chùa" (2019).

Phong cách và hình dung về ông thì vẫn thế. Hai mươi năm trước, ông gầy gò, khắc khổ, không cau có nhưng mặt vẫn đăm chiêu. Hai mươi năm sau vẫn đăm chiêu khắc khổ y như cũ. Mà không già đi. Mà người như ông, văn chương đau đớn riêng như ông, già thêm vào đâu được nữa?

Cùng ở Sài Gòn, nhưng tôi chỉ biết ông vướng Covid, phải nhập viện qua chia sẻ của nhà văn Nguyễn Quang Thiều trên trang cá nhân vào ngày 31-8. Dịch dã, chẳng ai thăm ai được. Vài ngày trước, nhà báo Nguyễn Thiêm, con trai nhà văn Nguyễn Khắc Trường, một người yêu quý nhà văn Nguyễn Quốc Trung như em ruột có điện thoại hỏi thăm. Ông bảo: "Chú khỏe hơn rồi, sắp ra viện". Thế rồi, bữa nay mùng 10-9, bỗng nghe ông về cõi tiêu diêu. Nhà văn khắc khổ ra đi trong cô độc. Tro cốt ông, Đại tá, nhà văn Nguyễn Quốc Trung, rồi mai đây sẽ được chuyển về cho CQĐD của Tạp chí Văn nghệ Quân đội tại TP Hồ Chí Minh. Ông về hưu đã 5 năm, nhưng nhà ông vẫn ở đó, gia đình duy nhất của ông cho đến bây giờ là ở đó...

Anh đi thanh thản, anh Trung nhé. Rồi mấy tài hoa cũng đã lặng lẽ đi xong một kiếp con người. Chỉ thương anh, ngày về cát bụi không gia đình mà cũng không nốt cả "Những người đàn bà khóc mướn". Chỉ một thôi cũng không. Kiếp lai sinh không khói hương và tiếng khóc, ắt hẳn cũng là một kiểu gọi tên khác của nỗi buồn...

TP Hồ Chí Minh,

ngày 10-9-2021

Nguyễn Hồng Lam

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.