Đọc "Những người tự đục đá kê cao quê hương", tiểu luận - phê bình văn học của Lê Thị Bích Hồng, NXB Văn hóa dân tộc, 2015

Một cách tiếp cận văn chương

Tập tiểu luận - phê bình văn học "Những người tự đục đá kê cao quê hương" của Lê Thị Bích Hồng "vẽ" và "dựng" bảy chân dung các nhà văn dân tộc ít người: Nông Quốc Chấn, Y Phương, Cao Duy Sơn, Mai Liễu (dân tộc Tày), Bàn Tài Đoàn (dân tộc Dao), Pờ Sảo Mìn (dân tộc Pa - dí) và Lò Ngân Sủn (dân tộc Giáy). Tác giả đã cùng lúc huy động và vận dụng phương pháp liên ngành (Địa - văn hóa, Phong cách học, Thi pháp học, Dân tộc học, Xã hội học,…) để nghiên cứu đặc sắc và đóng góp của mỗi nhà nghệ sĩ ngôn từ thuộc các dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam thống nhất thời hiện đại. 

Mỗi nhà văn được "vẽ" và "dựng" trong tập sách này đều rất sáng rõ về lộ trình sáng tác. Tuy nhiên mỗi người lại có một nẻo lối riêng của mình khi đến với văn chương. Nhưng có một đại lộ chung cho các nhà văn thuộc nhiều thế hệ khác nhau: đó là cách mạng, kháng chiến chống Pháp và Mỹ, là công cuộc xây dựng đất nước thời hậu chiến trong xu thế đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững.

Văn chương không phải là lịch sử, tất nhiên. Nhưng văn chương không thể đứng ngoài lịch sử và chính trị, vốn là những phương diện quan trọng tạo nên sinh khí của các hoạt động tinh thần của con người ở bất kì thời đại nào.

Bảy nhà văn thuộc nhiều thế hệ, nhưng họ có một mẫu số chung, đó là "người của thời đại cách mạng", và  cái đích đến cũng như động cơ cầm bút của các thế hệ này lại chỉ là một. Họ viết như một sự thúc bách nội tâm, như một duyên nghiệp, như một định mệnh. Và họ đều trung thành, thậm chí nói quá lên là, một lòng sống chết với văn chương chữ nghĩa. Họ coi hành động sáng tạo là một trách nhiệm công dân, trách nhiệm nghệ sĩ trước xã hội, không coi văn chương chỉ là một "trò chơi", thậm chí là "một trò chơi vô tăm tích" như ai đó có lúc nói vống lên cho khác người. Và một điểm này nữa cũng tạo nên mẫu số chung của họ: đó là tình yêu tiếng mẹ đẻ (là tiếng dân tộc sinh ra họ) và tiếng Việt chung cho cả cộng đồng 90 triệu người.

Một phương diện quan trọng khác trong mẫu số chung của các nhà văn dân tộc ít người được "dựng" trong trong cuốn sách này, đó chính là nhân cách nhà văn từ góc nhìn văn hóa. Hạt nhân của "nhân cách" chính là đạo đức, và hạt nhân của đạo đức chính là tình thương. Chỉ cần một chi tiết vị Thứ trưởng, kiêm Hiệu trưởng Nông Quốc Chấn tận tình chăm sóc người đồng hương và là học trò Hứa Vĩnh Sước (Y Phương) khi anh nằm viện, đủ thấy được trái đất này, cuộc đời này chưa bị đóng băng và tan rữa vì tình người vẫn nồng ấm, tràn đầy.

Một bài báo của nhà văn Tạ Duy Anh đã khiến các "ông quan địa phương" lưu tâm thu xếp công ăn việc làm cho nhà văn Cao Duy Sơn đang thất nghiệp sau mấy năm đèn sách theo học Trường Viết văn Nguyễn Du. Ứng xử chính là một trong các giá trị để nhận diện tố chất văn hóa của con người. 

Lê Thị Bích Hồng đã cố gắng để chỉ ra cái đặc sắc của phong cách mỗi nhà văn mà mình yêu mến. Cảm nhận và phân tích phong cách nghệ thuật của mỗi cá nhân nghệ sỹ là điều khó nhất đối với nhà nghiên cứu. Phong cách gắn liền với cá tính sáng tạo. Cá tính là sự hun đúc có khi ngẫu nhiên, nhưng chủ yếu là tất nhiên, của tài năng bẩm sinh, đã đành, nhưng chủ yếu là do sự kiên nhẫn tự rèn luyện.

Nói cách khác, tiếp cận một phong cách nghệ thuật, nhà nghiên cứu phải dày công phân tích cho được những yếu tố khách quan và chủ quan đã hun đúc nên tài năng ấy. Cái gọi là "Trời cho" của một tài năng nhiều khi không rõ ràng, thậm chí huyền bí và ít ỏi. Nhưng những cái "Đời cho" thì hiển hiện, phát lộ, và thường là dư dả. Và cốt nhất vẫn là sự nỗ lực vươn lên của mỗi cá nhân, tôi gọi đó là "Người cho". Ba nhân tố này kết tinh lại trong một cá thể sáng tạo.

Phong cách những nhà văn được "vẽ" và "dựng" trong tập sách này, theo tôi, đã hội đủ "3 trong 1". Nếu không có sự lăn lộn, từng trải, nếm đủ các thăng trầm của cuộc sống, tôi chắc không có một Y Phương như hôm nay, ấy là nói một ví dụ rất cụ thể để thấy. Lại nói về cái chủ quan trong một phong cách, như trường hợp Y Phương. Tôi thấy, qua cách phân tích của Lê Thị Bích Hồng, đó là sự hào hiệp của chủ thể. Hào hiệp và phóng khoáng - đó là phẩm tính quan trọng của một hồn thơ.

Đọc tác phẩm của Lê Thị Bích Hồng, độc giả "lẩy" ra được những nét chính trong phong cách mỗi nhà văn. Đó là một Nông Quốc Chấn với "sự giản dị, giản dị đến mức tưởng như không còn gì có thể giản dị hơn. Thơ ông hồn nhiên, giản dị như núi rừng".

Người ta nói "cái đẹp là sự giản dị" quả không sai, ứng vào trường hợp Nông Quốc Chấn là sát hợp nhất. Đó là Bàn Tài Đoàn trong thơ nguyên vẹn và tinh khôi của những thiên nhiên trong lành, của những tình cảm chân phương, của những ngôn từ giản dị mang phong vị dân gian "Bàn Tài Đoàn luôn có ý thức dung dưỡng thơ mình bằng nguồn thơ ca dân gian" (nhân bàn về nhà thơ này, thiết nghĩ cách viết của Lê Thị Bích Hồng gợi cho chúng ta suy nghĩ nghiêm túc hơn về văn hóa dân gian luôn luôn như là nguồn sữa nuôi dưỡng văn học viết; dường như các nhà thơ dân tộc ít người có cái ý thức sâu sắc hơn các nhà thơ dân tộc Kinh về sự hứng khởi tiếp nhận nguồn suối nghệ thuật dân gian. Phải chăng họ sống gần thiên nhiên hơn? Phải chăng tâm hồn họ thuần phác và giản dị hơn?).

Một Cao Duy Sơn thâm trầm, sâu sắc trong văn xuôi, một lối văn xuôi không tự đóng khung trong giới hạn không gian - thời gian chật hẹp của "thung thổ văn hóa". Trái lại rất "mở" trong chủ đề, phong cách và bút pháp. Truyền thống và hiện đại kết hợp nhuần nhuyễn khiến cho văn xuôi Cao Duy Sơn đi ra được biển lớn, hòa nhập được với khu vực (tập truyện ngắn "Ngôi nhà xưa bên suối" nhận Giải thưởng văn học Đông Nam Á, 2009).          

Cuốn sách mới "Những người tự đục đá kê cao quê hương" của Lê Thị Bích Hồng gợi cho độc giả suy ngẫm về một vấn đề quan thiết: Nhà văn dân tộc ít người và việc sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ. Viết tới đây tôi chợt nhớ đến R. Gamzatôp (1923-2003), nhà thơ dân tộc thiểu số Avar, nước Cộng hòa tự trị Đaghextan (thuộc Liên bang Nga). Ông sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ, tác phẩm của ông được phổ biến bằng tiếng Nga thời kì Liên xô (trước đây) và được dịch ra nhiều ngữ trên thế giới. R. Gamzatôp có bài thơ rất hay "Tiếng mẹ đẻ" (được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 6).

Bài thơ ngắn nhưng dung chứa tư tưởng lớn và nghệ thuật cao siêu: "Mơ hồ thấm từng âm thanh tiếng mẹ/Tôi bỗng tỉnh ra. Tới giây phút lạ lùng/Tôi chợt hiểu, người chữa tôi khỏi bệnh/Chẳng thể là ai, ngoài tiếng mẹ thân thương/Những tiếng khác dành cho dân tộc khác/Cũng sẽ khiến cho lành bệnh bao người/Tôi chỉ biết nếu tiếng tôi biến mất/Thì tôi sẵn sàng nhắm mắt buông xuôi".

Tâm thế của nhà thơ Gamzatôp gợi cho chúng ta suy nghĩ về thực trạng văn chương các dân tộc ít người hiện nay. Trong số những nhà văn dân tộc ít người mà Lê Thị Bích Hồng "dựng", tôi thấy, chỉ có nhà thơ Bàn Tài Đoàn là người chủ yếu sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng Dao). Tác giả đưa ra những con số rất cụ thể: Khảo sát 13 tập thơ của Bàn Tài Đoàn thấy có 4 tập thơ hoàn toàn viết bằng tiếng Dao, 9 tập thơ viết bằng song ngữ Dao và Quốc ngữ, chỉ có một số rất ít bài thơ hoàn toàn viết bằng Quốc ngữ.

Đó là những vấn đề, theo tôi, có tính chất chiến lược phát triển nền văn học Việt Nam nhiều dân tộc. Nhà thơ Y Phương trong bài thơ "Nói với con" (được đưa vào Sách giáo khoa Ngữ văn 9), đã viết: "Người đồng mình thô sơ da thịt/Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con/Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương/Còn quê hương thì làm phong tục/Con ơi tuy thô sơ da thịt/Lên đường/Không bao giờ nhỏ bé được/Nghe con". Từ cái cấu tứ này của bài thơ, Lê Thị Bích Hồng đã mượn đặt tên cho tác phẩm mới của mình: "Những người tự đục đá kê cao quê hương". Một cuốn sách, tôi nghĩ là bổ ích và lí thú cho những ai yêu quý văn chương nước nhà nói chung, văn chương các dân tộc ít người nói riêng.

Hà Nội, tháng 1 năm 2016

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.