Lời thề độc lập trên quảng trường Ba Đình lịch sử

Vào nửa đầu tháng 8/1945, miền Bắc trời đầy mây, u ám, nặng nề lúc mưa lúc tạnh. Nhưng từ 19/8 trở đi, trời nắng hửng dần, nước cũng rút dần. Ngày 2/9/1945 là một ngày tuyệt đẹp. Bầu trời xanh hơn, nắng vàng rực rỡ hơn. Cái nắng mùa thu không oi bức, ngột ngạt như nắng mùa hè mà dịu nhẹ. Bầu trời sáng và cao, không gian trong lành. Đường phố Hà Nội rực rỡ sắc màu cờ hoa.

Ngay từ sáng sớm, người dân ngoại thành qua các cửa ô Cầu Giấy, Chợ Dừa, Cầu Dền, Ngã Tư Vọng, Kim Liên, Đống Mác, Yên Phụ... nườm nượp đổ vào nội thành; già, trẻ, gái, trai ai cũng chọn cho mình bộ quần áo mới nhất, đẹp nhất để mặc. Người quen biết gặp nhau, chào nhau, bắt tay nhau, ôm chặt nhau mà nước mắt rưng rưng. Người không quen nhau cũng chào nhau thân ái. Một cái gì đó thật mới mẻ đến với mỗi cuộc đời, mỗi con người. Ánh nắng mùa thu rực rỡ làm gương mặt ai cũng bừng lên rạng rỡ.

Từ 12 giờ trưa, các đoàn người đã tập kết đông nghịt về Quảng trường Ba Đình. Cả một biển người, cả một rừng cờ đỏ sao vàng nhấp nhô những băng rôn, khẩu hiệu:

- Nước Việt Nam của người Việt Nam !
- Ủng hộ Chính phủ lâm thời!
- Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!
- Đả đảo chủ nghĩa thực dân Pháp!

Tất cả cùng hướng về phía lễ đài. Xung quanh lễ đài, hàng quân danh dự đứng nghiêm trang, tề chỉnh. Lễ đài được ghép bằng gỗ, mới được dựng vào những ngày trước đó. Bốn mặt lễ đài phủ vải đỏ, ở giữa có hình nổi ngôi sao vàng năm cánh, trang nghiêm mà giản dị.

Đúng 14 giờ, đoàn xe của các thành viên Chính phủ xuất hiện có đoàn tiêu binh đi hộ tống hai bên. Đến sát lễ đài, đoàn xe từ từ dừng lại. Một ông già dáng cao gầy, trán cao, mắt sáng, mặc bộ kaki màu vàng nhạt, đội chiếc mũ vải đã cũ, dẫn đầu các thành viên Chính phủ bước lên lễ đài. Đó là lần đầu tiên người dân Thủ đô được nhìn thấy vị Chủ tịch kính yêu của mình, lần đầu tiên Bác Hồ xuất hiện trước quốc dân đồng bào.

Khi Bác Hồ và các thành viên Chính phủ đã tề chỉnh trên lễ đài, lễ chào cờ trang nghiêm được cử hành. Sau lễ chào cờ, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập. Cả biển người im phăng phắc khi chất giọng miền Trung ấm áp của Người vang lên trên Quảng trường:

“Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho  họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do...

Cả biển người lặng nghe như uống từng lời của Người. Giọng Bác đầm ấm, rõ ràng, khúc chiết. Đọc xong một đoạn, Bác dừng lại giữa những tràng vỗ tay hoan hô không dứt, rồi thân mật hỏi:

- Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?

Người vẫn sợ rằng, với giọng nói xứ Nghệ, âm sắc nằng nặng, có thể nhiều người nghe không rõ. Nhưng cả quảng trường đã đồng thanh hô vang như sấm dậy: “Có!”. Từ lúc đó, khoảng cách giữa Lãnh tụ và người dân không còn. Ai cũng cảm thấy rằng, vị Cha già dân tộc đối với mình như người Ông, người Cha gần gũi, thân thiết nhất.

Bác Hồ đọc xong Tuyên ngôn độc lập, tiếp đến các thành viên của Chính phủ lâm thời làm lễ tuyên thệ dưới lá quốc kỳ, trước sự chứng kiến của hàng triệu người tham dự lễ míttinh trên quảng trường:

“Chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc dân đại biểu đại hội cử lên, xin thề rằng: Chúng tôi sẽ kiên quyết lãnh đạo toàn dân giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc và thực hiện bản chương trình của Việt Minh, đặng mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc.

Trong lúc giữ vững nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi khó khăn, nguy hiểm, dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ. Xin thề!”.

Những cánh tay mạnh mẽ vung lên, dứt khoát và kiên quyết.

Sau lễ tuyên thệ của các thành viên Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày về tình hình trong nước và những chủ trương, chính sách của Chính phủ. Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo trước quốc dân về chuyến đi của đoàn đại biểu Chính phủ vào Huế, tiếp nhận ấn kiếm của Bảo Đại. Bộ trưởng một tay giơ cao chiếc “Ấn Quốc bảo”, tay kia giơ cao thanh kiếm báu tượng trưng cho quyền lực của nhà nước quân chủ, nay đã về tay nhân dân.

Ông Nguyễn Lương Bằng, đại diện Tổng bộ Việt Minh nói về những chương trình hành động của Việt Minh, hô  hào toàn dân tham gia Việt Minh ủng hộ Chính phủ thi hành triệt để các chương trình kiến quốc của Việt Minh.

Tiếp đến, toàn thể quốc dân đồng bào làm lễ tuyên thệ:

- Chúng tôi, toàn thể nhân dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xin thề!

- Chúng tôi xin thề: Cùng Chính phủ giữ vững nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu đồ xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng. Xin thề!

- Nếu thực dân Pháp đến xâm lược nước ta lần nữa thì chúng tôi xin thề:

Không đi lính cho Pháp
Không làm việc cho Pháp
Không bán lương thực cho Pháp
Không đưa đường cho Pháp. Xin thề!

Một triệu con người cùng hô to đến vỡ lồng ngực: “Xin thề! Xin thề!”. Đó là lời thề Độc lập thiêng liêng mà một triệu người dân Thủ đô kể cả nội và ngoại thành, được vinh dự thay mặt cho cả nước thề cùng Chính phủ giữ vững nền độc lập của Tổ quốc. Những lời thề độc lập lịch sử năm ấy vang lên trong lòng người, kể cả những người được tham dự tại Quảng trường Ba Đình, cả những người chỉ được nghe qua loa truyền thanh ở khắp chợ cùng quê, miền xuôi, miền ngược. Những lời thề độc lập ấy sẽ còn vang vọng mãi trong lòng những người con của Tổ quốc, vững bước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ bền bỉ sau này; để tạo thành sức mạnh, làm nên những chiến thắng liên tiếp suốt chiều dài lịch sử: Việt Bắc, Biên giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên...

Với lời thề độc lập thiêng liêng, chưa bao giờ người dân lại thấy từng số phận bé nhỏ của mình gắn bó với vận mệnh của đất nước như lúc ấy. Người xưa nói: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, đất nước thịnh hay suy, người dân bình thường cũng có trách nhiệm. Nhưng trước đây người ta chỉ hiểu một cách mơ hồ. Qua lễ tuyên thệ này, người ta bỗng hiểu ra tất cả. Điều đó thật thiêng liêng nhưng lại cụ thể vô cùng.

Cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu kết thúc buổi lễ. Người kêu gọi đồng bào cả nước đồng tâm nhất trí, muôn người như một, cùng Chính phủ kiên quyết giữ vững nền độc lập tự do vừa giành được.

Lễ míttinh bế mạc, dân chúng tỏa ra các ngả, biến thành các cuộc biểu tình tuần hành, biểu dương lực lượng, rầm rộ khắp các đường phố. Các đoàn vừa đi vừa hô to các khẩu hiệu ủng hộ Chính phủ lâm thời, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 2/9/1945 đã đi vào lịch sử dân tộc ta như ngày Độc lập đầu tiên, đánh dấu một thời kỳ lịch sử đã sang trang, mở ra một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên mới của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Nhân dân ta quen gọi ngày đó là ngày Tết Độc lập

Phan Duy Kha

Các tin khác

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cách nay trên dưới nửa thế kỷ, ở nhà quê, mỗi đứa trẻ trâu thường quen thuộc với hai cái roi. Đứa nào cũng có cái roi - để “điều khiển” trâu. Rất linh tinh, đơn giản, chỉ là một thanh nứa, thanh tre, hoặc cành cây nhỏ. Đứa nào cầu kỳ, “thửa” bằng đoạn mây vàng óng…

Xuôi dòng sông Gâm

Xuôi dòng sông Gâm

Dòng sông Gâm từ xứ sở Lâm Bình xuôi về vùng đất Na Hang (Tuyên Quang) sở hữu hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên mặt hồ, những khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật vô cùng phong phú và làn nước trong xanh tựa ngọc. Với khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, đất trời, non nước giao hòa, nơi đây, từ lâu được xem như “Vịnh Hạ Long” trên núi, “Nàng tiên xanh” giữa đại ngàn Đông Bắc.

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour du lịch quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.