Lai ra cùng phương ngữ Nam Bộ

Phương ngữ thể hiện cái tính của người khai sinh ra nó mà cái tính của người Nam Bộ trong ẩm thực là dễ thương nhất, tạm gọi là "văn hóa lai rai". Ăn trở thành một phong cách không chỉ mang tính tiệc tùng, khách khứa của người giàu sang quyền thế, mà ăn vì… thích lai rai cho vui!

"Xã Tây" là tên gọi nơi làm việc của chính quyền thuộc địa mà nay là trụ sở UBND TP Hồ Chí Minh. "Bùng binh" Việt hóa chữ "ronde pointe" chỉ vòng xoay hiện nay. "Xóm Oẹc" cạnh đường Lê Văn Sĩ ngày nay là một địa danh phiên âm từ tên của kỹ sư Pháp Eyriaud des Vergnes, người chủ trì xây dựng đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho, theo cách người Nam Bộ. "Xe hơi" (auto), "vỏ ruột" (xe), "trái banh" (bóng), "bóp" (tiền portefeuille), "bắc" (phà)… là những từ sinh ra sau khi Nam Bộ thành thuộc địa của Pháp. 

Phương ngữ thể hiện cái tính của người khai sinh ra nó mà cái tính của người Nam Bộ trong ẩm thực là dễ thương nhất, tạm gọi là "văn hóa lai rai". Ăn trở thành một phong cách không chỉ mang tính tiệc tùng, khách khứa của người giàu sang quyền thế, mà ăn vì… thích lai rai cho vui!

Đã thế thì đâu không lai rai được? Bờ ruộng tại sao không là nơi tụ tập "tự phát" vào một lúc ngẫu nhiên ngẫu hứng nào đó rất "mát trời ông địa"? Là xứ sông nước thì sông rạch thành không gian thương hồ và hiển nhiên thành không gian "văn hóa lai rai", quá dễ hiểu. Nơi khách thương hồ tụ ghe lại, không thể thiếu những chiếc ghe ẩm thực vốn có sức thu hút bạn hàng nữ khá mạnh… 

Vào một chợ dễ thấy ngay cái "nhà lồng" là nơi đông vui nhất dành cho ăn uống, đi mua sắm gì thì rồi cũng ghé thăm "làm một bụng" tại nơi hấp dẫn có thể là nhất chợ này.

Và "văn hóa lai rai"  có thể phát triển thành "nhậu nhẹt", thường có thêm dăm câu vọng cổ, một "chút đờn ca tài tử" thể hiện tính khoái hoạt không câu thúc. Và nhiều khi không thể thiếu... "cự lộn, quá hớp" thì có thể có... "oánh lộn!". 

Đang nhậu, một người khách lỡ "xì hơi", thằng rể chửi thề vu vơ, cha vợ bèn lấy chân đạp nhẹ chân chàng rể dưới gầm bàn. Rể lại chửi thề. Chủ nhà tức quá, khi vào nhà trong bèn than với vợ. Lúc tiệc tan, mẹ vợ trách nhẹ con rể, rể quý hỏi lại: "Thằng cha "cà chớn" nào "thèo lẻo" với má?".

Một điều chưa giải thích được đó là phương ngữ Nam Bộ hay láy từ: "cạn xều- cạn xểu, cạn xếu, cạn xệu" như để nhấn mạnh cái ý người nói trong một chỉ định cá biệt. Sao mà nhiều thứ "cạn" vậy? Thực ra thì chỉ là sự giàu có của từ ngữ, cứ dùng thế nào cho thỏa dạ thì thôi! Quả cái tính phóng khoáng của người Nam Bộ, đã làm là làm cho "cạn", có nhiều cung bậc!

Âm đầu V, ở phương ngữ Nam Bộ chỉ tồn tại trong chữ viết, không tồn tại trong phát âm: V - D - GI đều phát âm thành D: "Dzì ơi, cái dì dzậy hả dì?".

Chợ hoa quả trên sông miền Tây Nam Bộ.
Chợ hoa quả trên sông miền Tây Nam Bộ.

Trong phương ngữ Nam Bộ có tính thông hiểu và tính quen dùng: "Tôi đụng bả hồi nẳm" (tôi lấy bà ấy hồi năm ấy) thì "đụng" vốn là va chạm cơ học mạnh nhưng trong trường hợp này lại là "tái cấu trúc" của sự êm ái yêu thương, giá trị địa phương của nó rất cao.

Sống giữa thiên nhiên hài hòa và đa dạng, phương ngữ Nam Bộ có nhiều tiếng đầy ắp hình tượng, "lôi cổ" những con  những cây hay vật dụng vào cuộc: "uống mật gấu" - mật gấu đắng kinh khủng, dám uống là rất liều; "Dai như trâu đái"- đúng là con trâu xả tiểu khá lâu vì nhiều; "Ăn như xáng múc" - cái gầu múc cả thước khối đất thì ăn chi mà "dữ thần vậy cha?"; "Làm ò ơ dzí dzầu" tức… làm biếng! 

Sông ngòi chằng chịt, sông mẹ đẻ sông con sông cháu, ngoài tên gọi chung như sông, ngòi, mương, máng, lạch, kênh, ao, hồ… còn thêm "rạch, xẻo (lạch nhỏ), xép, ngọn, rọc, dớn, láng, lung, bung, búng, bưng, biền, đưng, đầm, đìa, trấp, vũng, trũng, rỏng, tắc, gành, xáng, v.v...".  

Tựu trung là đường nước chảy! Về sự chuyển động của dòng nước, người ta không những phân biệt nước lớn (thủy triều dâng) và nước ròng (thủy triều hạ) mà còn thêm nhiều từ ngữ khác như: "nước kém, nước trồi, nước dềnh, nước sụt, nước giựt, nước bò, nước nhảy, nước đứng, nước nằm, nước chừng, nước nhửng, nước ương, nước chết, nước sát, nước rặc, nước quay v.v...". Lạ thay, nước cũng biết… nhảy, đứng, nằm, bò, chết… vốn là những động tác của sinh vật, nhưng đó là cách tiếp cận sự vật của người Nam Bộ!

Những phương tiện đi lại trên sông nước cũng được gọi bằng nhiều cái tên thật phong phú, có khả năng diễn đạt, nào là "ghe bầu, ghe bầu nóc, ghe be, ghe cà vom, ghe chài, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe hầu, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, vỏ lẵi, tắc ráng, tam bản, ba lá v.v…". 

Rồi đến các loại động vật sống ở sông nước cũng thật nhiều tên: "tôm bạc, tôm càng, tôm châm, tôm chấu, tôm chì, tôm gọng, tôm hùm, tôm kẹt, tôm lóng, tôm lứa, tôm mắt tre, tôm quỵt, tôm rồng, tôm sắc, tôm sú, tôm thẻ, tôm tích, tôm tu, tôm vang, v.v...". Thật hết sức phong phú! Mỗi loài đều có tên riêng đủ thấy phương ngữ phải phong phú, phải "chẻ" ra để đáp ứng được tư duy của con người.

Cường điệu và khuếch đại trong ngôn ngữ phục vụ mục đích tâm lý của con người luôn sống cởi mở, lạc quan và hướng về cái lớn, muốn nhấn mạnh những gì mình yêu thích hoặc chán ghét một cách rõ ràng, dứt khoát, và nó rất phổ biến trong phương ngữ Nam Bộ: "Cao trật ót, no lòi bản họng, đói queo râu, tức cành hông, rầu thúi ruột, sợ thót dái, cay té đái, muồi rụng rún"… đều dễ gây hiệu ứng cảm xúc và nhận thức. 

Tiếng Việt phổ thông có các từ: "nghèo xơ xác, nghèo rớt mồng tơi, nghèo không có đồng xu dính túi"… phương ngữ Nam Bộ còn thêm nghèo "mạt rệp", và bất ngờ thay, "nghèo không có đồng xu cạo gió, nghèo không có hột thóc nhổ râu, nghèo cháy nóp" thì thật là… nghèo hết biết, mà vẫn đượm vẻ lạc quan hóm hỉnh.

Nhìn chung, ở phương ngữ Nam Bộ, tính cường điệu, khuếch đại được sử dụng nhiều, độc đáo, mộc mạc, chất phác, không ngoa cách, tạo nên một trong những sắc thái có phần táo bạo, gây nhiều cảm xúc: "Ra về ruột nọ quặn đau / Sắc sâm mà uống mấy tàu chưa nguôi".

Tỏ tình với người thương là chuyện tế nhị, bay bướm, thế mà lời lẽ Nam Bộ thật hồn nhiên, ngộ nghĩnh: "Hai ơi, qua thương Hai thiệt mà/ Thôi đi cha nội, xạo hoài à / Xạo xe cán qua chết luôn đó / Trời đất, thề chi đổ nhà đổ cửa vậy trời. Mà thương… rồi sao?". Mở đầu có vẻ căng nhưng "ăn tiền" ở cái xuống giọng đó!

Nói chuyện đặt tên, không cầu kỳ, thôi thì cứ lấy ngay một đặc điểm cụ thể (người hay địa hình), đại chúng, tại chỗ làm địa danh: "Xóm Củi, Cây Mai, Ba Giồng, Thủ Dầu Một, Thủ Thừa, Bến Tre, Bà Điểm, Thị Nghè, cầu Tham Lương, cầu Bà Tàu"… Huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An có "cầu Bảy Thước", không hiểu sao các quan làm bảng mới cho cầu đã sửa lại là "Cầu 7m"! Ông Bảy tên Thước cười mỉm nhưng dân tại chỗ cười hơi lớn cho cái sự "ba trời" này.

Địa hình Nam Bộ nhiều gò đống, thế là trong địa danh có: "Gò Chùa, Gò Công" (vốn là "gò có nhiều công đậu" trước đây?), "Gò Đen, Gò Vấp, Gò Dầu"… thấy sao gọi vậy "mắc giống chi" mà tìm tên khác! Khác với miền ngoài đặt tên theo "chữ" (Thu Thủy, Hồng Lam…), người Nam Bộ còn dùng cả cách đếm số để đặt tên con: Lê Văn Một, Phú Thị Hai, Dương Văn Ba, Kiều Thị Mười, khi "kịch trần" thì Út Một, Út Hai… cứ thế mà đếm, cốt ở tiện dụng và thoải mái. Cũng thường ghép tên cúng cơm với nghề nghiệp, như "bà Ba xôi,  Năm đờn cò" hoặc với một đặc điểm cơ thể "Ba quắn, Hai củn, Sáu cà lăm, Bảy đen"…

Phương ngữ Nam Bộ thường hay dùng tiếng đôi, bắt đầu bằng một hư từ: "Ba xạo" là thích bốc phét. "Ba trợn"- dở hơi,; "Ba hột" - vài, chút ít, chốc lát. "Ba búa" - ngang bướng, hung dữ. "Ba hồi" hình như hơi tưng tửng, lúc vầy lúc khác. Lai rai "ba sợi, ăn ba hột cơm, ba cái chuyện lẻ tẻ đó"… cũng lại phải ghép với "Ba" mới thành. 

Tương tự, "Cà rịch cà tàng" như chiếc xe, cái máy cũ kỹ trông ọp ẹp thiểu não làm sao! "cà chớn", thì chính là một người lông bông, không tin tưởng giao phó một việc gì, giao con gái cho thì càng không. "Cà giựt" cũng một dạng ấy nhưng nhẹ nhàng hơn, chỉ một tính tình hay thay đổi sáng nắng chiều mưa, nhẹ hơn nhưng cũng khó tin tưởng trong công việc cũng như mọi giao dịch khác. 

"Cà rỡn" là người hay bông đùa khó biết lúc nào là thật khi nào là giỡn. Người "cà nhõng" không chí thú làm việc gì, đi rông là chủ yếu, lang thang chuyện nào cũng ghé, không cái gì ổn định.  Nhưng "Ba" và "cà" có nghĩa là gì thì botay.com! Ra "tiệm chạp phô" đầu hẻm mua một ít đồ. Gặp khách hàng quen, người này hỏi "Ủa, chớ bộ nhà anh ở khu này hả?". Chưa kịp trả lời thì chị chủ quán hồn nhiên…ca: "Thẩy dzới tôi đâu đít dzới... nhao"!. Trời đất, lầm chết, chỉ là hai nhà đâu hậu, gần gũi thân thiết thôi mà?

Phương ngữ Nam Bộ là một kho giàu có, độc đáo, kể cả khi "nói sai viết sai" (dzô - vô)… Ngày nay nếu có chỉnh cho thống nhất thiết nghĩ chỉ nên chỉnh phần chính tả! Nam Bộ có "Nhựt Tảo" hà tất phải chỉnh thành "Nhật Tảo"?. 

Cao Thoại Châu-Xuân 2017

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.