“Kỳ đà Panama” trên lộ trình mở rộng sân sau của Mỹ

Khi kênh đào Panama được khánh thành và những điều khoản trong hiệp ước ký với Mỹ năm 1903 có hiệu lực, thì nước cộng hòa Panama non trẻ bắt đầu gặp phải khó khăn: Ngày càng có nhiều tiếng nói chống lại việc người Mỹ chia cắt nước họ qua khu vực được xem là "đặc khu kinh tế của Mỹ", hay việc Mỹ nhúng tay vào cuộc bầu cử ở Panama...

Bài 1: Trăm năm chính biến

Theo thông báo của cả hai chính phủ Mỹ và Panama đưa ra vào ngày 14-7 vừa qua, chính quyền Washington đã đồng ý sẽ tiến hành phá hủy 8 quả bom hóa học đang nằm trên đảo San Jose, ngoài khơi bờ biển phía nam Panama từ thời Thế chiến thứ II.

8 quả bom này được tìm thấy vào năm 2002 trong quá trình thị sát đảo của Tổ chức cấm vũ khí hóa học (OPCW), từ đó chính phủ Panama đã nhiều lần kêu gọi và đàm phán với Mỹ về trách nhiệm xử lý chúng. Theo tinh thần của thông báo, việc phá hủy bom hóa học sẽ bắt đầu từ tháng 9 tới trong tiến trình kéo dài từ 6-8 tuần. Đây là những vật chứng liên quan đến "lộ trình mở rộng sân sau" của Mỹ ở quốc gia vùng Trung Mỹ, và gần cuối lộ trình đó, Mỹ đã vấp phải "con kỳ đà" - Tướng Manuel Antonio Noriega.

Chủ nhân thật sự của kênh đào Panama

Mỹ và Panama đã thảo luận suốt nhiều năm về cách xử lý số vũ khí hóa học nằm rải rác trên đảo San Jose và khu vực căn cứ của Mỹ gần kênh đào Panama. Cuộc xử lý ban đầu được dự kiến diễn ra năm 2013 nhưng chưa được thực hiện do Mỹ chưa "dành kinh phí" cho quá trình này. Vào tháng 12-2013, Ngoại trưởng Fernando Nunez Fabregas của Panama đã tuyên bố, trong tháng 1-2014, một nhóm chuyên gia Mỹ sẽ tới Panama để xem xét cách thức di dời số vũ khí hóa học mà quân đội Mỹ "bỏ quên" trên đảo San Jose từ hơn 50 năm qua.

Theo Ngoại trưởng Fabregas, điều đầu tiên là các chuyên gia Mỹ phải xác định được tình trạng của số vũ khí này, vì có thể một trong số đó đã bị hư hỏng. Tuy ông Fabregas không cho biết số lượng và chủng loại vũ khí, nhưng nhiều nguồn tin xác nhận đây là loại bom khí mù tạt. Ngoại trưởng Panama khẳng định: toàn bộ chi phí cho việc này là do phía Washington đảm nhận và Panama mong muốn Mỹ dọn sạch số vũ khí này để có thể được rút ra khỏi danh sách các nước có vũ khí hóa học chưa sử dụng, điều này hạn chế cho quá trình phát triển ngành du lịch của Panama.

Nhóm kỹ sư người Mỹ thực hiện dự án kênh đào Panama: (từ trái sang phải, hàng trước) John R. Freeman, Frederic P. Stearns và James D. Schuyler. (Hàng sau) Arthur P. Davis, Henry A. Allen, Isham Randolph và Allen Hazen.
Nhóm kỹ sư người Mỹ thực hiện dự án kênh đào Panama: (từ trái sang phải, hàng trước) John R. Freeman, Frederic P. Stearns và James D. Schuyler. (Hàng sau) Arthur P. Davis, Henry A. Allen, Isham Randolph và Allen Hazen.

Nằm trên eo đất nối hai khối lục địa Bắc và Nam Mỹ, một bên là Đại Tây Dương và bên kia là Thái Bình Dương, Panama được các đời tổng thống Mỹ từ khi lập quốc đánh giá là một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng nên Mỹ luôn đi đầu trong việc xây dựng kênh đào Panama, công trình có tầm ảnh hưởng to lớn đến lĩnh vực vận tải thủy giữa hai đại dương.

Mặc dù ý tưởng về một kênh đào nối hai đại dương tại Panama đã có từ đầu thế kỷ XVI, nhưng bước khai phá đầu tiên trong việc xây dựng kênh đào này thuộc về người Pháp. Năm 1878, Hội Địa lý Paris đã ký một hiệp ước với Colombia (khi đó Panama là một tỉnh của Colombia) về việc đào một con kênh từ vịnh Limon bên bờ Đại Tây Dương tới thành phố Panama bên bờ Thái Bình Dương. Công trình được khởi công vào năm 1880 dưới sự lãnh đạo của kiến trúc sư trưởng Ferdinand de Lesseps, nhà ngoại giao kiêm kỹ sư và nhà thầu khoán nổi danh trong lịch sử như là người đã hoàn thành công trình kênh đào Suez ở Ai Cập hơn 2 thập niên trước.

Vừa khởi công, công trình đã liên tục bị đình trệ do ban chỉ đạo không thống nhất được phương án kỹ thuật, không có phương pháp nào để đối phó với nạn sốt rét rừng và bệnh sốt vàng da gây thương vong cho hàng loạt công nhân. Tới cuối năm 1888, công ty của Ferdinand de Lesseps lâm vào cảnh phá sản, bởi kinh phí đã đội lên tới 287 triệu USD, trong đó chi phí y tế chữa trị cho công nhân tham gia xây dựng công trình ở "Bờ biển của những cơn sốt ác tính" chiếm phần không nhỏ. Nước Pháp không đủ tài lực lẫn lòng kiên nhẫn để theo đuổi công trình đầy gian nan, mạo hiểm và tốn kém này.

Trong khi đó, vấn đề nắm quyền kiểm soát kênh đào Panama và bảo vệ những quyền lợi nước ngoài của Mỹ luôn là yếu tố quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ đầu thế kỷ XX. 15 năm sau khi người Pháp rút khỏi Panama, người Mỹ quyết định vào cuộc.

Tổng thống Theodore Roosevelt một mặt theo đuổi những nỗ lực nhằm tạo lập một thỏa thuận với Colombia cho phép Mỹ sẽ tiếp nhận hoạt động điều hành con kênh; mặt khác, ông cử chuyên gia đường sắt John Stevens làm kỹ sư trưởng công trình xây dựng kênh đào. Tháng 11-1903, chính phủ Hoa Kỳ bí mật ủng hộ phong trào Separatist Junta quy tụ một số chủ đất giàu có người Panama dưới sự lãnh đạo của tiến sĩ Manuel Amador Guerrero khởi xướng phong trào ly khai Panama khỏi Colombia.

Ngày 3-1-1903, Panama tuyên bố độc lập. Hoa Kỳ, với tư cách là quốc gia đầu tiên công nhận nước Cộng hòa Panama mới, đã gửi quân tới để "bảo vệ những lợi ích kinh tế" của nước này. Tuy vậy, Tổng thống Roosevelt khôn khéo gây sức ép với chính quyền non trẻ để ký một hiệp ước, trong đó cho phép Mỹ làm chủ công trình kênh đào và thiết lập vùng đất "khu vực kênh đào", có chiều rộng 16 km bao quanh con kênh và xem đó là lãnh thổ của Mỹ. Đổi lại, Mỹ sẽ đảm bảo cho nền độc lập của Panama và trả cho Chính phủ Panama 10 triệu USD cùng với 250.000 USD mỗi năm; số tiền này sẽ tăng lên hằng năm.

Năm 1907, kỹ sư J. Stevens xin nghỉ việc, Tổng thống T. Roosevelt chỉ định đại tá công binh George Goethals, chuyên gia hàng đầu về xây cất các hành lang đường thủy làm chỉ huy mới của công trình kênh đào Panama. Tháng 12-1903, những đại diện của nước cộng hòa đã ký Hiệp ước Hay-Bunau Varilla trao cho Hoa Kỳ quyền xây dựng và quản lý vô hạn định với kênh đào. Quốc hội lập hiến năm 1904 đã bầu tiến sĩ Manuel Amador Guerrero làm Tổng thống hợp hiến đầu tiên của Cộng hòa Panama.

Sau 11 năm cật lực xây dựng công trình, sử dụng hết 14.000 tấn thuốc nổ để dọn hơn 150 triệu mét khối đất đá, công trình đã hoàn tất với tổng kinh phí là 400 triệu USD thời giá khi ấy bao gồm cả các thiết bị hỗ trợ giúp vận hành kênh. Mức thiệt hại nhân mạng cũng được liệt vào hàng kỷ lục, ngoài hàng chục vụ tai nạn lao động là con số 5.600 công nhân chết vì bệnh sốt rét và sốt vàng da. Nếu tính cả số ca tử vong trong giai đoạn người Pháp chủ trì thì tổng số nạn nhân lên tới 27.500 người.

Sau 11 năm ròng rã, với sự lao động cật lực của hơn 70.000 công nhân, ngày 15-8-1914, kênh đào Panama chính thức được khai thông ngay khi Chiến tranh Thế giới I vừa bùng nổ. Con kênh này có chiều dài gần 80 km, chạy từ thành phố Panama bên bờ Thái Bình Dương tới Colon bên bờ Đại Tây Dương. Sự ra đời của nó là một cuộc cách mạng trong giao thông đường biển của thế giới. Hải trình từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương và ngược lại đã được rút ngắn xuống hàng chục nghìn km. Mỹ là nước có lưu lượng tàu thuyền đi qua kênh đào Panama nhiều nhất thế giới.

Panama thay chủ như…thay áo

Khi kênh đào Panama được khánh thành và những điều khoản trong hiệp ước ký với Mỹ năm 1903 có hiệu lực, thì nước cộng hòa Panama non trẻ bắt đầu gặp phải khó khăn: Ngày càng có nhiều tiếng nói chống lại việc người Mỹ chia cắt nước họ qua khu vực được xem là "đặc khu kinh tế của Mỹ", hay việc Mỹ nhúng tay vào cuộc bầu cử ở Panama, cùng hàng loạt hành động can thiệp của Washington vào các cuộc nổi dậy ở đây giữa những năm 20. Để xoa dịu, từ cuối những năm 20 của thế kỷ XX, Mỹ tạm thời thực hiện chính sách không can thiệp vào Panama. Chính vì vậy, khi nổ ra cuộc đảo chính đẫm máu ở Panama năm 1931 do Arnufo Arias Madrid cầm đầu, Mỹ đứng ngoài cuộc.

Cuối năm 1941, Tổng thống Panama Arnulfo Arias Madrid đã bị phái quân sự trong nước đảo chính, giữa lúc Mỹ đang đòi thiết lập các căn cứ quân sự trong nội địa lẫn trên đảo San Jose thuộc lãnh thổ Panama để chuẩn bị cho Thế chiến thứ II. Người kế nhiệm- Arias Ricardo de la Guardia- đã đáp ứng yêu cầu của Mỹ trong khi nhân dân Panama vẫn kiên quyết đấu tranh chống lại ý định mở rộng vùng đất chiếm đóng của Mỹ, yêu cầu cơ quan lập pháp nước này phủ quyết mọi hiệp ước liên quan.

Những quả bom hóa học thời Thế chiến thứ II Mỹ để lại trên đảo San Jose, Panama. Ảnh: OPCW.
Những quả bom hóa học thời Thế chiến thứ II Mỹ để lại trên đảo San Jose, Panama. Ảnh: OPCW.

Sau năm 1945, đảo San Jose đã được Mỹ, Anh và Canada và sử dụng cho các cuộc thử nghiệm vũ khí hóa học. Các tổ chức chống vũ khí hóa học và vũ khí hạt nhân còn cho rằng, trong thời gian này Mỹ đã bỏ lại nhiều thiết bị nổ và bom phi hạt nhân nằm rải rác trên hơn 10 ha đất dọc kênh đào Panama trong ý đồ thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm những loại vũ khí hóa học khác có thể để dùng trong Chiến tranh Lạnh và chiến tranh Việt Nam.

Jose Antonio Remon, cựu Tư lệnh lực lượng Cảnh sát quốc gia sau khi trở thành tổng thống Panama đã nỗ lực đàm phán với Mỹ để ký một hiệp ước mới, nhằm tăng lượng cổ phần của Panama trong số thuế thu được từ kênh đào Panama. Nhưng vị tổng thống này lại bị ám sát năm 1953, 2 năm trước khi hiệp ước được thực hiện.

Việc quốc hữu hóa kênh đào Suez của Ai Cập năm 1956, cộng với tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles cho rằng, vùng đất ở "khu vực kênh đào" thuộc chủ quyền lãnh thổ của Mỹ, càng làm cho quan hệ giữa Washington và Panama thêm căng thẳng. Giữa những năm 50, sinh viên Panama liên tiếp biểu tình, đòi Mỹ trả kênh đào. Khi những người nổi dậy đe dọa tiến hành một cuộc "xâm chiếm hòa bình" vùng đất "khu vực kênh đào", Mỹ đã tăng cường binh lính tới đây để đối phó. Họ cho xây dựng một hàng rào kiên cố dọc hai bờ của con kênh và bao quanh vùng đất đặc quyền.

Căng thẳng lên đến đỉnh điểm vào tháng 1-1964, khi học sinh Mỹ ở Trường trung học Balboa, trong khu vực kênh đào, không chịu treo cờ Mỹ bên cạnh cờ Panama. Nhiều người Panama rất phẫn nộ đã mang theo quốc kỳ, tràn vào khu vực này và gây náo loạn suốt 3 ngày liền. Kết quả là 23 người Panama và 4 lính thủy đánh bộ Mỹ thiệt mạng. Sau sự kiện này, chính quyền Panama tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Nhà Trắng.

Trước tình hình đó, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson phải đồng ý chuẩn bị cho việc ký kết một hiệp ước mới về kênh đào Panama và khu vực xung quanh. Nhưng cuộc đàm phán chưa bao giờ đi đến thống nhất. Năm 1968, Anulfo Arias tái đắc cử chức tổng thống Panama. Ngay sau khi cầm quyền, ông đã đòi Mỹ hoàn trả vô điều kiện vùng đất mà họ đang kiểm soát. Tuy nhiên, vị tân tổng thống lại bị giới quân sự hạ bệ chỉ sau đó có 11 ngày.

Sau cuộc đảo chính, tướng quân đội Omar Torrijos Herrera lên làm tổng thống. Năm 1971, vị tổng thống này đã khởi động lại các cuộc đàm phán với Mỹ. Tuy nhiên, vụ bê bối Watergate đã làm gián đoạn các nỗ lực giải quyết vấn đề kênh đào Panama.

Tổng thống Mỹ Jimmy Carter (trái) bắt tay Tổng thống Panama Omar Torrijos tại lễ ký kết hiệp ước kênh đào Panama.
Tổng thống Mỹ Jimmy Carter (trái) bắt tay Tổng thống Panama Omar Torrijos tại lễ ký kết hiệp ước kênh đào Panama.

Ngày 7-9-1977, 9 tháng sau khi nhậm chức tổng thống Mỹ, Jimmy Carter đã cùng người đồng nhiệm Panama - Omar Torrijos - ký hai hiệp ước về kênh đào Panama. Hiệp ước thứ nhất bãi bỏ vùng đất gọi là "khu vực kênh đào", bắt đầu từ ngày 1-10-1979 và chuyển quyền quản lý cho chính phủ nước sở tại, đồng thời chuyển giao con kênh cho Panama từ ngày 31-12-1999 sau 96 năm dưới quyền điều hành và khai thác của Mỹ. Hiệp ước thứ hai cam kết duy trì sự trung lập của kênh đào Panama, ngay cả khi có chiến tranh nổ ra để đảm bảo lưu thông của ngành hàng hải quốc tế.

Nhưng đằng sau các hiệp ước hòa bình này, để tiếp tục duy trì lợi ích tại khu vực kênh đào Panama, Mỹ đã bí mật đưa quân, vũ khí vào Panama để chuẩn bị cho mục đích sau cùng là dựng lên một chính phủ biết tuân theo sự chỉ đạo của Mỹ.

Vào năm 1981, Tổng thống Omar Torrijos thiệt mạng trong một vụ tai nạn máy bay rất đáng ngờ. Đại tá Manuel Noriega, cựu Tư lệnh lực lượng Cảnh sát mật và là một nhân vật chịu sự chi phối của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), lên nắm quyền. Từ đó, Panama bắt đầu rơi vào thời kỳ đầy biến động.

Quang Học (tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.