Khía cạnh văn hóa của văn học

Văn học là một hình thái nghệ thuật, cũng là một hiện tượng văn hóa. Những nghiên cứu – phê bình văn học đang dần dịch chuyển từ bình diện ngành sang liên ngành, để mở rộng các khả năng diễn giải với tinh thần tác phẩm không chỉ là dữ kiện mỹ học mà còn là các dữ kiện văn hóa – xã hội – lịch sử… Người ta cũng đã từng bàn đến con đường này như là một hướng mở, nhằm hóa giải tính tự trị của văn chương vốn đã ngự trị nhiều năm trong khoa nghiên cứu văn học.

Thật dễ dàng để nói rằng văn học là một thành tố của văn hóa. Tuy nhiên, để có được cái nhìn văn hóa về văn học, mà cụ thể hơn là nhìn vào một tác phẩm, một trào lưu, khuynh hướng, giai đoạn văn học, sẽ cần trang bị nhiều kiến thức, công cụ, thao tác tư duy. Những câu hỏi bao quát được đặt ra ở đây là: Mối quan hệ của văn học với văn hóa? Có thể đọc văn học từ góc nhìn văn hóa như thế nào - trên những bình diện nào? Sẽ cần những gì để tiếp cận văn học từ văn hóa?

image001.jpg -0
“Truyện Kiều” bồi đắp vào văn hóa – văn học – lịch sử dân tộc những giá trị to lớn mà chúng ta luôn gìn giữ, phát huy.

Trước hết, văn học và văn hóa có mối quan hệ biện chứng, xuyên thấm vào nhau. Trong đó, văn hóa được xem như nền tảng, cơ tầng để từ đó nảy sinh các hiện tượng văn học. Khi văn học ra đời, quá trình tạo nghĩa – ý nghĩa của nó lại quay trở lại đối thoại, điều chỉnh hay kiến tạo các bình diện văn hóa. Quan hệ biện chứng không phải là cách nói sách vở, mà ở đó, ta nhận ra những liên hệ mật thiết – qua lại giữa cái chung và cái riêng, cái toàn thể và cái bộ phận, cái điều kiện và kết quả. Ví dụ như, khi đọc “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, ta hiểu rằng, nền tảng văn hóa Nho giáo đã kiến tạo nên thế giới quan, nhân sinh quan của ông, đồng thời chi phối lớn đến việc xây dựng bối cảnh, nhân vật, sự kiện. Dẫu có mượn cốt truyện của “Thanh Tâm Tài Nhân” (Trung Quốc) nhưng rõ ràng văn hóa trung đại (như là quyển văn hóa chung của khu vực Đông Á và Việt Nam) với các quan niệm về mô hình con người, các quy ước đạo đức, lễ giáo, trang phục, lề lối ứng xử, sinh hoạt đã thấm vào từng nhân vật, từng câu chữ. Không chỉ thế, thông qua ngôn ngữ, thể loại, Nguyễn Du cũng làm bật nổi lên ở cấp độ tinh hoa bản sắc văn hóa dân tộc. Từ khi ra đời, sau mấy trăm năm, “Truyện Kiều” lại trở thành một kiệt tác của Việt Nam, bồi đắp vào văn hóa – văn học – lịch sử dân tộc những giá trị to lớn mà chúng ta luôn gìn giữ, phát huy, xem đó như là một di sản từ quá khứ vẫn luôn đồng hành cùng hiện tại. Người ta đọc “Truyện Kiều” không chỉ để biết chuyện, biết số phận nhân vật, biết tinh hoa lục bát, biết chữ Nôm đã có những thành tựu đỉnh cao; mà còn đọc ở “Truyện Kiều” câu chuyện thế thái nhân tình, văn hóa, phong tục tập quán, các phương diện trong cấu trúc xã hội thời Nguyễn Du đã sống… Chưa dừng lại ở đó, ở mỗi thời đại khác nhau, hậu thế sẽ có những cách tiếp cận – cách đọc – diễn giải khác nhau. Truyện Kiều trở thành một câu chuyện “Kể mãi không cùng” (Trần Đình Sử). Ngành Kiều học ra đời chính dựa trên những tầng vỉa văn hóa xã hội thẩm mỹ sâu dày như thế. Không chỉ vậy, bản thân việc “Truyện Kiều” đi vào đời sống, trở thành lời ru, câu hát, chuyển thể thành phim, kịch, lối làm thơ tập Kiều, vịnh Kiều, đố Kiều, bói Kiều… đã cho thấy sức sống bền bỉ, sự chuyển hóa mật thiết của văn học và văn hóa.

Vẫn trên tinh thần nhìn nhận mối quan hệ mật thiết của văn học và văn hóa, chúng ta nhận ra những chuyển động của xã hội Việt Nam buổi giao thời đã hiện lên từng bước rõ rệt trong sáng tác của Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt… Tiếp sau, văn chương Tự Lực văn đoàn, Thơ mới, các sáng tác hiện thực của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Trọng Lang, Thạch Lam, Nguyễn Đình Lạp… cũng đem đến nhiều cứ liệu cho phép tái định hình một không gian văn hóa xã hội thời trước Cách mạng tháng Tám (1945) ở Việt Nam. Những biến động “Mưa Âu gió Mỹ”, “Á Âu tranh hùng” đã trở thành nguồn mạch sinh thành và nuôi dưỡng văn học. Nhưng, chẳng ai sống mãi để làm chứng nhân của lịch sử, thế nên, văn học trở thành một kho tư liệu cho việc nghiên cứu văn hóa. Đồng thời, chính văn chương trở thành chứng tích của văn hóa. Ví như, “Số đỏ”, “Giông tố”, “Cạm bẫy người”, “Cơm thầy cơm cô”, “Kỹ nghệ lấy Tây”, “Làm đĩ”, “Lục xì”… của Vũ Trọng Phụng. Đó quả là những chỉ dấu quan trọng để chúng ta lần lại đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam qua cái nhìn của một con người, một nhà văn, nhà báo đã lặn ngụp đến tận cùng trong cảnh sống đương thời; để nhận ra cái rởm, cái đểu, cái dâm ô trụy lạc cùng những mẫu hình – thân phận con người, trong vòng xoáy của thời đại. Chẳng hạn, vì sao Xuân Tóc Đỏ lại là một tên ma cà bông, thổi toa thuốc lậu? “Lục xì”, “Làm đĩ” dẫn chiếu về trường hợp này, khi từ đó ta biết được nạn mại dâm, bệnh lậu, bệnh giang mai, nhà thổ, đã tràn ngập Hà Nội thuở ấy như thế nào.

image003.jpg -0
Chính văn chương trở thành chứng tích của văn hóa, điều này được thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết “Số đỏ” của nhà văn Vũ Trọng Phụng.

Như đã trình bày, văn hóa là sinh quyển của văn học. Nhà văn đồng thời là nhà văn hóa. Chính vì thế, không thể tách văn học ra khỏi văn hóa như một thực thể biệt lập. Điều này ngay lập tức có thể được khẳng định qua việc xem xét các tác phẩm văn học sinh thành trong các không gian văn hóa khác nhau (quốc gia, dân tộc, vùng miền, giới tính, tôn giáo,…). Chính vì thế, diễn giải văn học từ góc độ văn hóa là trả tác phẩm về với thổ nhưỡng của nó. Sẽ có những bình diện được tham chiếu như là chỉ dấu dẫn về môi trường này. Biểu tượng, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tâm lý tộc người, quan niệm về giá trị, cùng những hình thức biểu đạt đặc trưng khác là điểm cần lưu ý để trả lời cho câu hỏi đã nêu ở trên. Rõ ràng, phong vị núi cao phía Bắc trong tiểu thuyết – truyện ngắn – tản văn Đỗ Bích Thúy sẽ khác với chất miệt vườn kinh rạch Nam bộ trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư. Nhưng, lại cũng có thể nhận ra mã gen văn hóa khá tương đồng trong văn Nguyễn Ngọc Tư, Lý Lan (Bửu Sơn Kỳ Hương) khi họ có cùng một cơ tầng văn hóa.

Sẽ cần những gì để tiếp cận các bình diện văn hóa trong tác phẩm văn học? Đây là một câu hỏi lớn, đồng thời không có đáp án cuối cùng, bởi sự vận động của bản thân văn hóa – văn học (như là những cấu trúc động) và các khả năng chiếm lĩnh, diễn giải đến từ chính chủ thể (người viết, người đọc) cùng hệ thống công cụ - lý thuyết, phương pháp. Hướng nghiên cứu liên ngành đã được khởi động nhằm thúc đẩy các khả năng ấy. Bên cạnh việc xem xét thi pháp nghệ thuật, các triển vọng từ hướng nghiên cứu “Nhân học văn hóa”, “Nữ quyền luận”, “Hậu thực dân”, “Phê bình sinh thái”… cùng tri thức mới trong triết học, mỹ học hiện đại – hậu hiện đại giúp nhận diện rõ hơn khía cạnh văn hóa trong văn học. Nói cách khác, từ người sáng tác đến người đọc, cần phải có tri thức văn hóa và công cụ tư duy mới có thể thâm nhập được vào các tầng vỉa của tác phẩm. Chẳng hạn, chúng ta có thể đọc “Cánh đồng bất tận” bằng nhiều cách khác nhau, từ góc độ thi pháp học (để thấy được cấu trúc tự sự, ngôn ngữ trần thuật, hình tượng nhân vật, giọng điệu…); từ góc độ phân tâm học (để nhận ra những ám ảnh vô thức cá nhân – cộng đồng trong hình tượng nhân vật, ngôn ngữ…); từ góc độ “Nữ quyền luận” (để thấy được tương quan quyền lực về giới hay sự biểu đạt và tôn vinh người phụ nữ); từ góc độ “Phê bình sinh thái” (để thấy sự cộng sinh của tự nhiên và con người)… Các góc nhìn khác nhau, với khả năng của nó, cho ta hình dung đầy đủ hơn về văn hóa – vùng đất – con người Nam Bộ nói chung và sắc thái riêng của văn chương Nguyễn Ngọc Tư.

Nghiên cứu văn học từ văn hóa, nhận ra những bình diện văn hóa trong văn học, đó là hành trình làm cho các giá trị trở nên sống động. Tuy nhiên, đóng góp về mặt văn hóa của văn học là những đóng góp đặc thù bởi đặc trưng phản ánh nghệ thuật của nó. Có những điều xuất hiện trong văn chương nhưng không tìm thấy nguyên mẫu hoàn toàn trùng khít ngoài đời thực, trong không gian văn hóa mà nó sinh thành, thuộc về. Bởi lẽ, khi đi vào văn chương, văn hóa đã được cộng hưởng, chuyển hóa, tăng cường tính phổ quát, tính tượng trưng, tính đa nghĩa… hướng đến khả năng biểu đạt hàm súc hơn. Chính nhờ các cơ chế này mà văn học tồn tại và đóng góp trở lại được với đời sống văn hóa – xã hội – lịch sử.

TS. Nguyễn Thanh Tâm

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?