Kế hoạch tấn công Hawaii của hải quân Nhật Bản

Sai lầm chiến lược lớn nhất của Nhật Bản trong Thế chiến II là lén lút tấn công vào Trân Châu Cảng cũng như không nối tiếp cuộc tấn công bằng việc phá hủy nguồn cung dầu, căn cứ tàu ngầm, xưởng đóng tàu, và ụ tàu của Hạm đội Thái Bình Dương.

Hawaii đã bị nhắm trước?

Nhiều người cho rằng Nhật Bản chưa từng có ý định xâm lược Hawaii. Quan điểm này khẳng định rằng giới lãnh đạo Nhật cảm thấy Hawaii quá khó để chiếm giữ trong mọi trường hợp, nó nằm ngoài giới hạn mong muốn của khối thịnh vương chung Đại Đông Á. Tuy nhiên, chúng ta (tác giả) biết rằng trên thực tế Hawaii đã được đưa vào Khối Đại Đông Á cả trong các tài liệu thời chiến được công bố và phân loại. Thật vậy, trong một bản đồ công bố với bài viết này cho thấy nó được vẽ vào năm 1943, cho thấy Hawaii đã được hình dung trong Khối này.

Kế hoạch tấn công Hawaii của hải quân Nhật Bản -0
Không ảnh của Nhật Bản về cuộc tấn công Trân Châu Cảng.

Ngày 9/12/1941, giám đốc tác chiến hải quân Mỹ, Harold Stark, đã cảnh báo Đô đốc Husband Kimmel (chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương) về nguy cơ xảy ra những cuộc tấn công bổ sung và sự chiếm đóng ban đầu những hòn đảo khác ngoài Oahu, bao gồm Midway Maui và Hawaii. 10 ngày sau, Bộ trưởng Hải quân Mỹ, Frank Knox, băn khoăn rằng Hawaii “không an toàn nếu bị chiếm giữ” và “không thể chắc rằng quân Nhật không dám làm”. Tiền giấy nhanh chóng được in chữ “HAWAII” khiến nó trở nên vô giá trị nếu Nhật Bản xâm lược. Tất cả những gì bảo vệ các lợi ích Mỹ ở Hawaii là 3 tàu sân bay của họ tình cờ có mặt trên biển trong cuộc tấn công. Hawaii gần như thất thủ trước cuộc xâm lược. Tuy vậy, Nhật không xâm lược Hawaii sớm như họ đã làm với Philippines và Singapore.

Nếu Nhật xâm lược thành công Hawaii thì có lẽ họ đã chiếm trọn Thái Bình Dương. Giáo sư John J. Stephan (một học giả thông thạo tiếng Nhật) đã viết về tham vọng của Nhật Bản trong việc thuộc địa hóa Hawaii trong cuốn sách “Hawaii: Dưới ánh bình minh, các kế hoạch xâm lược sau Trân Châu Cảng của Nhật Bản”. Như đã đề cập ở trên, đã từ lâu Nhật Bản coi Hawaii là một phần của Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á (viết gọn Khối Đại Đông Á). Đầu thập niên 1870, Ngoại trưởng Nhật Bản Taneomi Soejima được cho là đã “cân nhắc tiếp quản quần đảo Hawaii”. Năm 1889, Nhật Bản chuẩn bị kế hoạch 100 năm tuyệt mật nhằm “tiếp quản các tài sản của Mỹ, Anh ở Thái Bình Dương, bao gồm Hawaii”. Nhà hoạt động người Nhật, Keishiro Inoue, đã “không ngừng thúc giục xuyên suốt thập niên 1890 rằng Nhật Bản phải cai trị Hawaii nhằm bảo vệ bản thân ở Thái Bình Dương”.

Những kế hoạch này đã được thúc đẩy bởi một lượng lớn người Nhật di cư đến Hawaii làm việc trong ngành công nghiệp mía đường. Từ cuối thập niên 1800 cho đến giữa thế kỷ 20, người Nhật trở thành cộng đồng dân cư ít người lớn nhất Hawaii: 160.000 người vào năm 1941. Tokyo cho rằng những ngoại kiều này là một dạng bành trướng lãnh thổ, nếu không muốn nói huỵch toẹt đó là tiền thân của sự chiếm đóng. Thập niên 1890, giới lãnh đạo Hawaii đã hất cẳng chế độ quân chủ trên đảo “họ chọn quan hệ lâu dài với Mỹ thông qua việc sáp nhập”. Nhật chống lại việc sáp nhập này. Bộ trưởng Nhật Bản ở Washington, ngài Toru Hoshi, đã trắng trợn nói thẳng với Ngoại trưởng John Sherman rằng “Nhật Bản không có hoặc chưa từng có những kế hoạch dựa trên sự toàn vẹn và chủ quyền của Hawaii”.

Tiên đoán của các tiểu thuyết gia

Trên thực tế, Toru Hoshi khuyến nghị đến Ngoại trưởng Nhật Bản rằng để ngăn ngừa việc sáp nhập thì “phải điều động ngay lập tức một lực lượng hải quân hùng hậu để chiếm đóng Hawaii bằng vũ lực”. Chiến hạm Naniwa của Nhật Bản đã được phái đến Honolulu nhằm ngăn chặn việc này. Khi Thượng nghị sỹ George Frisbie Hoar tuyên bố đanh thép trước quốc hội Mỹ rằng: “Nếu không sáp nhập Hawaii, nó sẽ trở thành miếng mồi của Nhật Bản, không bị xâm lược thì cũng bị dân di cư chiếm đóng. Các bên đều nhất trí rằng chúng ta phải bằng mọi giá ngăn chặn”. Việc sáp nhập năm 1898 có thể làm đảo lộn kế hoạch chiếm đóng của Nhật Bản, nhưng nó không ngăn được họ. Xuyên suốt đầu thế kỷ 20 và sau khi xảy ra Thế chiến II, việc tiếp quản Hawaii của Nhật Bản đã nổ ra không ít tranh cãi trong các tiểu thuyết, sách, trò chơi chiến tranh, cũng như trong giới quân sự Mỹ, Nhật.

Đầu năm 1907, Thượng nghị sỹ của Thịnh vượng chung Massachusetts, Henry Cabot Lodge, e sợ rằng “Nhật Bản sẽ cắm cờ ở Hawaii chỉ sau 1 đêm”. Hai cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1909 đã tiên đoán trước kết quả đó. Tiểu thuyết “Lòng dũng cảm trong chốn vô minh” của tác giả Homer Lea cho rằng cuộc di cư của người Nhật đến Hawaii là vì chính trị hơn là kinh tế, và số lượng cựu binh thuộc quân đội Đế quốc Nhật ở Hawaii vượt qua toàn bộ quân đội dã chiến Mỹ. Còn trong cuốn sách của cựu Thiếu tướng lục quân Mỹ, J. P. Story, đã than thở rằng “giờ đây Nhật Bản có uy lực tối thượng trên biển Thái Bình Dương” và “chưa bao giờ trên trái đất này có sự phong phú đến thế, giờ đây người Mỹ bất lực trong việc tự vệ trước các quần đảo Philippines và Hawaii”.

Trong cuốn tiểu thuyết mang tiêu đề “Trận chiến tới của các nước hay Chiến tranh Mỹ - Nhật” của tác giả Ernest Hugh Fitzpatrick, có “dự đoán”: “Nhật Bản đã tuồn 30 trung đoàn tới Hawaii trong vỏ bọc người lao động. Những trung đoàn này đã chiếm lấy Hawaii sau những tổn thất và giao tranh dữ dội”. Sau chiến thắng trong Chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905), Mỹ trở nên ám ảnh cuộc đụng độ tương lai với Nhật Bản khi mà từ giữa thời gian 1910 và 1914, đảo Oahu được gia cố bằng 8 khẩu đội pháo và súng cối cỡ lớn, 26 ụ súng phòng không, 6 băng đạn. Trong cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1925 mang tựa đề “Đại chiến tranh Thái Bình Dương: Lịch sử chiến dịch Mỹ - Nhật 1931-1933”, tác giả Hector Bywater đã mô tả cuộc tấn công bất ngờ của Nhật vào hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng.

Hải quân Nhật tỏ ra hết sức ấn tượng với cuốn sách của ông Bywater đến nỗi nó được “giảng dạy trong Đại học hải chiến”. Nhiều người cho rằng cuốn tiểu thuyết của nhà văn Bywater có thể bị ảnh hưởng bởi các chiến lược của Đô đốc Isoroku Yamamoto. Một tác giả mỉa mai rằng “Có một điều kỳ quặc là nhiều tiểu thuyết phía Nhật viết rằng người Nhật bị đánh bại, trong khi các tiểu thuyết phía Mỹ lại viết rằng họ đã bị đuổi khỏi Thái Bình Dương một cách nhục nhã”.

Tranh luận của các cựu tướng lĩnh

Bên cạnh đó, những lập luận ủng hộ sự chiếm đóng Hawaii không chỉ giới hạn ở các tiểu thuyết gia. Đầu năm 1924, các sĩ quan hải quân đế quốc Nhật Bản đã thảo luận công khai về cách chiếm Hawaii bằng xâm lược. Cũng trong năm này, Đô đốc Seijiro Kawashima lập luận rằng việc chiếm đóng Hawaii là cần thiết trong cuộc chiến tương lai với Mỹ. Sau khi phá hủy Hạm đội Thái Bình Dương, Nhật Bản có thể đã đổ bộ 100.000 lính dọc theo bờ biển phía Tây Bắc của đảo Oahu. Năm 1932, Tư lệnh Hironori Mizuno lập luận rằng “Nếu Nhật Bản thất bại trong việc chiếm lấy Hawaii thì đồng nghĩa chiến cuộc sẽ kéo dài, và Nhật Bản sẽ thua cuộc”. Cũng năm 1932, chiến lược gia hải quân Chuko Ikezaki kết luận rằng điều Nhật có thể đạt được từ cuộc chiến với Mỹ là một trận hòa bằng cách hủy diệt hạm đội Mỹ và tiếp quản Guam, Philippines, và Hawaii.

Đô đốc Kanji Kato đã viết thư cho Ikezaki rằng: “Chừng nào Hawaii còn nằm trong tay người Mỹ thì nó sẽ là một khối u ở Thái Bình Dương”. Năm 1940, nhà báo kiêm quan chức tình báo Nhật, Kinoaki Matsuo, lập luận rằng bằng cách lấy Hawaii, “Nhật Bản sẽ buộc người Mỹ ngồi vào bàn đàm phán hòa bình”. Từ năm 1923 đến năm 1940, hải quân Mỹ đã tổ chức các trò chơi chiến tranh gọi là “Thế trận hạm đội” được Nhật Bản theo sát. Thế trận hạm đội XIII năm 1932 đã “báo trước” trận đánh Trân Châu Cảng chỉ 9 năm sau đó. Tàu sân bay USS Lexington (CV-2) đặt dưới quyền chỉ huy của chỉ huy (khi đó là Đại úy) Ernest King (tư lệnh thời chiến tương lai của Hải quân Mỹ) đã phát lệnh tấn công bất ngờ vào Oahu. Các sĩ quan quân đội Mỹ đã chỉ trích về “tính hợp pháp” của cuộc tấn công vào sáng Chủ nhật.

Đại học chiến tranh Nhật Bản sau khi nghiên cứu đã kết luận rằng quân đội Thiên Hoàng nên “mở một cuộc tấn công tương lai bằng trận không kích bất ngờ”. Năm 1933, Thế trận hạm đội XIV đã mở cuộc tấn công và xâm lược thành công của người Nhật. Trong khi việc mất Hawaii về tay người Nhật trong trò chơi Thế trận hạm đội XIV đã không đánh thức các nhà hoạch định quân sự Mỹ về mối đe dọa, thì những bài học từ nó đã được Nhật Bản dùng trong việc lập kế hoạch tấn công Trân Châu Cảng. Qủa vậy, ngày 29/11/1940, Bộ Tổng tham mưu hải quân Nhật Bản đã soạn thảo “Sơ lược về Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” trong đó xác định Hawaii là “mục tiêu sáp nhập”. Cuốn sách tiếng Nhật cuối cùng có chủ đề Hawaii đã được xuất bản trước cuộc tấn công Trân Châu Cảng của nhà báo Chu Saito, ủng hộ việc chiếm đóng Đại Đảo Hawaii, tiếp theo là xâm lược Oahu.

Những tình tiết chưa từng kể

Lần đầu tiên đô đốc Isoroku Yamamoto chính thức đề xuất tấn công Trân Châu Cảng vào tháng 1/1941, như là điều cần thiết để Nhật Bản có thời gian thảnh thơi 6 tháng đến 1 năm. Trong suốt các giai đoạn lập kế hoạch vào mùa Hè 1941, 2 sĩ quan tham mưu cấp cao của Đô đốc Yamamoto và Tư lệnh Minoru Genda “đang cân nhắc không chỉ một cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng mà còn cả xâm lược Hawaii… ngay sau khi Trân Châu Cảng bị chế ngự”. Ông Genda tin rằng “không tiếp quản Oahu, Nhật Bản không hy vọng gì chiến thắng”. Các cuộc diễn tập chiến tranh tấn công Trân Châu Cảng được thực hiện từ ngày 5 đến 17/9/1941. Sau khi nghe những lập luận phản đối (và mặc dù ủng hộ việc xâm lược Hawaii vào năm 1928), Đô đốc Yamamoto “quyết định không nên cố gắng đổ bộ lên đảo Oahu như một phần của cuộc tấn công”. Hai ngày sau cuộc tấn công, Đô đốc Yamamoto thay đổi quan điểm.

Ngày 9/12/1941 (có lẽ Yamamoto nhận ra rằng việc tiếp quản Oahu là một sai lầm chiến lược), Yamamoto “hạ lệnh cho thuộc cấp chuẩn bị kế hoạch xâm lược Hawaii”. Tham mưu trưởng của ông, Chuẩn đô đốc Matome Ugaki, đặt mật danh xâm lược Hawaii là “Chiến dịch phương Đông”. Mục tiêu của Yamamoto là thu hút và tiêu diệt Hạm đội Thái Bình Dương còn lại (tiếp sau việc xâm lược), đây có thể là một con bài mặc cả trong các cuộc đàm phán hòa bình”. Yamamoto cũng tìm thấy một đồng minh là Chuẩn đô đốc Tamon Yamaguchi (Sư đoàn tàu sân bay thứ 2) người đã phát triển ra “Kế hoạch Yamaguchi”. Kế hoạch Yamaguchi sẽ bao gồm việc chiếm giữ các đảo Midway, Johnston và Palmyra, áp đặt phong tỏa và dần thắt chặt vòng vây hỏa lực không, hải quân quanh Oahu. Sau khi xâm lược Đại đảo Hawaii, cuối cùng Oahu sẽ chìm trong cuộc tấn công đổ bộ”.

Kế hoạch Yamaguchi ban đầu đã vấp phải sự chống đối của quân đội Thiên hoàng, họ cảnh báo về “sự mở rộng quá mức” thiết bị và nguồn cung. Theo đó, vào tháng 3/1942, Hải quân Nhật quyết định thực hiện chiến dịch Midway sau khi đã xâm lược các đảo Johnston và Palmyra vào tháng 8; Đại đảo Hawaii vào tháng 10; và Oahu trong tháng 3/1943. Ngày 23/5/1942, Bộ tổng tham mưu lục quân Nhật hạ lệnh “chuẩn bị đổ bộ Hawaii”. Nhưng tổn thất thảm khốc tại Midway đã làm phá sản các kế hoạch. Đô đốc Yamaguchi đã chìm cùng tàu sân bay Hiryu của mình cùng với 3 tàu sân bay khác. Ngay cả sau Midway, vào mùa Thu 1942, Tướng Douglas MacArthur sợ rằng Nhật Bản sẽ “kiểm soát biển Thái Bình Dương” và “tấn công Hawaii”, còn một số nhà lập kế hoạch Nhật vẫn mơ Hawaii dưới chân bình minh (ám chỉ nước Nhật). Song vào năm 1943, loạt thất bại ở Tây Nam Thái Bình Dương khiến cho kế hoạch xâm lược Hawaii trở nên xa vời.

Hai tác giả Anthony P. Tully và Jonathan Parshall của cuốn sách “Thanh gươm xé lẻ: Chuyện chưa kể về Chiến địa Midway”, quả quyết rằng “Người Nhật đơn giản là không đủ khả năng đổ bộ và hậu cần để tấn công, chiếm giữ quần đảo Hawaii. Nếu Nhật ngay tức khắc tiếp nối sự thành công của Trân Châu Cảng để xâm lược Hawaii thì quân Mỹ đồn trú trên đảo sẽ không đủ khả năng để thiết lập hàng rào phòng thủ. Vì vậy, trong tình huống đó, Nhật Bản chắc chắn sẽ chiếm được Hawaii”. Tuy vậy, hai tác giả cùng kết luận rằng “ngay cả nếu người Nhật muốn, họ cũng không đủ khả năng để thực hiện chiến dịch cả ở Hawaii và một loạt cuộc tấn công phức tạp khác ở Tây Nam Thái Bình Dương”. 

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.