Huyền thoại Phật giáo từ Việt Nam truyền sang Trung Quốc?

Trong hơn 50 năm qua, có một quan niệm cho rằng Phật giáo đã truyền vào Việt Nam từ rất sớm sau đó truyền bá sang Trung Quốc.

Thích Mật Thể cho rằng với vị trí địa lý thuận lợi, “nước ta ảnh hưởng trực tiếp với Ấn Độ hơn là với Tàu” cho nên trong thời gian dài, chủ yếu là các tăng nhân Ấn Độ giỏi chữ Hán để dịch kinh Phật, và không thấy có ai sang Tàu thỉnh kinh chữ Hán (1942, “Việt Nam Phật giáo sử lược”, Minh Đức, tb. 1960, tr.74). 

Lê Mạnh Thát cho rằng Phật giáo vào đến Giao Chỉ khoảng thế kỷ I, trước cả thời Sĩ Nhiếp và Mâu Bác (Lê Mạnh Thát, “Phật giáo truyền vào nước ta từ lúc nào?” Vạn Hạnh, Tư tưởng, 5/1973, tr.145). 

Ông cho rằng chuyện Đầm Dạ Trạch về Chử Đồng Tử đời Hùng Vương được  sư Phật Quang truyền pháp và phép thuật ở núi Quỳnh Viên là cứ liệu sớm nhất cho biết sự xuất hiện của đạo Phật ở Việt Nam. Ông đoán rằng Phật Quang là một vị sư Chiêm Thành hoặc Ấn Độ (vì chuyện ghi Đồng Tử đi theo khách buôn ngoại quốc), và xác định Quỳnh Viên nằm ở cửa Sót (cửa Nam Giới) của Hà Tĩnh. 

Ông khẳng định Chử Đồng Tử là “người Việt Nam đầu tiên đã tiếp xúc với ông [Phật Quang], để rồi sau đó trở thành Phật tử Việt Nam đầu tiên có tên tuổi” (1999, tr.13-26). Trong khi đó, Nguyễn Lang (“Việt Nam Phật giáo sử luận”, 1974, tr.15) cho rằng trung tâm Phật giáo Luy Lâu được thành lập sớm nhất ở Đông Á, sau đó Luy Lâu trở thành “bàn đạp cho sự thành lập các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Hoa”. 

Trên đây là quan điểm của các hành giả và học giả được công bố trước năm 1975 ở Huế và Sài Gòn. Những năm 1980, các quan điểm này được nhiều học giả Miền Bắc ủng hộ. 

Tiêu biểu như tác giả Huyền Chân trong bài “Vấn đề thời điểm và các con đường đạo Phật du nhập vào Việt Nam” trong một hội thảo về lịch sử tư tưởng Việt Nam tại Viện Triết học năm 1984 “xác nhận có những con đường biển và đường bộ nối liền Ấn Độ và Việt Nam ta, không thông qua Trung Hoa. 

Từ thời rất xa xưa, đã có thương nhân và tăng sĩ Ấn Độ noi theo những tuyến đường ấy để qua buôn bán và truyền đạo ở nước ta. Có những tăng sĩ Trung Hoa cũng muốn noi theo những con đường ấy để đi cầu đạo tại Ấn Độ. 

Những sự kiện này xảy ra trước khi đạo Phật có mặt ở Trung Hoa khiến cho có những trí thức Trung Hoa như Mâu Tử vào đầu kỉ nguyên phải đến Việt Nam để nghiên cứu đạo Phật, đồng thời cũng có những tăng sĩ xuất phát từ Việt Nam sang truyền đạo ở Trung Hoa”.

Chùa Một Cột. Ảnh: L.G
Chùa Một Cột. Ảnh: L.G

Nhóm học giả Viện Triết học sau đó đã xuất bản cuốn “Lịch sử Tư tưởng Việt Nam” và phiên bản tiếng Anh “The History of Buddhism in Vietnam” (Nguyễn Tài Thư cb, USA, 2008, tr.1) đã phát biểu chính xác trong  chương 1 (tr. 9-15) rằng: Phật giáo đã truyền nhập trực tiếp vào Việt Nam từ các thương nhân và các nhà truyền giáo Ấn độ vào thế kỷ I-II trước khi nó ảnh hưởng đến Trung Hoa. 

Các cứ liệu khảo cổ được sử dụng để chứng minh rằng Phật giáo truyền từ Ấn Độ qua các nước Nam Á- Đông Nam Á. Văn bia chữ Sanskrit được tìm thấy ở Cambodia, và Phật giáo đã truyền đến các nhà nước cổ Phù Nam và Champa thông qua các tượng Phật ở Đồng Dương. Trong khi đó ở Giao Châu, Khương Tăng Hội đã dịch một số bộ kinh Phật vào đời Hán (25-220).

Cho đến nay, quan điểm này đã được học giả chính thống công nhận, và trở thành sử thực không thể chối cãi, đến mức trở thành tri thức phổ thông, không cần tư nghì. Sự ảnh hưởng đã rộng khắp xã hội, đến mức wikipedia ghi nhận như là một tri thức chung để phổ biến cho mọi độc giả (xem wikipedia, mục “Phật giáo Việt Nam”, phần “Lịch sử). Học giả được trích dẫn trực tiếp cho quan điểm này là Lê Mạnh Thát.

Thế nhưng, cứ liệu mà Lê Mạnh Thát đưa ra là “Nhất dạ trạch” - một chuyện văn học được ghi chép trong “Lĩnh Nam chích quái” về Chử Đồng Tử cưới Tiên Dung Mị Nương con gái Vua Hùng. 

Câu chuyện phổ biến ai cũng biết với kết cấu, nên duyên vợ chồng trên bãi tắm Tự Nhiên. Hai vợ chồng được Phật Quang trao cho phép thuật. Cắm gậy phép và úp nón phép để biến hiện ra lâu đài thành quách, với tiên đồng, ngọc nữ, tướng sĩ, thị vệ,... Đó không phải là dấu hiệu của Phật giáo mà chỉ là các chi tiết phù thuật của Đạo gia. 

Sự cấy ghép Đạo với Phật cho thấy thủ pháp sáng tác của một tác giả vô danh cuối thế kỷ XIV đời Trần muốn dựng lên một bối cảnh “xuyên không” trong văn học, truy ngược về quá khứ cách đó trên dưới 1.400 năm. Yếu tố “chích quái” hay “linh dị” được thể hiện ở cuối chuyện với việc hai vợ chồng cùng thành quách bay lên trời để tránh một cuộc chiến tương tàn giữa những người trong một gia đình (Hùng Vương đánh diệt con gái và chàng rể). 

Thực sự, khó có thể coi “Lĩnh Nam chích quái” như là một nguồn sử liệu, để cho phép chúng ta khai thác và nghiên cứu về lịch sử nói chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng. Thật lạ là sau mấy chục năm, nhiều người tiếp tục đi theo lối mòn hư thoảng này, để chứng minh sư bà Phương Dung thời Hùng Vương thứ 18 (hiện thờ tại chùa Yên Phú, Hà Nội) là “nữ Phật tử đầu tiên trong lịch sử Việt Nam”.

Cứ liệu quan trọng (có tính sử liệu) được các học giả nêu ra để chứng minh cho luận điểm Phật giáo vào Việt Nam trước rồi truyền sang Trung Quốc đó là “Thiền uyển tập anh”. Sách này ghi lời sư Thông Biện nói rằng: Phật giáo do Mâu Bác và Khương Tăng Hội truyền vào. 

Còn Thông Biện trích lời sư Đàm Thiên tâu vua Tùy Cao Tổ rằng: Giao Chỉ có đường thông Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới tới Giang Đông thì tại Luy Lâu (Giao Chỉ) đã có 20 ngôi chùa, 500 tăng, dịch được 15 quyển kinh. Vào lúc ấy, thì đã có Khâu Ðà La, Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác. 

Ta biết Khâu Đà La và Ma Ha Kì Vực đã cùng nhau tới Luy Lâu trị sở của Sĩ Nhiếp, vào cuối thời Hán Linh Đế ( 169 – 187). Khâu Đà La được biết đến với huyền thoại sinh con với Man Nương, thực ra theo tôi đó là một kiểu fakelore (chữ của GS Trần Quốc Vượng).

Mâu Bác (165- ?) là người Thương Ngô (Trung Hoa) đến Giao Chỉ tu học,  truyền giáo có soạn “Trị Hoặc Luận” (Lý hoặc luận). Nhưng Mâu Bác là người Hán nên đã được/ bị bỏ qua một bên. Các học giả chỉ tập trung vào Khương Tăng Hội.

Cửu phẩm Liên Hoa ngự trên lưng rùa tại chùa Cổ Lễ, Nam Định. Ảnh: L.G
Cửu phẩm Liên Hoa ngự trên lưng rùa tại chùa Cổ Lễ, Nam Định. Ảnh: L.G

Khương Tăng Hội là một nhân vật lịch sử có lý lịch rõ ràng nhất, sống vào đời Tôn Quyền. Năm 1909, Edouard Chavannes đã có một nghiên cứu công phu về Tăng Hội trên  Tong Pao (Brill, Vol. 10, No. 2, tr. 199-212). Khương Tăng Hội (?- 280) có nguyên quán là Khang Cư, gia tộc mấy đời định cư ở Ấn Độ. 

Tăng Hội theo cha đến Giao Chỉ để kinh doanh, cha ông mất tại đây, khi ấy Khương Tăng Hội mới 10 tuổi. Sau khi cha mất, ông thành trẻ mồ côi, và xuất gia tại Giao Chỉ, theo học Mâu Bác. Ông thông thạo Hán văn, và Sanscrite. Năm 247 (Xích Ô thứ 10), ông mở mang giáo hóa ở nước Ngô thời Tôn Quyền, dựng chùa Kiến Sơ - ngôi chùa đầu tiên ở Giang Nam. 

Nguyễn Lang cho rằng Khương Tăng Hội là sơ tổ của Thiền tông Việt Nam. Năm 1984, có người còn quy đổi quê gốc Khương Cư của ông tương ứng với địa phận xứ Uzbek của Liên Xô để hợp với phong khí thời đại. 

Còn phần đa các học giả khác cho rằng, “Khương Tăng Hội học đạo Phật thành tài ở nước ta rồi mới sang Trung Quốc truyền đạo, khi ở Trung Quốc thì vùng Giang Đông chưa có đạo Phật”, hoặc “Khương Tăng Hội là người đem Phật giáo từ Việt Nam truyền vào Trung Quốc”. Những cách diễn đạt này có thể tìm thấy khắp nơi qua google.

Nhưng nếu đọc kỹ tiểu sử của Khương Tăng Hội vừa nêu trên thì không có chuyện Khương Tăng Hội đem đạo Phật đến Việt Nam, rồi từ Việt Nam truyền đến Trung Quốc. 

Thứ nhất, thời đó chưa có Việt Nam càng không có Trung Quốc (đây đều là hai nhà nước tồn tại trong thế kỷ XX-XXI). Ta không nên dùng khái niệm Việt Nam và Trung Quốc (vì đây là hai nhà nước hiện tồn, với không gian, lãnh thổ, văn hóa khác nhau, với lịch sử khác nhau), cần sử dụng các địa danh, quốc danh vào đúng thời điểm sự kiện xảy ra. 

Cụ thể, dùng Giao Châu (tương ứng với Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ hiện nay) thay cho Việt Nam, dùng nước Ngô (gồm Kinh Châu, Dương Châu, Quảng Châu, Giao Châu phía đông nam của sông Trường Giang) thay cho Trung Quốc. Vào thời điểm này, Giao Châu (với trung tâm Luy Lâu) là phần lãnh thổ cực nam của nước Ngô. 

Mặt khác, cần đặt lịch sử truyền giáo ở Đông Á trong tổng thể bối cảnh lịch sử và xã hội. Theo các kết quả nghiên cứu mới của Dương Ngọc Dũng (2003) và hàng loạt các học giả quốc tế, thì các trung tâm Phật giáo Trường An, Lạc Dương, Bành Thành được hình thành vào giữa thế kỷ I, theo con đường tơ lụa trên lục địa qua hàng chục cửa ngõ như Đôn Hoàng, Ngọc Môn quan. Ban đầu, Phật giáo ở triều đình sau dần phổ biến ra dân gian. 

Giai đoạn đầu, sư tăng chủ yếu là người Hồ (chỉ chung Ấn Độ và Tây Á), với các dịch giả kinh Phật như An Tức (Parthia), Nguyệt Chi (Indoscyth). Giai đoạn này, hiện chưa có chứng cứ Phật giáo truyền vào Giao Chỉ (ngoài truyền thuyết Chử Đồng Tử). Năm 190, Đổng Trác đánh hạ Lạc Dương, đuổi sư tăng ra khỏi kinh đô và vùng lãnh thổ phía bắc. 

Tăng nhân thoát khỏi đất nhà Hán để tránh sự tàn sát, chạy về Nam Kinh nước Ngô (220-280) thành lập Tăng đoàn Phật giáo. Nên mới có việc Mâu Tử đến trú tại Giao Chỉ và truyền pháp cho Khương Tăng Hội. Việc Khương Tăng Hội đến Ngô vào năm 247 là để hòa nhập với tăng đoàn Phật giáo của thầy mình. 

Dù rằng, Tăng Hội có cư trú lại nước Ngô và mở mang giáo hóa, nhưng không thể coi ông là người đầu tiên mang Phật giáo từ Giao Chỉ đến vương quốc của Tôn Quyền, càng không thể coi ông là người đầu tiên mang Phật giáo từ Việt Nam đến Trung Quốc được. 

Trần Trọng Dương

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.