Hồng Thanh Quang: Riêng gì mấy khúc rong chơi

Ừ thì thi sĩ nào chả là một kiếp rong chơi. Với Hồng Thanh Quang cũng không phải là ngoại lệ. Dù lúc nào tôi cũng thấy anh quần quật, làm việc, tiệc tùng, đãi đằng, bang giao, bầu bạn, rượu chè. Có những cuộc chiều bè bạn chạy sô nhậu nhẹt chỉ có anh mới đảm đương nổi. Không có sức khỏe, không có tấm lòng và đặc biệt là độ rong chơi thì chỉ alô từ chối một cái là xong. Nhưng có lẽ cái kiếp thi sĩ nó phải lang bang, lắm lúc cứ như tự giết mình như thế.

Đời người mây nổi
Đời ta sóng chìm
Không thành lặng im
Vỗ vàng bờ cát
Ai chung chiêng câu hát
Ta mái chèo khua trăng bạc trăng vàng
Rong chơi đến tận lỡ làng
Còn sang kiếp khác gảy đàn phiêu ly

                                (Khúc rong chơi)

Những dòng thơ trên tôi viết cách đây độ mươi năm, nào nghĩ đến riêng tặng nhà thơ Hồng Thanh Quang, dù tôi với anh, biết nhau cũng hơn hai mươi năm, từ cái ngày tôi mới binh nhất binh nhì còn anh đã là một nhà thơ, nhà báo vang danh đang giữ chuyên mục rất nổi tiếng của tờ Quân đội Nhân dân cuối tuần - Chuyên mục “Nhìn từ Hà Nội”. Lại càng không dám làm quen với anh ở những ngày ấy.

Tôi bén mảng làm thơ, rồi viết truyện ngắn, tất tật đưa cho nhà thơ Đỗ Trung Lai tùy nghi phán xét, in ấn sử dụng. Thơ gần như bại cả, hình như Đỗ Trung Lai vứt đi hết chỉ in đôi ba bài trong bốn năm năm đã là oách lắm. Truyện ngắn có duyên hơn, có truyện in trang nhất Báo Quân đội cuối tuần. Riêng với nhà thơ Hồng Thanh Quang, những lúc ấy tôi thấy anh sao cao xa diệu vợi quá, chỉ sợ anh chê lũ lính tráng đơn vị học đòi viết lách, toàn những Nông Văn Dền viết còn sai chính tả. Cái tạng tôi chắc đến lúc chết vẫn là một gã nông dân.

Thế rồi chơi với anh lúc nào không biết, nhiều khi cũng thắm thiết lắm, chuyện gì cũng huỵch toẹt được. Lắm lúc, ngà ngà còn ông ông tôi tôi phán xét văn chương ngang hàng phải lứa cứ nhặng cả lên. Cơ mà Hồng Thanh Quang dường như không chấp đàn em. Anh gần gũi và có khi nuông chiều đàn em vì một lẽ khác mà tôi không biết chăng? Năm tháng thời gian đi qua, những gì lứa chúng tôi nghĩ về anh, về cuộc đời dài rộng, về văn chương dường như đã khác. Nó gần hơn, đớn đau dằn vặt hơn. Riêng tôi, càng như thấy mình nhỏ bé và lười nhác.

Những câu thơ rong chơi đã cũ trong đời sống sôi sùng sục từng ngày. Những ngày tôi còn ở truyền hình, có bất kỳ điều gì cần ới Hồng Thanh Quang đều được anh nhiệt tâm nhập cuộc. Mời anh dẫn một chương trình về văn học nghệ thuật. Mời anh là thành viên trong một bàn tròn văn chương. Phỏng vấn anh trong phim này phim khác, Hồng Thanh Quang thảy đều vui vẻ nhận lời. Nhiều lúc anh còn bày nghề cho tôi với một sự hớn hở đáng yêu.

Trong nghề nghiệp, Hồng Thanh Quang là người thẳng thắn, luôn đá bao sân với những người cộng tác. Năng lực làm việc của anh thôi khỏi bàn nhưng ở đâu ra cái năng lực cuồn cuộn ấy đã khiến tôi không ít lúc phân vân. Tôi luôn có suy nghĩ rằng, trong đầu óc Hồng Thanh Quang là rất nhiều những khoang riêng biệt nhưng thông nhau. Nào khoang kinh tế, chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật bao gồm dịch thuật, quốc phòng an ninh bao gồm trong nước ngoài nước, thân phận con người bao gồm góc tối góc sáng, bạn hữu bao gồm đa giới tính đa tuổi tác, và yêu đương em ún nữa… luôn được anh tường minh và trộn lẫn một cách chỉ có ở Hồng Thanh Quang.

Khi anh rời quân đội sang công an, rồi sau đó chuyển sang làm Tổng biên tập Báo Đại đoàn kết, mọi người thế nào không biết tôi lại thấy mừng. Tôi cho đó là một quyết định sáng suốt của anh. Tôi từng có những quyết định khó khăn như đang ở truyền hình thời thượng đùng cái rút hẳn sang chuyên biệt văn chương thấy nhẹ nhàng và vô cùng thanh thản. Đã thế còn rủng rỉnh tiền bạc, con cái, việc họ hàng.

Hồng Thanh Quang đến một chỗ sôi hơn, lúc nào cũng như một chiếc nồi áp suất với đủ thứ quặng ninh nấu thập diện phục vụ người đời. Nhưng tôi đoán chắc anh đã thanh thản trong cõi sôi sùng sục ấy. Hồng Thanh Quang như một con lạc đà lôi kéo đủ thứ lỉnh kỉnh chất ngất tai ách, lưng bướu gập ghềnh trên sa mạc chẳng qua cũng là tạo hóa sử dụng triệt để nguồn năng lượng đã ban phát cho anh. Cho đi thì phải lấy lại cũng là chuyện bình thường. Không thể hình dung một Hồng Thanh Quang đơn điệu khép mình tám tiếng nơi công sở.

Hôm gần đây, trong một cuộc trao giải của Báo Nhân dân, tôi thấy anh lên giao lưu cùng nhân vật của mình, hai con người phải nói đã thành danh nhưng khá kỳ lạ là họ giống nhau ở sự bộc trực, ở cái cách ăn nói sát ván. Tôi nghe anh nói đại ý học tập gì thì học tập, làm gì thì làm cứ phải là làm tốt, làm đến nơi đến chốn, làm một cách tử tế ngay chính cái bổn phận của mình. Không biết mọi người để ý không, riêng tôi thấy anh đang tự nói với chính mình. Cái cách nói của Hồng Thanh Quang cũng lạ, lúc nào cũng như khuyên răn ai đó nhưng kỳ thực chính là anh khuyên răn anh, tự mình khuyên mình, tự mình uốn nắn mình trên quãng đường xa dặm thẳm.

Tôi cũng không thấy ai thật thà như Hồng Thanh Quang. Yêu nói yêu, ghét nói ghét thẳng băng ruột ngựa. Trong giới văn nghệ sĩ, nhà thơ đích thực ít biết nói dối nhất. Càng những ông thơ hay càng ngô nghê thật thà. Nhưng cái kiểu thật thà của Hồng Thanh Quang đàn ông như tôi thì thích nhưng liệu đàn bà phụ nữ có thích không? Điều này tôi không dám võ đoán nhưng chỉ cần đọc thơ anh từng giai đoạn thì những người khờ khạo cũng có thể đoán được.

Thơ Hồng Thanh Quang, dù ở khúc nào cũng luôn thấy sự thật thà nổi hằn lên. Thật thà một cách đau khổ, chỉ sợ người đời không hiểu hết bản chất thật của mình. Tôi vốn dốt thơ, ngại nhất phải đánh giá thơ một ai đó nhưng không hiểu sao toàn chơi thân với các nhà thơ và phần nào thuộc thơ họ. Tôi thích thơ Hữu Thỉnh, Lưu Quang Vũ và Hồng Thanh Quang. Thơ các anh giải quyết những thiếu thốn hạn hẹp và nhất là cho tôi sự tự lượng sức mình.

Anh buồn lắm, bởi vì anh tử tế,
Giữa cơn say anh chỉ nghĩ về em.
Nếu may mắn phút này anh được chết,
Em nghìn trùng nhưng như vẫn kề bên.

Anh không ác, thế mà anh rất ác,
Anh yêu em như thù dỗi nhân tình.
Xinh đẹp hỡi, phí đời em quá đỗi,
Anh yêu em cho nát trái tim mình…

                                          (Anh buồn lắm bởi vì anh tử tế)

Lời thơ thật thà quá đỗi, từ câu chữ, ý tứ, vần điệu, nghĩa là mình cũng có thể làm được. Nhưng tôi biết, có vò đầu bứt tai nặn ra chữ nghĩa chắc chắn sẽ rời rông rổng, vô hồn vô cảm. Cái khác người và cái hơn người của Hồng Thanh Quang nằm ở sự thật thà này chăng? Thật thà từ những đớn đau chiêm nghiệm.

Bao nhiêu mây trắng
Thì ra cánh đồng
Bao nhiêu mây vàng
Rỡ ràng mặt ruộng
Bao nhiêu mây đen
Trẫm mình xanh đất
Bao nhiêu nẻo khuất
Phù sa lấp đầy
Đời người ừ nhỉ đời cây
Gió rung thì hát khúc này rong chơi…

                              (Khúc rong chơi)

Ừ thì thi sĩ nào chả là một kiếp rong chơi. Với Hồng Thanh Quang cũng không phải là ngoại lệ. Dù lúc nào tôi cũng thấy anh quần quật, làm việc, tiệc tùng, đãi đằng, bang giao, bầu bạn, rượu chè. Có những cuộc chiều bè bạn chạy sô nhậu nhẹt chỉ có anh mới đảm đương nổi. Không có sức khỏe, không có tấm lòng và đặc biệt là độ rong chơi thì chỉ alô từ chối một cái là xong. Nhưng có lẽ cái kiếp thi sĩ nó phải lang bang, lắm lúc cứ như tự giết mình như thế.

Để có thơ hay, những trang văn, trang báo sát sườn, chia sẻ với đời sống của con người đang diễn ra mà anh sống hời hợt cầm chắc là không bao giờ có. Quăng quật vào đời sống, những ngóc ngách, tị nạnh, ganh ghét, khoáy ngang khoáy dọc, oan khuất của cuộc đời phải là cái mà một nhà văn, một thi sĩ không được hãi sợ, càng không được đầu hàng, thỏa hiệp. Chúng ta hãy hiểu làm kẻ ác khó nhọc vô cùng và đương nhiên cái vế sau của nó, cái vế làm người lương thiện ấy cũng chẳng dễ dàng gì, cũng năm ăn năm thua, tai bay vạ gió, cũng quần quật như nhau.

“Một mình ta cũng đủ chật ta rồi”. Người hiền lương cũng ngạo nghễ, khinh thị ngạo vật như thường đấy thôi. Cho nên cũng đừng nên trách cứ sự tối tăm dốt nát ở xung quanh một cách quá nặng nề. Cuộc sống luôn ở phía trước. Phía trước là bầu trời với những ô cửa mở. Phía trước là gia đình và những đứa con, bạn bè và những quyển sách đang viết, những người con gái dịu dàng sẽ gặp, những nhân cách đáng kính còn chưa biết thảy đang ngân nga vẫy gọi. Những gì ở phía trước đáng quý xiết bao. Như anh từng tự răn mình:

Hãy sống
không lụy người trên
không chèn kẻ dưới

Hãy sống
như lời ru của mẹ,
như con chuồn chuồn
đạp nước
rồi bay...

            (Hãy sống)

Tôi luôn cho rằng, dù ở thời điểm nào, tất cả chúng ta đều bình đẳng trong sáng tác văn học. Trong cuộc sống hôm nay, càng những người chân chính, chuyên tâm, bền gan, đói khát khổ sở vì sáng tác dường như lại luôn dằn vặt nhất. Đó là anh không có quyền viết như người khác, không có quyền lặp mình, lặp người, lại càng không có quyền không viết gì cả.

Trong các sáng tác, từ riêng biệt của mỗi cá nhân, chính các thi sĩ chứ không phải ai khác đang chịu một sức ép ghê gớm, khốc liệt từ cá tính sáng tạo, sản phẩm sáng tạo của mình. Đã khổ sở với nó từ quãng đầu cầm bút mà nó không buông tha cho từ nay về sau, khi nhà văn ấy còn cầm bút. Nói thế để thấy, tìm sự an nhàn trong nghề viết đối với những thi sĩ quả là không tưởng vậy.

Xin được tặng anh khổ cuối để trọn vẹn "Khúc rong chơi".

Thời gian xô lệch bên bồi
ngậm ngùi bên lở
không thành Trương Chi ngậm cười đáy chén
cát trắng lặn đáy sông sâu
ta về ngậm hạt mưa ngâu
ái ân vạt áo qua cầu gió bay...

Phùng Văn Khai

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.