Giữ ‘mắt thần’ trên đảo Cồn Cỏ

Bên ấm nước chè xanh của ngày hè bỏng nắng, chúng tôi như lặng đi trong câu chuyện của cựu binh Lê Hữu Trạc, người đã gần 1.000 ngày đêm cùng đồng đội bám trụ trong mưa bom bão đạn để giữ đảo Cồn Cỏ, nơi được địch xem là “mắt thần trên biển Đông”. Cuộc đời của cựu binh Lê Hữu Trạc như bản tình ca về người lính với những nốt thăng, nốt trầm hằn in trong tâm trí người nghe.

Sinh năm 1941, lúc vừa tròn 20 tuổi, anh Lê Hữu Trạc tạm biệt gia đình, gốc lúa, bờ tre hồn hậu ở thôn Xuân Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Anh lính trẻ Lê Hữu Trạc được phân về Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341.

Đại đội Lê Hồng Phong là đơn vị bảo vệ giới tuyến 17, vì vậy mỗi cán bộ, chiến sĩ của đơn vị luôn được xem như những hạt giống đỏ của sư đoàn.

Năm 1965, Mỹ đánh phá ra miền Bắc, và đảo Cồn Cỏ luôn nằm trong tầm ngắm xâm chiếm của địch. Bởi, lúc bấy giờ địch xem đảo Cồn Cỏ như “mắt thần trên biển”.

Và lịch sử đã chọn Cồn Cỏ trở thành vị trí tiền tiêu cho cả miền Bắc trong kháng chiến bởi vì khi vĩ tuyến 17 chia đôi hai miền đất nước thì vị trí của đảo Cồn Cỏ nằm vào 17008’15’’ tới 17010’05’’ vĩ độ Bắc gần như liền kề với đường giới tuyến.

Âm mưu của địch là chiếm đảo Cồn Cỏ để làm bàn đạp thâm nhập vào hậu phương miền Bắc. Mặt khác, tất cả máy bay địch khi bay ra miền Bắc ném bom đều phải bay qua đảo Cồn Cỏ, vì vậy Cồn Cỏ trở thành mục tiêu hủy diệt, xâm chiếm của địch. Năm 1965, lãnh đạo Đại đội Lê Hồng Phong nhận lệnh của cấp trên lựa chọn một Trung đội lên đường ra giữ đảo Cồn Cỏ.

Tất cả các Trung đội trong Đại đội Lê Hồng Phong đều xung phong ra đảo với tinh thần bất khuất như lời thơ của cố nhà thơ Tố Hữu “Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa/ Vui gì hơn bằng người lính đi đầu”.

Kể về những ngày giữ đảo khốc liệt từ 1965-1967, giọng cựu binh Lê Hữu Trạc run run, những ký ức thời quá vãng như lại hiện về nguyên vẹn trong ông. Trung đội của ông chỉ 30 người, nhưng có ngày họ đã phải gánh chịu hàng chục tấn bom đạn của địch.

Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, những người lính trên đảo còn phải xây dựng đảo trở thành một trạm ra đa trên biển của miền Bắc. Hằng ngày, các anh phải nắm được số lượng tàu địch tăng hay giảm, lượng máy bay cất cánh ra bắn phá miền Bắc…

Có lúc địch đưa tàu bao vây đảo, suốt 6 tháng liền các tàu tiếp tế của ta không thể ra đảo, ông luôn động viên đồng đội: “Thà hy sinh chứ không để mất đảo”. Từ những lời động viên của Trung đội trưởng bộ binh Lê Hữu Trạc, anh em trên đảo đã luôn giữ vững khí thế chiến đấu với kẻ thù.

Gia đình thương binh Lê Hữu Trạc vinh dự đón Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan và lãnh đạo tỉnh Quảng Bình đến thăm.
Gia đình thương binh Lê Hữu Trạc vinh dự đón Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan và lãnh đạo tỉnh Quảng Bình đến thăm.

Nhiều đồng đội của Lê Hữu Trạc đã trở thành Anh hùng. Đó là trinh sát Anh hùng Thái Văn A lên đài quan sát, mặc dù bị thương do mảnh bom của máy bay Mỹ, anh đã tự băng bó vết thương để bám trụ chứ nhất định không chịu rời trận địa, góp phần cùng đơn vị bắn rơi hai máy bay vào ngày 11/3/1965.

Anh hùng Nguyễn Tăng Mật bị pháo địch vùi lấp, nhưng khi vừa tỉnh lại anh lại lên trận địa pháo tiếp tục hiên ngang giáng vào đầu địch.

Đó còn là Anh hùng Cao Văn Khang, người lính công binh đã hiên ngang đi lại giữa mưa bom bão đạn của kẻ thù để gỡ từng quả bom nổ chậm, từng quả ngư lôi của địch...

Tháng 5/1968, ông Lê Hữu Trạc được phân công làm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, E270, Quân khu IV. Bất cứ ở vị trí công tác nào, ông đều thể hiện rõ bản chất gan dạ, sáng suốt của người chỉ huy đơn vị, người luôn được đồng đội nể phục, kính trọng.

Tháng 7/1968, trong lúc đi nghiên cứu địa hình chống địch đổ bộ bằng đường không vào Vĩnh Linh, Quảng Trị, ông Lê Hữu Trạc đã bị bom đạn kẻ thù cướp đi 2 con mắt. Phải xa đồng đội để về lại tuyến sau, nhiều ngày đêm người lính kiên cường Lê Hữu Trạc giấu nước mắt vào trong gối.

Về lại tuyến sau, cựu binh Lê Hữu Trạc được đồng đội đưa về an dưỡng ở Hà Tây. Nơi đây, người lính của những đơn vị anh hùng đã gặp cô gái Kim Thị Mão và họ nên vợ nên chồng.

Ngày cô gái Kim Thị Mão vừa tròn tuổi 18 với nước da trắng hồng, đôi mắt xinh nhất làng quyết định theo anh thương binh Lê Hữu Trạc về lại quê nghèo Quảng Bình để xây dựng cuộc sống lứa đôi, không ít người làng tỏ ra ái ngại. Nhưng tình yêu của họ đã vượt qua tất cả.

“Tôi bị mù 2 mắt nhưng bàn tay và khối óc thì vẫn sáng trong”, Lê Hữu Trạc cười nói vậy.

Năm 1973, niềm vui vỡ òa trong căn nhà nhỏ của họ ở thôn Xuân Ninh khi chị Mão sinh con trai đầu Lê Hữu Tiệp. “Đời tôi may mắn nhất là gặp được vợ tôi đây”, ông Lê Hữu Trạc cầm lấy tay vợ nói vậy. Từ một cô gái mới lớn về đất lạ quê chồng, chồng lại bị mù cả 2 mắt, Kim Thị Mão đã tập cuốc, tập cày để nuôi chồng, nuôi con.

Thương vợ, nên hằng ngày thương binh Lê Hữu Trạc cố gắng làm những việc có thể đỡ đần vợ, không còn mắt thì anh “nhìn ánh sáng bằng tay”.

Phẩm chất người lính luôn cần cù, vượt khó đã giúp anh vượt qua từng cơn dông bão của cuộc đời. Hai vợ chồng họ lần lượt có thêm con gái Lê Thị Ngọc Tú, con trai Lê Hữu Chính.

Thấu hiểu nỗi vất vả của mẹ cha, các con của ông bà đều cần mẫn làm việc và vượt khó học hành. Để rồi người trồng cây sẽ có ngày hái quả, nay cả 3 đứa con của ông bà Lê Hữu Trạc, Kim Thị Mão đều đã trưởng thành, có công ăn việc làm ổn định.

Hằng đêm ông Lê Hữu Trạc luôn tự nhủ mình “thương binh tàn nhưng không phế”, năm 2000 ông làm tờ trình gửi lãnh đạo tỉnh Quảng Bình thành lập Hội Người mù của tỉnh. Để rồi từ khi có Hội Người mù, hàng trăm thương binh bị mù hoặc con em thương, bệnh binh, cũng như nhiều cháu bị mù lòa đã có công ăn việc làm, tự nuôi sống bản thân mình.

Năm nay đã bước qua tuổi 70, với 50 năm tuổi Đảng, hằng ngày cựu binh Lê Hữu Trạc vẫn tìm cách đến động viên con em nhiều gia đình nghèo trong xóm, ngoài thôn cố gắng tu chí học hành. Ông vẫn kể chuyện về đảo Cồn Cỏ, về những người đồng đội với thế hệ trẻ, xem đó như mạch nước ngầm đầy chất nhân văn về truyền thống yêu nước của dân tộc nối dài qua từng thế hệ.

Dương Sông Lam

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.