Giải Nobel nhuốm máu

Chẳng mấy khi việc tuyên bố trao một giải Nobel truyền thống nào đó gây ra những tranh cãi dữ dội. Giới nghiên cứu khoa học không thích ầm ĩ. Họ thường chú tâm vào công việc của mình hơn là để ý đến các danh hiệu.

Thế nhưng, ngay từ đầu thế kỷ XX, đã từng có một phát minh khiến chính các nhà khoa học phải "đứng bật dậy để phản đối".

Bắt đầu là lòng ái quốc

Fritz Haber, bản thân ông, cũng chẳng hề quan tâm đến giải thưởng ấy. Vào ngày 13-11-1919, khi Ủy ban Nobel công bố tên ông là chủ nhân của Nobel Hóa học năm 1918, Haber còn đang bận tâm đến những việc khác. Theo lời kể của một người bạn, ông "đã chết đến 75% cơ thể" kể từ một năm trước đó, khi nước Đức - Tổ quốc của ông - chấp nhận ký hiệp định đầu hàng tại Versaille, kết thúc Đại chiến Thế giới lần thứ nhất.

Và bởi vì phải chứng kiến đất nước mình oằn lưng dưới những gánh nặng bồi thường chiến phí cùng những điều khoản nhục nhã và ngặt nghèo dành cho kẻ bại trận, Haber lao mình vào nghiên cứu một quy trình hóa học mới, nhằm tách vàng từ nước biển.

Ông thậm chí đã kịp gây quỹ để đóng một chiếc tàu nhỏ phục vụ mục đích thí nghiệm. Song, lượng vàng thu được từ nước biển cũng quá hạn chế, không đủ bù đắp chi phí. Năm 1928, Fritz Haber đành từ bỏ con đường ấy. Để rồi, vĩnh viễn, người ta chỉ nhớ đến ông như là cha đẻ của một phát minh ghê rợn, một thứ vũ khí giết người hàng loạt: Hơi độc.

Có điều, nhiều người gần gũi Haber tin rằng: Nếu được làm lại từ đầu, ông vẫn sẽ cống hiến cho quân đội Đức thứ vũ khí kinh khủng đó, phát minh tàn bạo đó. Không phải vì bản chất ông là kẻ tàn bạo, mà vì cách hiểu về nghĩa vụ đối với đất nước của ông là như thế - một thứ tư tưởng thấm đẫm tinh thần sắt máu và trung thành cổ điển của các hiệp sĩ Teuton hay quân nhân Phổ.

Một lòng trung thành mù quáng với đất nước.
Một lòng trung thành mù quáng với đất nước.

Năm 1914, gần như ngay sau khi nước Đức dấn thân vào Đệ nhất Thế chiến, Haber đã tình nguyện xin phục vụ quân đội, với tư cách là một khoa học gia. Ông được đích thân Hoàng đế (Kaiser) Wilhelm II phong quân hàm Đại úy. Đầu tiên, ông cống hiến cho quân đội Đức một công trình nghiên cứu mà nhờ nó, họ có thể sản xuất được một trữ lượng ổn định và dồi dào những thứ thuốc súng, đạn pháo và các chất nổ cực mạnh, dựa trên nền tảng nghiên cứu sâu về khí nitơ.

Thế rồi, Đệ nhất Thế chiến tiếp diễn ở mặt trận phía Tây với sự bế tắc của loại hình "chiến tranh hào lũy". Haber, luôn ở rất gần mặt trận, cảm nhận được rằng cần phải tạo ra được một thứ vũ khí đánh thẳng vào tinh thần kẻ địch. Một thứ vũ khí gây nên những nỗi kinh hoàng ghê gớm, nhằm mở các đột phá khẩu, xua quân địch ra khỏi chiến hào, bắt họ trở nên rối loạn, tạo điều kiện thuận lợi cho những đợt tổng công kích quan trọng. Ông khuyến cáo tướng lĩnh Đức nên dùng hơi độc.

Ban đầu, giới sĩ quan Đức khá dè dặt đối với gợi ý của Fritz Haber. Thay vì sử dụng một lượng hơi độc đủ lớn, họ chỉ cho phép tấn công một cách dò dẫm và mang tính thử nghiệm. Có lẽ, sâu thẳm bên trong, những quân nhân chuyên nghiệp đó không muốn nghe lời một "tay dân sự". Và thế là đáng lẽ có thể lập tức trở thành lợi thế, cách quân Đức sử dụng hơi độc "nhẹ nhàng" theo kiểu ấy lại chỉ khơi lên một tinh thần ganh đua từ phía quân Pháp, để rồi hơi độc tạo ra thêm cho cuộc chiến đẫm máu đó một khía cạnh tàn khốc mới (cũng là cho cả toàn bộ lịch sử chiến tranh).

Một thiên tài của địa ngục.
Một thiên tài của địa ngục.

Cuộc đời bi kịch

Haber và các cộng sự, lúc đầu, sử dụng hơi độc có thành phần chủ đạo là Clo. Nó gây ra sự mù mắt nhất thời, sự đốt nóng trong phế quản, những cơn ho bất tận, sự ngạt thở… và dĩ nhiên, cả cái chết cho quân địch. Thế nhưng, đến năm thứ hai của cuộc chiến, Haber đã kịp tiến thêm một bước.

Sử dụng thêm một hợp chất (phot-gen), thay cho mùi vị cay nồng của Clo, hơi độc mới có mùi thơm dịu như cỏ mới cắt. Nó dễ dàng khiến các binh sĩ Pháp hít thật sâu trong nỗi nhớ nhà, và rồi cảm nhận được cơn chết lịm khi acid hydrocloric đột ngột cuộn lên trong phổi.

Kế đó, Haber nghiên cứu thành công thêm hợp chất clopicrin, nhằm tấn công dữ dội và vô hiệu hóa các mặt nạ phòng độc đã lỗi thời của quân Pháp. Nó tạo nên cảm giác buồn nôn, khiến đối thủ phải nhanh chóng tháo mặt nạ, và hứng trọn những làn khí độc.

Cuối năm 1916, khoa học quân sự Pháp cải tiến được mặt nạ phòng độc để chống chọi với clopicrin, thì Haber lại xuất xưởng diclorodietyl sunfit - thường được gọi là "khí mù-tạc". Ở nồng độ cao, nó gây bỏng cấp hai trên bất cứ bộ phận cơ thể nào tiếp xúc. Các binh sĩ hít phải hơi độc này sẽ chết đau đớn, trong mùi tử đinh hương dịu dàng và sự phân hủy các mô tế bào. Thậm chí, sau nhiều ngày sử dụng, các bãi chiến trường vẫn còn dính dấp thứ chất lỏng được phun ra như khí này.

Ở nhiều khía cạnh, Fritz Haber có thể xem là cha đẻ của vũ khí hóa học hiện đại.
Ở nhiều khía cạnh, Fritz Haber có thể xem là cha đẻ của vũ khí hóa học hiện đại.

Đến thời điểm đó, Haber đã bắt đầu tự sợ hãi những phát minh của mình. Ông khuyên giới tướng lĩnh Đức nên sử dụng nó hạn chế, bởi rất có thể các khoa học gia của phe Đồng minh sẽ đáp trả bằng những phát kiến khủng khiếp mới. Một lần nữa, ông không được lắng nghe. Một lần nữa, chiến tranh lại kéo dài thêm, và quả thật, quân địch lại đáp trả, với khả năng vượt trội.

Haber không thể dừng cuộc chạy đua kinh hoàng mà chính ông bắt đầu. Ông luôn phải ở gần mặt trận, quan sát hiệu quả các phát minh của mình để làm nó trở nên hiệu quả hơn nữa (trong việc giết người). Vợ ông, nhà nữ hóa học gia xinh đẹp Clara Immerwahr, từng khuyên ông dừng lại. Nhưng, Haber đáp rằng ông không thể làm thế, vì ông là một người Đức trung thành với đất nước. Và ngày 2-5-1915, Clara tự sát. Bằng khẩu súng của chính chồng mình, trong vườn nhà.

Chính vì thế, chẳng có gì khó hiểu khi bốn năm sau, cả giới khoa học gay gắt phản đối việc trao Nobel Hóa học cho công trình nghiên cứu khí Nitơ của Fritz Haber. Thậm chí, có không ít khoa học gia tuyên bố họ sẵn sàng từ bỏ giải thưởng của chính mình, bởi không muốn danh tiếng bị hoen ố khi đứng nhận giải chung với một công trình giết người.

Haber, như đã nói, không quan tâm. Ông bận đi đến Argentina, Mỹ hay Nhật Bản, tự cho phép mình nói thay nước Đức trong vai trò một đại sứ hòa bình tự phong, rằng: "Chúng tôi tin, về lâu về dài, mỗi quốc gia đều có thể giúp đỡ các quốc gia khác cũng như chính mình, qua việc học cách hiểu rõ về suy nghĩ và cảm giác của nhau".

Có điều, thứ tư tưởng ấy đối nghịch với thứ tư tưởng đã dẫn lối cho Haber đến với thành tựu hóa học của cả sự nghiệp, và cũng đối nghịch với cả tâm trạng chung của gần như toàn xã hội Đức - xã hội nung nấu chí phục thù dưới sự khắc nghiệt của các điều khoản dành cho một thất bại (thất bại ấy, rất nhiều tầng lớp trong xã hội Đức đổ tại giới chính khách ở Berlin "đâm sau lưng chiến sĩ", khi quân đội Đức vẫn còn tiềm lực khá hùng hậu).

Và rồi Adolf Hitler lên nắm quyền. Là một người gốc Do Thái, Fritz Haber bị chế độ mới tước đoạt mọi vinh quang, kể cả khi đã chấp nhận từ bỏ Do Thái giáo. Haber từ chức Viện trưởng Viện Kaiser Wilhelm - cơ sở nghiên cứu khoa học hàng đầu nước Đức, chuyển đến Luân Đôn. Ông mất ở đó, ngày 29-1-1934, sau một cơn đau tim, tránh được việc chứng kiến Đệ nhị Thế chiến bắt đầu - cuộc chiến tàn khốc gấp bội so với Đệ nhất Thế chiến.

Ông gần như bị lãng quên trong dòng lịch sử nhân loại. Nhưng, bất cứ ai biết đến thân thế của Fritz Haber hẳn cũng đều tự vấn: Chúng ta cần phải yêu nước như thế nào?

* Phát minh của Fritz Haber, thuần túy về mặt khoa học, thực sự là một cột mốc đánh dấu phương pháp sản xuất vô số sản phẩm hóa học từ việc chiết xuất khí nitơ trong không khí, từ đó đóng vai trò nền tảng cho các ngành chế biến thuốc nổ, phân bón, nguyên liệu công nghiệp… mà không phải dùng đến quặng mỏ tự nhiên. Đơn cử, trước Haber, các nhà sản xuất phân bón phải nhập khẩu chất natri nitrat từ Chile, với chi phí khá lớn. Nhưng nhờ Haber, nhân loại có được phân bón giá rẻ. Vào thời điểm đầu thế kỷ XX, đó là một thành tựu to lớn đối với nhân loại.

* Thực tế, không phải Đức, quân đội Pháp mới là phía sử dụng hơi độc đầu tiên trong Đệ nhất Thế chiến. Ngay tháng 8-1914, họ đã phóng về phía nước Đức những quả lựu đạn nạp hơi cay. Nhưng, Haber thực sự là người đầu tiên nhận thức được giá trị chiến lược của thứ vũ khí giết người kinh khủng ấy, khi sử dụng với khối lượng lớn.

Phi Hồ

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.