Diễn giải văn chương Việt từ bên kia chân trời

Những năm gần đây, bên cạnh nhiều sáng tác của các nhà văn Việt Nam ở nước ngoài, viết bằng tiếng Việt hoặc ngoại ngữ, được in, dịch và xuất bản trong nước, cũng đã có một số công trình nghiên cứu phê bình chung đường đi tương tự. 

Bài viết này, bằng việc đọc lại ba trường hợp Đặng Tiến, Bùi Vĩnh Phúc và Đoàn Cầm Thi, bước đầu phác họa xem, ở phía bên kia chân trời, văn chương tiếng Việt đang được diễn giải theo cách nào?

1. Bắt đầu từ chủ nghĩa hình thức (formalism), nghiên cứu văn học đã có xu hướng tách biệt thành một khoa học độc lập. Chống lại các ràng buộc và tín niệm huyền thoại về tác giả, chủ nghĩa hình thức đưa tác phẩm lên ngôi, coi nó là đối tượng trung tâm của nghiên cứu. 

Ở tác phẩm, tính văn chương (literariness) lại được đặt lên vị trí hàng đầu dưới bệ đỡ của những thủ pháp và kĩ thuật lạ hóa. Mỗi thể loại ôm ấp một hoặc nhiều thủ pháp khác nhau, từ đó, xuất hiện các hình thức, các thế giới nghệ thuật khác nhau. 

Để đi sâu vào thế giới nghệ thuật đó, nhà phê bình phải nghiên cứu đặc trưng ngôn từ của nghệ thuật, nhìn thấy tính tự trị khép kín của tác phẩm qua hệ thống những luật lệ tổ chức nên nó.

Trong Thơ, thi pháp và chân dung (NXB Phụ nữ, 2009), khi nói về Roman Jakobson và thi pháp, Đặng Tiến cho rằng “thơ trở thành khu điền dã, địa hạt thí nghiệm, thực tập cho khoa thi pháp, truy lùng tận gốc rễ chức năng thẩm mĩ của ngôn từ”. 

Quan niệm này thể hiện quá trình tiếp nhận thi pháp R. Jakobson mà chính Đặng Tiến từng nhấn mạnh vào hai điểm: Một, thi pháp học không chỉ nghiên cứu về bộ môn thi ca như nhiều người tưởng, mà hướng tới một đối tượng rộng lớn hơn: tính cách thẩm mĩ của ngôn ngữ. Thứ hai, riêng về thơ, chức năng thẩm mĩ chồng lên chức năng thông tin để tăng sức thuyết phục và hấp dẫn cho thông tin nhưng tính thẩm mĩ, tự thân nó, là một chức năng độc lập. 

Quan sát quá trình phê bình thi pháp thơ của Đặng Tiến, có thể thấy một ý thức nhất quán: ông nhấn mạnh tính cách thẩm mĩ của ngôn ngữ qua nhạc điệu và hình ảnh.

Chẳng hạn, viết về tập Mưa nguồn của Bùi Giáng, Đặng Tiến quy các điểm cơ bản và mạnh nhất mà thơ Bùi Giáng có được là “đã khởi đi từ nhiều hình ảnh thắm tươi, điệu thơ ánh ỏi”, “nhịp thơ nhanh, âm điệu khỏe, hình ảnh rộn ràng, một điệu thơ hiếm có”. 

Viết về Huy Cận, Đặng Tiến nhấn mạnh “giọng lừng khừng triết lí rạo ra cảm giác ưu tư” trong một phong cách “có uyển chuyển theo từng giai đoạn, nhưng trước sau vẫn nhất khí”. Không chỉ tìm kiếm nhạc điệu, hình ảnh trong thơ, thao tác truy tìm tính văn chương của Đặng Tiến còn thể hiện rõ đối với văn xuôi.

Đặng Tiến phát hiện chất thơ trên trang văn Nguyễn Tuân là âm thanh và hình ảnh, khi thì “nhịp câu văn, những âm vận luyến láy”, khi thì “âm hưởng một câu đồng dao”, “âm điệu những câu tục ngữ, ca dao quen thuộc”…

Đọc phê bình thi pháp thơ của Đặng Tiến, nhận thấy ông có cốt cách của một “ông đồ Tây” bình văn. Ông ưa lối viết trò chuyện, dẫn dắt, tâm tình, tự do liên tưởng. Ông tự nhận “coi như vì tham chữ mà rách chuyện” nên hay thả lỏng ý nghĩ của mình, không hẳn hướng về một đối tượng nghiên cứu duy nhất, để tạt ngang và thổ lộ cách nghĩ về cuộc đời, thế sự. 

Đặc biệt, Đặng Tiến là người sành và sính chơi chữ. Nên bản thân mỗi bài viết, dù theo góc nhìn chân dung hay phong cách, Đặng Tiến cũng đều tìm được ý tứ thật riêng, như loạt bài về Tản Đà, Văn Cao, Quang Dũng, Lê Đạt, Đinh Hùng… 

Có thể nói, trong suốt hơn ba thập niên cầm bút phê bình, Đặng Tiến duy trì bận tâm cao độ đến ngôn ngữ nghệ thuật, khiến có khi ông được coi là nhà phê bình duy mĩ mà lối thẩm bình của ông như thể sóng sánh giữa lí thuyết và trực cảm, giữa ấn tượng và khoa học.

2. Khuynh hướng phê bình thi pháp tựu thành ở chuyên luận Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật (NXB Văn hóa Sài Gòn, 2008; NXB Trẻ tái bản 2011) của Bùi Vĩnh Phúc, một cuốn sách có sự tuyên bố rạch ròi, thậm chí là thô cứng về phương pháp, mục đích, tình cảm riêng tư khi viết về người nhạc sĩ tài hoa. 

Lần đầu tiên, không gian thời gian nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn được khảo sát và phân tích khá tường tận: Nếu thời gian phai tàn, thời gian tiếc nuối là sự ý thức về bước đi thời gian, sự hữu hạn kiếp sống thì thời gian trông ngóng, hướng vọng thiên thu là giấc mơ tạo dựng nơi chốn hạnh phúc, vĩnh hằng cho trần gian ngắn ngủi, thân phận mong manh.

Là những sáng tạo chủ quan, cả thời gian - không gian nghệ thuật đều ít nhiều gắn liền với biểu tượng và nhờ nó để chuyên chở các sắc thái tâm cảm của người nghệ sĩ. Vận dụng điều này, Bùi Vĩnh Phúc liệt kê ra hệ thống biểu tượng: mưa, nắng, mây, mặt trời, mặt trăng… tạo nên mạch sống miên viễn trong nhạc ngữ Trịnh Công Sơn.

Mô hình phân tích của Bùi Vĩnh Phúc làm bật nổi giá trị nghệ thuật của ca từ Trịnh Công Sơn. Cuộc hôn phối của chữ nghĩa, của hình ảnh, như sự ví von của Bùi Vĩnh Phúc, được thực hiện bằng những biện pháp tu từ và Trịnh Công Sơn “là một trong ít người tài hoa đã thực hiện một cách tốt đẹp và ban phép lành cho những cuộc hôn phối này”. 

Nhà phê bình gọi đó là những phép lạ ngôn ngữ, một thao tác thổi hồn và tâm linh cho sự vật quen thuộc, từ nhân hóa, so sánh đến ẩn dụ, hoán dụ… Nhờ phân tích này, người đọc có thể hình dung ca từ Trịnh Công Sơn chịu ảnh hưởng và là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện đại, nơi các tìm tòi về cách viết/kĩ thuật viết luôn được tán dương và gây nên quyến rũ.

Tuy thế, nhìn chung, phê bình thi pháp của Đặng Tiến lẫn Bùi Vĩnh Phúc chỉ tập trung vào khuynh hướng nghệ thuật mơ hồ, đa nghĩa. Đặng Tiến chỉ viết hay về thơ “dòng nghĩa”, hoặc nằm trên ranh giới dòng nghĩa - dòng chữ. Còn lại, dường như ông ít thành công với thơ “dòng chữ” đích thực. 

Cũng vậy, Bùi Vĩnh Phúc chỉ khai thác sâu những tình khúc Trịnh Công Sơn vốn là thi - ca hợp nhất, phồn vinh tính cách thẩm mĩ, mà khó bày tỏ cảm xúc trước gia tài ca khúc phản chiến vốn được xây dựng từ, theo tôi, những cấu trúc tự sự và “tính truyện” đậm đà.

3. Đọc “tôi” bên bến lạ (NXB Hội nhà văn, 2016) không phải là tập hợp đầy đủ những tiểu luận của Đoàn Cầm Thi nhưng lại gói gọn sở trường tiếp cận, diễn giải văn bản của nhà nghiên cứu này. Khoái cảm văn bản, theo cách nói của R. Barthes, được Đoàn Cầm Thi dò thấu trong ngôn từ, cấu trúc, âm nhạc, tiết tấu không chỉ ở tiểu thuyết mà còn ở thơ ca. 

Cách tân tiểu thuyết, theo phân tích của Đoàn Cầm Thi, chủ yếu tập trung vào cấu trúc, lối viết. Chẳng hạn, với Nỗi buồn chiến tranh, là sự giằng co giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, qua thân phận của một bản thảo tự hủy; với Người đi vắng là “một hợp âm với vô vàn đối thoại, độc thoại, mà người đọc không phân biệt được ai là kẻ phát ngôn”; với Phố Tàu, khi dùng thủ pháp truyện lồng trong truyện, đã dẫn đến sự hé lộ tính phức tạp của sáng tạo nghệ thuật, một công việc được thực hiện trong thế cân bằng hết sức mong manh giữa vô thức và ý thức, giữa tính ngẫu hứng và yêu cầu kỉ luật; với Thoạt kì thủy, là cuộc phiêu lưu trong vô thức…

Soi chiếu các góc cạnh của lối viết, thực chất, là phát hiện những cá tính nghệ thuật độc đáo. Việc Đoàn Cầm Thi đọc kĩ những trường hợp từng gây tranh cãi như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Thuận,… là cách mở ra sự phức tạp cần thiết trong nghiên cứu văn chương. Không thể đơn giản hóa, co rút vào một vài định tính, định lượng, càng khó chấp nhận một kết luận duy nhất về giá trị văn chương. 

Trong hình dung của tôi, Đoàn Cầm Thi muốn tạo dựng cách đọc riêng mà ở đó, phần thử thách tiếp nhận đối với độc giả không phải ở tri thức văn học sử hay lí thuyết phê bình phương Tây, mà nằm trong khả năng “lật ngược” cái nhìn quen thuộc, sáo mòn. 

Bởi vậy, cuốn sách của Đoàn Cầm Thi, bất chấp đôi chỗ lí giải “quá nhanh quá nguy hiểm”, vẫn đủ sức khía vào những điểm yếu trong tập tính phê bình văn chương hiện nay: lan man, đại khái và thường xuyên không có bất kì ý tưởng nào mới. 

Phê bình không chịu đối mặt với những cái tôi lớn mà lại khoan nhượng với sự cạn kiệt sáng tạo thì tất yếu rơi vào nhạt nhẽo, xoàng xĩnh. Các quan sát và phân tích về nhân vật nữ của Đoàn Cầm Thi, với tôi, hết sức thú vị, bởi nó cho thấy ý thức nữ quyền không phải đợi đến các nhà văn truyền cảm hứng, mà đã và phải bắt đầu từ người đọc, từ nhà phê bình.

4. Điểm vang động sâu xa trong phê bình của ba tác giả trên, có lẽ, là thái độ trân trọng văn chương tiếng Việt, nền văn chương giờ đây phải chịu áp lực rất lớn từ thị trường văn học dịch. Đặc biệt, bởi nhãn quan phương Đông và cội nguồn văn hóa của mình, tư duy phê bình của họ là tư duy liên tài, tri âm các nỗ lực nghệ thuật dù nhỏ nhoi. 

Ít ra, nó giúp văn bản phê bình tránh được sự hời hợt và thời thượng khi đánh giá, nhận xét. Và ở chiều ngược lại, kiểu tư duy ấy gây hứng thú rằng văn chương tiếng Việt vẫn không đến mức lép vế nếu biết cách đọc đúng và sâu.

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Chương trình Lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng tháng 5/2026 thu hút hàng nghìn người đổ về

Một concert, vạn dịch vụ hưởng lợi

Du lịch âm nhạc tạo ra một nguồn thu lớn khi thu hút lượng lớn người xem, kèm theo hàng loạt các dịch vụ khác như lưu trú, ăn uống, mua sắm. Đây cũng là lý do nhiều địa phương bắt đầu xem các đại nhạc hội như một công cụ phát triển kinh tế, tương tự cách họ từng làm với các lễ hội văn hóa truyền thống.

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Khi danh sách các đội tuyển dự World Cup 2026 được gửi tới FIFA, một thống kê đã làm sáng tỏ vị thế độc tôn của bóng đá Pháp: Với 99 cầu thủ sinh ra tại Pháp - chiếm gần 8% tổng số nhân sự dự giải, vượt xa Hà Lan (67 người) và Đức (50 người) để trở thành nước xuất khẩu cầu thủ nhiều nhất thế giới.

Thanh kiếm quyền lực

Thanh kiếm quyền lực

Trong các câu chuyện về kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công ở nước ta năm 1945, hầu như không thể thiếu đề tài: Đại diện chính quyền cách mạng tiếp nhận ấn, kiếm và chứng kiến Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị.

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Sau bốn suất diễn tại Nhà hát Hồ Gươm, vở vũ kịch “Khổng Tước - The Peacock Hanoi 2026” đã khép lại hành trình tại Hà Nội, để lại nhiều dư âm sâu sắc trong lòng khán giả. Không chỉ gây ấn tượng bởi ngôn ngữ múa tinh tế và không gian sân khấu giàu tính nghệ thuật, vở diễn  tạo nên những rung động mạnh mẽ với người xem.

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Một đoạn clip tranh cãi tưởng chừng chỉ là va chạm cá nhân lại nhanh chóng bộc lộ phía sau nó những vấn đề lớn hơn, đáng để người ta phải suy ngẫm, đó là cách ứng xử của người nổi tiếng trong cuộc sống đời thường, đó là văn hóa kinh doanh, coi khách hàng là "ông nội", sẵn sàng cho người lao động nghỉ việc, khi áp dụng bộ quy tắc cứng nhắc.

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Khi thế giới nói về biến đổi khí hậu, Amazon thường được nhắc đến như “lá phổi của Trái đất”. Nhưng ở phía bên kia Đại Tây Dương, rừng mưa Congo - khu rừng nhiệt đới lớn thứ hai thế giới - đang âm thầm gánh vác vai trò không kém phần sống còn đối với khí hậu hành tinh, trong khi sự quan tâm, nguồn lực và cam kết bảo vệ lại quá ít ỏi.

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Trà Shan tuyết cổ thụ mọc trên những ngọn núi cao, trải dài từ Đông Bắc qua Tây Bắc. Mỗi vùng thổ nhưỡng khác biệt, hương vị trà cũng vì thế mà có nhiều biến đổi. Trà từ phía Đông như Quản Bạ, Tây Côn Lĩnh, Hoàng Su Phì của Hà Giang thiên về vị ngọt, chuyển qua cực Tây với Tủa Chùa của Điện Biên sẽ nồng nàn đắng chát, trục giữa có vùng trà cổ thụ ở Tà Xùa (Sơn La), lại mang sự cân bằng hoàn hảo ở cả hương - vị trong nội chất trà.

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Băng đang tan nhanh hơn và Bắc Cực cũng “hiện ra” rõ hơn trong vị thế một trung tâm mới của cạnh tranh địa chính trị, nơi các cường quốc vừa ra sức tìm kiếm lợi ích kinh tế - an ninh cho riêng mình, vừa buộc phải hợp tác để bảo vệ một trong những “điểm tựa khí hậu” mong manh nhất của Trái đất.

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Sau hơn 13 năm xung đột, con số cần để tái thiết một Syria đổ nát, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), có thể là 216 tỷ USD, hoặc lớn hơn rất nhiều. Nhưng với Syria, thách thức chính trị, kinh tế và an ninh đan xen chặt chẽ, và thành công của tiến trình chuyển tiếp sẽ phụ thuộc vào việc nước này có thể xây dựng được thể chế bao trùm, có tính chính danh, đồng thời ngăn chặn nguy cơ lún vào vòng xoáy bạo lực và chủ nghĩa chuyên chế hay không.

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đang rất lúng túng trước làn sóng tội phạm tài chính gia tăng nhanh chóng. Tình trạng nghiêm trọng đến mức Hiệp hội Thẩm phán nước này mới đây phải lên tiếng cảnh báo, nếu không sớm có hành động hiệu quả, Đức sẽ trở thành “thiên đường cho tiền bẩn”.

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Greenland nhiều lần xuất hiện trong tầm ngắm chiến lược của Washington, từ những ý tưởng trao đổi lãnh thổ thời hậu Nội chiến Mỹ cho tới các toan tính địa chính trị công khai dưới thời Tổng thống Donald Trump. Ẩn sau lớp băng dày của hòn đảo là tiềm năng quân sự, nguồn tài nguyên khổng lồ và những tuyến hàng hải mới đang dần lộ diện. Nhưng cũng tại đó, tham vọng của Mỹ “va chạm” với giới hạn của tình đồng minh phương Tây, luật pháp quốc tế và của một Bắc Cực đang biến đổi nhanh hơn mọi tính toán chiến lược.

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Trong Truyện Kiều, vì ghen nên Hoạn Thư mắng Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào về từ lộn trong ngữ cảnh này?

Phỏng vấn một cái chén

Phỏng vấn một cái chén

PV: Sống cùng chị Chén quá nửa đời mà chưa được phỏng vấn chị lần nào. Xin chị giới thiệu bản thân với độc giả ngắn gọn nhất có thể!

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Mùa thu năm Nhâm Thìn 1832, miền Bắc bị lũ lụt, mùa màng thất thu, dân nghèo xiêu tán, nhiều người dân tỉnh Hà Nội phải xiêu dạt kiếm ăn vào Thanh Hóa hay ra Hải Dương, Yên Quảng. Triều đình Vua Minh Mạng đã tiến hành nhiều biện pháp cứu trợ.

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Sau hơn một thập kỷ kể từ khi cựu lãnh đạo Muammar Gaddafi bị lật đổ năm 2011, Libya vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chia cắt chính trị và bất ổn kéo dài. Quốc gia Bắc Phi này hiện tồn tại song song hai chính quyền đối lập, một là Chính phủ Đoàn kết Dân tộc (GNU) được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, có trụ sở tại Tripoli, và Chính phủ Ổn định Quốc gia (GNS) ở miền Đông, gắn với Hạ viện Libya đặt tại Tobruk.

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Gần cuối tháng 12/2023 và đầu tháng 11/2025, vì một sự may mắn nào đó, sóng biển đã hai lần làm lộ diện một phần lớn tàu cổ Cẩm An tại khu vực biển Thịnh Mỹ, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nhưng sự may mắn ấy chưa được cấp thẩm quyền chớp lấy bởi đang vấp phải sự lừng khừng từ nhiều phía. Nếu không chủ động nắm bắt cơ hội do sóng biển hung dữ mang lại, một ngày không xa, tàu cổ Cẩm An mang chứa trong mình nhiều điều bí ẩn về lịch sử, văn hóa… sẽ lại bị nhấn chìm dưới đáy biển.

"Nhảy dù" giữa thời bình

"Nhảy dù" giữa thời bình

Trong các lực lượng tinh nhuệ thì lực lượng nhảy dù là đứng đầu. Tiền tuyến hậu phương sẽ mơ hồ bởi lính dù luôn xuất hiện sau lưng đối phương. Lính dù phải khỏe như hổ, nhanh như sóc, gan đầy mình, thần kinh thép, trí dũng song toàn… Tiêu chuẩn tuyển chọn rất cao.

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Sau bao năm đối diện với không ít khó khăn, thử thách, thậm chí đôi lúc suýt rơi vào nguy cơ bị "khai tử" bởi dự án xây dựng hạ tầng giao thông, đô thị, đến nay di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (Hà Nội) đã chính thức được định danh là di tích cấp thành phố, mở ra nhiều hướng tiếp cận mới từ góc độ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản.

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Nếu họa sĩ Nguyễn Thế Sơn kể chuyện Hà Nội bằng nhiếp ảnh phù điêu thì kiến trúc sư Trần Huy Ánh tiếp cận thành phố bằng trực giác của người “khảo cổ” đô thị. Cuộc đối thoại về những ký ức đô thị trong triển lãm “Những ngã rẽ” đang diễn ra ở ngôi biệt thự Pháp cổ ở Hà Nội gợi mở nhiều suy tư về hồn cốt của đô thị, về di sản trong cơn lốc đô thị hóa hiện nay.