Cơn sốt khi đang lạc lối về

"Văn chương hậu chiến" là khái niệm cần được hiểu theo hai tầng bậc nghĩa: Thứ nhất, nó chỉ những tác phẩm được viết ra sau khi một cuộc chiến tranh chấm dứt. Thứ hai, những tác phẩm ấy viết về cuộc sống và con người sau chiến tranh, nhưng là thứ cuộc sống và con người dường như đã bị cái bóng ma của cuộc chiến trùm phủ, cách này hay cách khác, và không sao dứt ra thoát ra được.

Theo cả hai nghĩa ấy, nhìn gần, ta thấy một nền văn chương hậu chiến tranh Việt Nam (1945 - 1975) với những cái tên tác giả, tác phẩm nổi bật: Nguyễn Minh Châu với "Cỏ lau", "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành", "Mùa trái cóc ở miền Nam", Chu Lai với "Nắng đồng bằng", "Ăn mày dĩ vãng", Bảo Ninh với "Nỗi buồn chiến tranh", Võ Thị Hảo với "Người sót lại của rừng cười", Phạm Ngọc Tiến với "Tàn đen đốm đỏ" v.v…, cùng hàng loạt trường ca như những khúc dội của chiến tranh được viết trong khoảng thời gian 1980 - 1990. 

Và nhìn xa, ta thấy những nền văn chương hậu chiến tranh thế giới thứ II (1939 - 1945, năm 2020 này là tròn 75 năm nó chấm dứt), ở Mỹ và các nước châu Âu, những nền văn chương hợp thành một khối giá trị khổng lồ trong lịch sử văn chương nhân loại, những nền văn chương nói với ta rằng người ta có thể sống hoặc chết đi như thế nào khi cuộc chiến tranh vô cùng khủng khiếp ấy đã tận. Đã khổng lồ thì không ai và không có cách nào ôm xuể. Nên tôi đành phải tạm bằng lòng với việc "gẩy" ra, đọc vài dịch phẩm mới được xuất bản gần đây.

Ảnh: L.G .
Ảnh: L.G .

Trước hết, là tiểu thuyết "Lạc lối về" (Huỳnh Phan Anh dịch, Phanbook & NXB Văn hóa-Văn nghệ, 2018) của nhà văn người Đức Heinrich Boll (1917 - 1985), chủ nhân của Nobel văn chương năm 1972. Heinrich Boll viết và công bố tác phẩm này khoảng vài năm sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc. 

Ở đó, như nhận định của dịch giả Huỳnh Phan Anh: "Từ thân phận của một cá nhân, từ một kinh nghiệm lịch sử dù sao hãy còn mang nặng tính cách đặc thù, Heinrich Boll đã vẽ lên bộ mặt hiện thực nhất của chính con người thời đại này. Một bộ mặt thảm thương tan nát nhất của một thời đại phi nhân trong đó bi kịch ngày một đạt tới cao độ của nó" (Không gian và khoảnh khắc văn chương, NXB Hội Nhà văn, 1999, tr437, 438)

. Có thể nói, cái bi kịch trong "Lạc lối về" không phải là bi kịch của sự phải chết trong chiến tranh, mà là bi kịch của sự phải sống sau chiến tranh. Heinrich Boll không đẩy nhân vật chính của mình, Fred Bogner, chìm vào vũng lầy của nỗi ám ảnh về cuộc chiến đã đi qua, vùng vẫy trong những cơn mê sảng bom đạn, những giấc mơ đầy chết chóc kinh hoàng - như nhân vật Kiên trong "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh, nhà văn Việt Nam sau này - mà ông để Fred Bogner phải lê lết buồn bã trong cái khung cảnh của một thành phố xám xịt, đổ nát, rách rưới, nghèo nàn, thiếu đói… vì chiến tranh. 

Với Fred Bogner, chiến tranh chỉ thỉnh thoảng mới vọng lại như những âm thanh buồn chán mà có lần anh kể với vợ: "Ngày này qua ngày khác, ngồi tám tiếng đồng hồ liền bên máy điện thoại: Thông báo, thi hành, đặt tất cả vào công tác, giọt máu cuối cùng, mệnh lệnh, báo cáo, thanh sát, thi hành, giọt máu cuối cùng, giữ đến kỳ cùng, Fuhrer, trước hết, tránh sự lung lạc… Và những tiếng nhảm nhí nữa. Các đồn lính thì còn nói gì nữa. Anh đã ở gần ba năm trong chức vụ điện thoại viên, sự buồn chán mà anh uống ở đó, anh phải mất nhiều năm để khạc ra". Nhưng hậu chiến thì còn buồn chán gấp bội, và chính sự buồn chán ấy đã tàn phá anh đến thê thảm. 

Một kiểu tồn tại kỳ quặc đã diễn ra: Để tránh làm tổn thương vợ và các con, những người mà anh hằng yêu quý, Fred Bogner đã rời nhà để dìm mình trong men rượu và đi lang thang trên khắp các ngả đường thành phố, qua những đống gạch vụn, những ngôi nhà đổ nát, kéo lê bước chân vô định vào các quán tiệm tồi tàn, các nghĩa trang hiu quạnh… Anh vẫn làm những công việc lặt vặt để có chút tiền gửi cho vợ con hàng tháng, song vẫn sống như kẻ vô gia cư. Anh vẫn thỉnh thoảng gặp vợ mình, song không phải ở nhà, mà ở các góc phố khuất, trên các bãi hoang, trong công viên, hoặc trong các phòng trọ hạng bét, như một đôi tình nhân vụng trộm. Nhưng đó chưa phải điều tệ hại nhất. 

Điều tệ hại nhất là sau những lần gặp ấy, đến một lúc, Fred Bogner bất chợt nhìn vợ mình, Kate, như một người cách biệt và xa lạ hoàn toàn: "Nàng, người đàn bà mà tôi mới vừa gần gũi trong trọn một đêm thâu, người đàn bà mà tôi đã cưới làm vợ từ mười lăm năm nay. Tôi được dịp nhìn ngắm nàng, xem xét nỗi buồn rười rượi in sâu trên nét mặt nàng, chiêm ngưỡng vóc dáng của thân thể nàng, thân thể đêm đêm đã từng nằm bên tôi trong suốt những năm tháng dài, thân thể mà bốn tiếng đồng hồ trước đây tôi còn gần gũi chung đụng và mới tức thì đây tôi đã không nhận ra". Cái cảm thức xa lạ, thậm chí là thù nghịch ấy của Fred Bogner trước hình ảnh người vợ yêu, chỉ có thể bắt nguồn từ thái độ phủ nhận quá khứ như phủ nhận một mặc cảm tội lỗi mà Heinrich Boll, cũng như hầu hết các nhà văn Đức cùng thế hệ với ông, đều đã trải nghiệm trọn vẹn và đầy đau đớn. (Trước chiến tranh, Heinrich Boll từng tuyên bố không nhập ngũ, nhưng rồi vẫn bị bắt đi lính năm 1939, vài lần bị thương, năm 1945 ông bị quân Đồng minh bắt làm tù binh). Nó cho thấy rằng người ta đã phải khó khăn thế nào để có thể sống tiếp sau chiến tranh, để có thể chọn lựa tương lai từ một thực tại hậu chiến toàn những đổ vỡ. Không cần đến những ma thuật của truyện kể, nhưng "Lạc lối về" vẫn ám ảnh người đọc rất mạnh, là vì thế.

"Cha tôi đi tàu thủy tới Thụy Điển vào một ngày hè trời sắp đổ mưa. Chiến tranh kết thúc chưa đầy ba tuần". Đó là những câu mở đầu tiểu thuyết "Cơn sốt lúc bình minh" của Gardos Peter (Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam & NXB Lao Động, 2018). Khó nói rằng đây là tác phẩm thuộc văn chương hậu chiến. Chính xác, nó là tác phẩm thuộc văn chương viết về hậu chiến tranh thế giới thứ II, bởi vì nó ra đời rất muộn: Năm 1998, sau cái chết của cha, Gardos Peter - một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Hungary - mới được mẹ đưa cho một xấp thư mà cha mẹ ông đã trao đổi qua lại với nhau trước đó hơn nửa thế kỷ, ngay sau khi chiến tranh kết thúc. 

Từ xấp thư này, Gardos Peter đã viết thành tiểu thuyết "Cơn sốt lúc bình minh" và làm nên một cơn sốt thực sự trong làng xuất bản châu Âu năm 2015. Cuốn sách của Gardos Peter, có thể nói, lấy chất liệu chín mươi chín phần trăm "người thật việc thật", ấy là cuộc tình của cha mẹ ông và những bức thư mà hai người đã viết cho nhau suốt từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 2 năm 1946. Một phần trăm còn lại là việc của tác giả: Đặt những bức thư vào đúng chỗ của chúng trong mạch truyện, tạo khung cảnh cho các hành động mà những bức thư gợi ra, hình dung những chuyển biến tâm lý và cảm xúc của hai đấng sinh thành lúc họ mới thoát khỏi cuộc chiến và gặp nhau. 

"Cơn sốt lúc bình minh", tên tác phẩm, chỉ những cơn sốt 38,2 độ vào mỗi sáng sớm của Miklos, chàng trai 25 tuổi người Hungary vừa may mắn thoát khỏi lò thiêu của phát-xít Đức và được đưa đến điều trị trên đất Thụy Điển, với cơ thể nặng 29kg, hàm răng bị đánh rụng gần hết, hai lá phổi bị ruỗng vì bệnh lao và thời gian để sống chỉ còn sáu tháng. Miklos sắp chết, anh biết, nhưng điều đó không ngăn được tình yêu với sự sống và lòng ham sống cuồng nhiệt trong anh. Miklos đã viết thư làm quen với hàng chục cô gái Hung, những người cũng sống sót qua chiến tranh và được đưa đến Thụy Điển điều trị như anh. Lili, một trong số những cô gái ấy đã trở thành người yêu của Miklos, rồi thành vợ anh, trước tiên, từ những lá thư. 

Tình yêu kỳ lạ thời hậu chiến của hai con người trẻ tuổi khốn khổ ấy không phải không gặp những cản trở, song bằng sức mạnh vô biên của niềm tin và mơ ước, họ vẫn vượt qua để đến được với nhau và thuộc về nhau. Hãy nghe Lili trả lời bác sỹ điều trị của Miklos khi ông nói với cô rằng cái ý định kết hôn của họ là vô nghĩa và rồ dại, vì Miklos sắp phải chết: "Tôi tôn trọng trình độ chuyên môn giỏi, kinh nghiệm phong phú của bác sỹ, những thành tựu tầm thế giới của y học. Các loại dược phẩm, máy chiếu Rontgen, các máy hút đờm, ống tiêm của các vị. Tôi tôn trọng tất tật! Và tôi xin ông, hãy để chúng tôi được yên! Hãy để chúng tôi được mơ ước! Tôi cầu xin ông, hãy cho phép chúng tôi không để tâm tới khoa học! Tôi khẩn cầu ông, thưa bác sỹ trưởng, hãy để chúng tôi tự bình phục!". Họ quả thật đã "tự bình phục", vì Miklos không chết ở tuổi 25, mà mãi đến năm mươi ba năm sau ông mới chịu từ giã cõi đời. Có sự can thiệp nhiệm màu của Chúa toàn năng và giàu lòng nhân ái chăng? Không rõ. Và vì thế người duy lý đành phải tự giải thích rằng do sức trẻ, do chế độ điều trị tốt, và đặc biệt là do tác động của một đời sống tình cảm đầy những hưng phấn tích cực mà Miklos đã, một lần nữa, chiến thắng tử thần một cách ngoạn mục.

Hiệu quả ấy, phần lớn đến trực tiếp từ những bức thư mà Miklos và Lili viết và gửi cho nhau hàng ngày, thậm chí hàng giờ. Họ nói với nhau mọi chuyện: Hoàn cảnh sống hiện tại, những nhịp đập thổn thức của trái tim đang yêu, sự cuồng nhiệt với những tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, những ý nghĩ chỉ có thể thốt lên thành thơ, những dự định cho tương lai khi được trở về cố quốc v.v… (Những điều họ không nói thì đã có tác giả Gardos Peter/ người kể chuyện/ con trai của họ nói hộ, và nó thường là những ký ức khủng khiếp xảy ra trong chiến tranh. Ví dụ: "Cha tôi không nói ở trại tập trung Belsen, ông thiêu xác chết ba tháng ròng. 

Làm sao ông có thể nói về mùi thối bóp nghẹt, tắc nghẹn cổ họng bốc ra từ đống xác người? Có lời nào miêu tả nổi công việc khủng khiếp này? Làm sao có thể tả nổi những cánh tay trần trụi, vẩy mốc cứ trượt khỏi hai bàn tay ông và khô khốc rơi xuống những thân xác đã đóng băng cứng ngắc"). Những bức thư chuyên chở những-điều-nói-ra ấy đương nhiên là cái xoa dịu những-điều-không-nói-ra-được của họ, là nhịp cầu gắn kết hai con người trẻ tuổi tưởng như đã bị chiến tranh làm cho tan nát. Và hơn thế, chúng là dưỡng chất cho tình yêu và cho chính sự sinh tồn của họ, chúng chứng minh rằng con người ta có thể vượt qua sự hoang tàn của thế giới và vượt lên trên những giới hạn làm người của mình xa đến thế nào.

Những mẫu hình sống chưa từng biết đến 

 "Lạc lối về" của Heinrich Boll và "Cơn sốt lúc bình minh" của Gardos Peter, hai tiểu thuyết ra đời cách nhau hơn nửa thế kỷ, kể những câu chuyện khác nhau, nói về những cách thế sống và những số phận cuộc đời rất khác nhau của con người châu Âu sau khi chiến tranh thế giới thứ II tàn cuộc.

Nhưng có một điều trùng hợp trong sự khác biệt giữa hai tiểu thuyết này: Chúng không kể những câu chuyện mang tính phổ quát, mà đây là những câu chuyện rất cá biệt, những mẫu hình sự sống chưa từng được biết đến từ trước tới nay, như một ý về tiểu thuyết mà Milan Kundera từng đề cập. Chỉ cần thế thôi, có lẽ cũng đủ để làm nên sự đáng giá.

Nam Hoài

Các tin khác

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Các cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero), chính sách “xanh” với những mục tiêu quyết đoán cùng các tuyên bố mạnh mẽ của chính giới, làn sóng đầu tư vào năng lượng tái tạo cùng áp lực cắt giảm khí thải carbon khiến than đá, loại nhiên liệu từng là động lực cho các cuộc cách mạng công nghiệp dường như đang dần bị đẩy ra bên lề.

Nhưng trước các cú sốc địa chính trị, khủng hoảng năng lượng khi nguồn cung gián đoạn, và đặc biệt là nhu cầu điện tăng vọt do tăng trưởng kinh tế cũng như sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), than đá một lần nữa được nhắc đến như giải pháp an ninh năng lượng. Liệu thế giới có thể thực sự rời bỏ than đá? Quá trình chuyển đổi xanh trên thực tế dường như mong manh hơn nhiều so với những tuyên bố chính trị?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Một trong những bước thay đổi lớn của chiến tranh trong vòng mười năm trở lại đây là sự lên ngôi của máy bay không người lái (UAV). Những chiếc máy bay cho vào vali được mà có thể đảm nhận nhiệm vụ trinh thám, tiêu diệt mục tiêu, v.v… không kém gì các loại khí tài đắt tiền. Nhờ UAV mà các lực lượng phiến quân có thể tham gia cuộc chiến trên không chứ không còn phải chịu cảnh hoàn toàn lép vế trước quân đội chính quy. Tất nhiên là việc sử dụng drone hàng loạt cũng kéo theo hoạt động phát triển vũ khí diệt drone. Nhưng sử dụng máy bay - cả loại có và không có người lái - để tiêu diệt UAV có là giải pháp hữu hiệu?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Một cuộc chiến bí mật được cho là đang leo thang mạnh mẽ dọc theo biên giới Nam Mỹ. Theo CNN và hãng thông tấn Anadolu, ngày càng nhiều thông tin và nghi vấn cho rằng CIA đang tham gia sâu hơn vào các hoạt động nhằm vào mạng lưới băng đảng ma túy tại Mexico. Những thay đổi chiến lược trở nên rõ nét hơn khi chính quyền Mỹ nhìn nhận các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia này như những mối đe dọa an ninh có tính khủng bố, qua đó mở đường cho các hoạt động tình báo và bán quân sự tinh vi hơn trên lãnh thổ nước láng giềng.

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Sau gần 80 năm trong các kho lưu trữ mật của quân đội Mỹ, hàng trăm hồ sơ về UFO (vật thể bay không xác định) vừa lần đầu được Lầu Năm Góc công khai trước thế giới. Không có “xác người ngoài hành tinh” hay bằng chứng về những cuộc đổ bộ từ vũ trụ, nhưng các đoạn phim hồng ngoại, ghi âm và lời kể của phi công đang mở ra cuộc tranh luận lớn nhất nhiều thập niên qua về những vật thể bí ẩn mà ngay cả Washington cũng chưa thể giải thích.

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

Cuộc tấn công bằng drone vào nhà máy điện hạt nhân Barakah của UAE hôm 17/5 chỉ gây ra thiệt hại nhỏ. Nhưng dư chấn thì rất lớn, khi nó cho thấy ranh giới giữa một vụ tấn công “suýt trúng” với một thảm họa phóng xạ đang ngày càng mong manh, trong bối cảnh bất ổn địa chính trị bủa vây Trung Đông như hiện nay.

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Khi con tàu du lịch MV Hondius rời cảng Ushuaia, Argentina vào ngày 1/4/2026, không ai trên tàu có thể ngờ rằng họ sắp trở thành tâm điểm của một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu. Sau bốn tuần, ba hành khách đã tử vong, nhiều người khác nguy kịch, cuộc truy vết phức tạp được tiến hành. Ổ dịch virus Hanta trên con tàu này không chỉ là một thảm kịch đơn lẻ, nó đã trở thành phép thử mới đối với khả năng chống chịu của hệ thống y tế toàn cầu trong bối cảnh chúng ta vẫn đang loay hoay tìm kiếm sự đồng thuận để đối phó với những đại dịch mới.

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Nói về quốc phục hay cao hơn là bàn tới câu chuyện quốc phục ở nước ta có lẽ rất khó ấn định được thời điểm chính xác, bởi mỗi giai đoạn lại bùng lên rồi xẹp xuống, hòa tan trong vô vàn sự kiện, hoạt động... Những ngày gần đây, thông qua một hoạt động mang tính lễ nghi cấp Nhà nước, vấn đề cần có một bộ quốc phục, lễ phục mang tính thành quy lại xôn xao dư luận, khiến nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa trăn trở, đặt câu hỏi: “Tại sao, đến hôm nay, chúng ta vẫn còn băn khoăn đi tìm quốc phục?”.

Cây giáo trên tay vua

Cây giáo trên tay vua

Giáo là món vũ khí “kinh điển” của thời cổ đại, vì nó dễ chế tạo, dễ huấn luyện và được sử dụng rất linh hoạt. Ngoài binh lính, có những vị vua nước Việt cũng từng cầm giáo làm vũ khí, và có vị còn... ra đi vì mũi giáo.

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang âm thầm thúc đẩy sự mở rộng của nhiên liệu hóa thạch, giúp một số quốc gia gây ô nhiễm lớn nhất thế giới khoan và khai thác nhiều dầu khí hơn. Đã đến lúc cần xem xét lượng khí thải do AI tạo ra, vốn có thể vượt xa đáng kể so với tác động môi trường từ cơ sở hạ tầng của nó.

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

Thảm họa Chernobyl không chỉ khép lại bằng những con số thương vong, mà còn mở ra một bước ngoặt lớn trong tư duy về an toàn và chính sách năng lượng toàn cầu. Từ cú sốc 1986, khái niệm "văn hóa an toàn hạt nhân" được đặt lên hàng đầu, kéo theo những thay đổi sâu rộng trong thiết kế, vận hành và giám sát các nhà máy điện nguyên tử. Ngày nay, khi nhu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng, điện hạt nhân đang trở lại và đáng tin cậy hơn nhiều so với cách đây 4 thập kỷ.

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

Ngày 28/4/2026, Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về Chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch đã diễn ra tại thành phố Santa Marta của Colombia, với sự tham dự của đại diện hơn 50 quốc gia. Bức tranh rối ren của thị trường năng lượng thế giới thời gian qua cho thấy một thực tế phũ phàng là sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch đang trói buộc các quốc gia vào những biến động địa chính trị phức tạp, vốn nằm ngoài tầm kiểm soát. Trong bối cảnh đó, hội nghị tại Santa Marta đã được nhiều ý kiến ca tụng là sự kiện đánh dấu “bước khai tử” nhiên liệu hóa thạch.

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Khi những người ủng hộ ông Trump trong cuộc đua trở lại Nhà Trắng hô vang khẩu hiệu “Đưa việc làm trở lại”, họ không chỉ nói về những bảng lương đã mất, mà còn về cả một bản sắc đang phai mờ. Thực tế, những nhà máy mới vẫn đang mọc lên trên đất Mỹ, chỉ có điều chúng không nằm ở những thị trấn công nghiệp xưa cũ mà chọn những vùng đất mới. Đây vừa là lựa chọn tất yếu, đồng thời là một nghịch lý của nền kinh tế - chính trị Mỹ hiện tại.

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

Trong nhiều thế kỷ, ưu thế trên không là đặc quyền của các cường quốc quân sự. Máy bay không người lái (UAV) đang thay đổi điều đó. Khi khả năng tiếp cận từ trên không không còn là đặc quyền của vài cường quốc nữa, nó đang khiến cho những cuộc xung đột trở nên “cân bằng” hơn nhưng cũng khó kiểm soát hơn.

Sắc cờ thời xưa

Sắc cờ thời xưa

Chúng ta thường nghe kể rằng thời Nguyễn ở nước ta, vua treo cờ vàng, nhưng ít người biết rằng vua còn có nhiều sắc cờ khác nữa.

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Tòa án Pháp ra phán quyết phạt tù lãnh đạo một tập đoàn đa quốc gia vì hành vi tài trợ khủng bố trong bối cảnh xung đột tại Syria giai đoạn 2013 - 2014. Động thái này không chỉ phơi bày mức độ gắn kết giữa hoạt động kinh doanh và các mạng lưới cực đoan, mà còn phát đi cảnh báo rõ rệt về ranh giới pháp lý mà doanh nghiệp không thể vượt qua khi hiện diện tại các khu vực chiến sự.

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.