Cơn sốt khi đang lạc lối về

"Văn chương hậu chiến" là khái niệm cần được hiểu theo hai tầng bậc nghĩa: Thứ nhất, nó chỉ những tác phẩm được viết ra sau khi một cuộc chiến tranh chấm dứt. Thứ hai, những tác phẩm ấy viết về cuộc sống và con người sau chiến tranh, nhưng là thứ cuộc sống và con người dường như đã bị cái bóng ma của cuộc chiến trùm phủ, cách này hay cách khác, và không sao dứt ra thoát ra được.

Theo cả hai nghĩa ấy, nhìn gần, ta thấy một nền văn chương hậu chiến tranh Việt Nam (1945 - 1975) với những cái tên tác giả, tác phẩm nổi bật: Nguyễn Minh Châu với "Cỏ lau", "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành", "Mùa trái cóc ở miền Nam", Chu Lai với "Nắng đồng bằng", "Ăn mày dĩ vãng", Bảo Ninh với "Nỗi buồn chiến tranh", Võ Thị Hảo với "Người sót lại của rừng cười", Phạm Ngọc Tiến với "Tàn đen đốm đỏ" v.v…, cùng hàng loạt trường ca như những khúc dội của chiến tranh được viết trong khoảng thời gian 1980 - 1990. 

Và nhìn xa, ta thấy những nền văn chương hậu chiến tranh thế giới thứ II (1939 - 1945, năm 2020 này là tròn 75 năm nó chấm dứt), ở Mỹ và các nước châu Âu, những nền văn chương hợp thành một khối giá trị khổng lồ trong lịch sử văn chương nhân loại, những nền văn chương nói với ta rằng người ta có thể sống hoặc chết đi như thế nào khi cuộc chiến tranh vô cùng khủng khiếp ấy đã tận. Đã khổng lồ thì không ai và không có cách nào ôm xuể. Nên tôi đành phải tạm bằng lòng với việc "gẩy" ra, đọc vài dịch phẩm mới được xuất bản gần đây.

Ảnh: L.G .
Ảnh: L.G .

Trước hết, là tiểu thuyết "Lạc lối về" (Huỳnh Phan Anh dịch, Phanbook & NXB Văn hóa-Văn nghệ, 2018) của nhà văn người Đức Heinrich Boll (1917 - 1985), chủ nhân của Nobel văn chương năm 1972. Heinrich Boll viết và công bố tác phẩm này khoảng vài năm sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc. 

Ở đó, như nhận định của dịch giả Huỳnh Phan Anh: "Từ thân phận của một cá nhân, từ một kinh nghiệm lịch sử dù sao hãy còn mang nặng tính cách đặc thù, Heinrich Boll đã vẽ lên bộ mặt hiện thực nhất của chính con người thời đại này. Một bộ mặt thảm thương tan nát nhất của một thời đại phi nhân trong đó bi kịch ngày một đạt tới cao độ của nó" (Không gian và khoảnh khắc văn chương, NXB Hội Nhà văn, 1999, tr437, 438)

. Có thể nói, cái bi kịch trong "Lạc lối về" không phải là bi kịch của sự phải chết trong chiến tranh, mà là bi kịch của sự phải sống sau chiến tranh. Heinrich Boll không đẩy nhân vật chính của mình, Fred Bogner, chìm vào vũng lầy của nỗi ám ảnh về cuộc chiến đã đi qua, vùng vẫy trong những cơn mê sảng bom đạn, những giấc mơ đầy chết chóc kinh hoàng - như nhân vật Kiên trong "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh, nhà văn Việt Nam sau này - mà ông để Fred Bogner phải lê lết buồn bã trong cái khung cảnh của một thành phố xám xịt, đổ nát, rách rưới, nghèo nàn, thiếu đói… vì chiến tranh. 

Với Fred Bogner, chiến tranh chỉ thỉnh thoảng mới vọng lại như những âm thanh buồn chán mà có lần anh kể với vợ: "Ngày này qua ngày khác, ngồi tám tiếng đồng hồ liền bên máy điện thoại: Thông báo, thi hành, đặt tất cả vào công tác, giọt máu cuối cùng, mệnh lệnh, báo cáo, thanh sát, thi hành, giọt máu cuối cùng, giữ đến kỳ cùng, Fuhrer, trước hết, tránh sự lung lạc… Và những tiếng nhảm nhí nữa. Các đồn lính thì còn nói gì nữa. Anh đã ở gần ba năm trong chức vụ điện thoại viên, sự buồn chán mà anh uống ở đó, anh phải mất nhiều năm để khạc ra". Nhưng hậu chiến thì còn buồn chán gấp bội, và chính sự buồn chán ấy đã tàn phá anh đến thê thảm. 

Một kiểu tồn tại kỳ quặc đã diễn ra: Để tránh làm tổn thương vợ và các con, những người mà anh hằng yêu quý, Fred Bogner đã rời nhà để dìm mình trong men rượu và đi lang thang trên khắp các ngả đường thành phố, qua những đống gạch vụn, những ngôi nhà đổ nát, kéo lê bước chân vô định vào các quán tiệm tồi tàn, các nghĩa trang hiu quạnh… Anh vẫn làm những công việc lặt vặt để có chút tiền gửi cho vợ con hàng tháng, song vẫn sống như kẻ vô gia cư. Anh vẫn thỉnh thoảng gặp vợ mình, song không phải ở nhà, mà ở các góc phố khuất, trên các bãi hoang, trong công viên, hoặc trong các phòng trọ hạng bét, như một đôi tình nhân vụng trộm. Nhưng đó chưa phải điều tệ hại nhất. 

Điều tệ hại nhất là sau những lần gặp ấy, đến một lúc, Fred Bogner bất chợt nhìn vợ mình, Kate, như một người cách biệt và xa lạ hoàn toàn: "Nàng, người đàn bà mà tôi mới vừa gần gũi trong trọn một đêm thâu, người đàn bà mà tôi đã cưới làm vợ từ mười lăm năm nay. Tôi được dịp nhìn ngắm nàng, xem xét nỗi buồn rười rượi in sâu trên nét mặt nàng, chiêm ngưỡng vóc dáng của thân thể nàng, thân thể đêm đêm đã từng nằm bên tôi trong suốt những năm tháng dài, thân thể mà bốn tiếng đồng hồ trước đây tôi còn gần gũi chung đụng và mới tức thì đây tôi đã không nhận ra". Cái cảm thức xa lạ, thậm chí là thù nghịch ấy của Fred Bogner trước hình ảnh người vợ yêu, chỉ có thể bắt nguồn từ thái độ phủ nhận quá khứ như phủ nhận một mặc cảm tội lỗi mà Heinrich Boll, cũng như hầu hết các nhà văn Đức cùng thế hệ với ông, đều đã trải nghiệm trọn vẹn và đầy đau đớn. (Trước chiến tranh, Heinrich Boll từng tuyên bố không nhập ngũ, nhưng rồi vẫn bị bắt đi lính năm 1939, vài lần bị thương, năm 1945 ông bị quân Đồng minh bắt làm tù binh). Nó cho thấy rằng người ta đã phải khó khăn thế nào để có thể sống tiếp sau chiến tranh, để có thể chọn lựa tương lai từ một thực tại hậu chiến toàn những đổ vỡ. Không cần đến những ma thuật của truyện kể, nhưng "Lạc lối về" vẫn ám ảnh người đọc rất mạnh, là vì thế.

"Cha tôi đi tàu thủy tới Thụy Điển vào một ngày hè trời sắp đổ mưa. Chiến tranh kết thúc chưa đầy ba tuần". Đó là những câu mở đầu tiểu thuyết "Cơn sốt lúc bình minh" của Gardos Peter (Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam & NXB Lao Động, 2018). Khó nói rằng đây là tác phẩm thuộc văn chương hậu chiến. Chính xác, nó là tác phẩm thuộc văn chương viết về hậu chiến tranh thế giới thứ II, bởi vì nó ra đời rất muộn: Năm 1998, sau cái chết của cha, Gardos Peter - một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Hungary - mới được mẹ đưa cho một xấp thư mà cha mẹ ông đã trao đổi qua lại với nhau trước đó hơn nửa thế kỷ, ngay sau khi chiến tranh kết thúc. 

Từ xấp thư này, Gardos Peter đã viết thành tiểu thuyết "Cơn sốt lúc bình minh" và làm nên một cơn sốt thực sự trong làng xuất bản châu Âu năm 2015. Cuốn sách của Gardos Peter, có thể nói, lấy chất liệu chín mươi chín phần trăm "người thật việc thật", ấy là cuộc tình của cha mẹ ông và những bức thư mà hai người đã viết cho nhau suốt từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 2 năm 1946. Một phần trăm còn lại là việc của tác giả: Đặt những bức thư vào đúng chỗ của chúng trong mạch truyện, tạo khung cảnh cho các hành động mà những bức thư gợi ra, hình dung những chuyển biến tâm lý và cảm xúc của hai đấng sinh thành lúc họ mới thoát khỏi cuộc chiến và gặp nhau. 

"Cơn sốt lúc bình minh", tên tác phẩm, chỉ những cơn sốt 38,2 độ vào mỗi sáng sớm của Miklos, chàng trai 25 tuổi người Hungary vừa may mắn thoát khỏi lò thiêu của phát-xít Đức và được đưa đến điều trị trên đất Thụy Điển, với cơ thể nặng 29kg, hàm răng bị đánh rụng gần hết, hai lá phổi bị ruỗng vì bệnh lao và thời gian để sống chỉ còn sáu tháng. Miklos sắp chết, anh biết, nhưng điều đó không ngăn được tình yêu với sự sống và lòng ham sống cuồng nhiệt trong anh. Miklos đã viết thư làm quen với hàng chục cô gái Hung, những người cũng sống sót qua chiến tranh và được đưa đến Thụy Điển điều trị như anh. Lili, một trong số những cô gái ấy đã trở thành người yêu của Miklos, rồi thành vợ anh, trước tiên, từ những lá thư. 

Tình yêu kỳ lạ thời hậu chiến của hai con người trẻ tuổi khốn khổ ấy không phải không gặp những cản trở, song bằng sức mạnh vô biên của niềm tin và mơ ước, họ vẫn vượt qua để đến được với nhau và thuộc về nhau. Hãy nghe Lili trả lời bác sỹ điều trị của Miklos khi ông nói với cô rằng cái ý định kết hôn của họ là vô nghĩa và rồ dại, vì Miklos sắp phải chết: "Tôi tôn trọng trình độ chuyên môn giỏi, kinh nghiệm phong phú của bác sỹ, những thành tựu tầm thế giới của y học. Các loại dược phẩm, máy chiếu Rontgen, các máy hút đờm, ống tiêm của các vị. Tôi tôn trọng tất tật! Và tôi xin ông, hãy để chúng tôi được yên! Hãy để chúng tôi được mơ ước! Tôi cầu xin ông, hãy cho phép chúng tôi không để tâm tới khoa học! Tôi khẩn cầu ông, thưa bác sỹ trưởng, hãy để chúng tôi tự bình phục!". Họ quả thật đã "tự bình phục", vì Miklos không chết ở tuổi 25, mà mãi đến năm mươi ba năm sau ông mới chịu từ giã cõi đời. Có sự can thiệp nhiệm màu của Chúa toàn năng và giàu lòng nhân ái chăng? Không rõ. Và vì thế người duy lý đành phải tự giải thích rằng do sức trẻ, do chế độ điều trị tốt, và đặc biệt là do tác động của một đời sống tình cảm đầy những hưng phấn tích cực mà Miklos đã, một lần nữa, chiến thắng tử thần một cách ngoạn mục.

Hiệu quả ấy, phần lớn đến trực tiếp từ những bức thư mà Miklos và Lili viết và gửi cho nhau hàng ngày, thậm chí hàng giờ. Họ nói với nhau mọi chuyện: Hoàn cảnh sống hiện tại, những nhịp đập thổn thức của trái tim đang yêu, sự cuồng nhiệt với những tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, những ý nghĩ chỉ có thể thốt lên thành thơ, những dự định cho tương lai khi được trở về cố quốc v.v… (Những điều họ không nói thì đã có tác giả Gardos Peter/ người kể chuyện/ con trai của họ nói hộ, và nó thường là những ký ức khủng khiếp xảy ra trong chiến tranh. Ví dụ: "Cha tôi không nói ở trại tập trung Belsen, ông thiêu xác chết ba tháng ròng. 

Làm sao ông có thể nói về mùi thối bóp nghẹt, tắc nghẹn cổ họng bốc ra từ đống xác người? Có lời nào miêu tả nổi công việc khủng khiếp này? Làm sao có thể tả nổi những cánh tay trần trụi, vẩy mốc cứ trượt khỏi hai bàn tay ông và khô khốc rơi xuống những thân xác đã đóng băng cứng ngắc"). Những bức thư chuyên chở những-điều-nói-ra ấy đương nhiên là cái xoa dịu những-điều-không-nói-ra-được của họ, là nhịp cầu gắn kết hai con người trẻ tuổi tưởng như đã bị chiến tranh làm cho tan nát. Và hơn thế, chúng là dưỡng chất cho tình yêu và cho chính sự sinh tồn của họ, chúng chứng minh rằng con người ta có thể vượt qua sự hoang tàn của thế giới và vượt lên trên những giới hạn làm người của mình xa đến thế nào.

Những mẫu hình sống chưa từng biết đến 

 "Lạc lối về" của Heinrich Boll và "Cơn sốt lúc bình minh" của Gardos Peter, hai tiểu thuyết ra đời cách nhau hơn nửa thế kỷ, kể những câu chuyện khác nhau, nói về những cách thế sống và những số phận cuộc đời rất khác nhau của con người châu Âu sau khi chiến tranh thế giới thứ II tàn cuộc.

Nhưng có một điều trùng hợp trong sự khác biệt giữa hai tiểu thuyết này: Chúng không kể những câu chuyện mang tính phổ quát, mà đây là những câu chuyện rất cá biệt, những mẫu hình sự sống chưa từng được biết đến từ trước tới nay, như một ý về tiểu thuyết mà Milan Kundera từng đề cập. Chỉ cần thế thôi, có lẽ cũng đủ để làm nên sự đáng giá.

Nam Hoài

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.