Chữ Việt cổ và sự kiến tạo truyền thống

Ba tiếng “chữ Việt cổ”, với nhiều người, là một tiếng gọi thiêng liêng, có sức ám ảnh rất lớn, nó vừa như là một nhiệm vụ khoa học, lại vừa như là một bài toán thách đố. Vì thế, trong gần trăm năm qua, có rất nhiều người đã đi theo tiếng gọi từ nơi viễn cổ xa xăm này, để nhặt nhạnh những vết tích đã phai mòn theo thời gian, để phục dựng lại những con chữ của “người Việt cổ” từ vài ngàn năm trước.

Nếu tìm trên Google, bạn đọc sẽ thấy khá nhiều thông tin về “chữ Việt cổ”, “chữ khoa đẩu”, “chữ viết thời Hùng Vương”, với sự tham gia của cả giới học thuật lẫn bình dân. Những từ khóa ấy vẫy gọi sự tự hào dân tộc và một hình dung về truyền thống văn hóa cổ xưa đã tan biến qua bao thăng trầm của chiến tranh và lịch sử con người.

Chữ Việt cổ là gì?

Cha đẻ của bộ sưu tập “chữ Việt cổ” là nhà giáo Đỗ Văn Xuyền. Ông đã nghiên cứu các cứ liệu khảo cổ, thư tịch cổ, kết hợp với điền dã để chứng minh rằng: Chữ Việt cổ là một thành tựu rực rỡ của văn minh thời Hùng Vương, thứ chữ ấy đã bị người Hán tiêu diệt và phải “sống lén lút”, hay phải ngụy trang dưới nhiều hình thức khác nhau và loại chữ viết này có tên là “chữ khoa đẩu” (xem “Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ”, NXB Hồng Đức, 2013). Chứng cứ văn tự còn chép được là trong sách “Lĩnh Nam chích quái”: “Thời Lạc Long Quân có người hái củi, bắt được con rùa, lưng rộng khoảng ba thước, trên mai có khắc chữ như con nòng nọc, gọi là chữ khoa đẩu. Hùng Quốc vương đã cử phái đoàn đem rùa thần đó cống cho vua Nghiêu”.

Chữ Việt cổ và sự kiến tạo truyền thống -0
“Hịch khởi nghĩa” được ông Đỗ Văn Xuyền viết theo chữ Việt cổ.

Dựa vào tài liệu “Chữ Thái tổ tự” của Phạm Thận Duật (Tri châu Điện Biên năm 1855) và các chữ viết trong “Thanh Hóa quan phong” của Vương Duy Trinh (1903), cũng như so sánh với chữ viết trên bãi đá cổ Sapa và các minh văn trên trống đồng, ông đã xác lập được bảng chữ cái chữ Việt cổ dùng để ghi tiếng Việt của người Việt cổ. Bảng chữ cái này có đầy đủ số lượng phụ âm và nguyên âm cơ bản như chữ quốc ngữ nhưng không có dấu thanh.

Việc bộ chữ không có dấu thanh được giải thích rằng nó phù hợp với kết luận của học giả người Pháp Haudricourt: “Trước Công nguyên, người Việt nói không dấu”. Nhìn vào hệ thống tư liệu, cách làm việc, thời gian nghiên cứu, cũng như nhiệt huyết của tác giả Đỗ Văn Xuyền, người bình thường cho rằng đây là một nghiên cứu công phu và có tính liên ngành, đặc biệt ông vừa sử dụng tư liệu khảo cổ kết hợp với văn tự cổ và thư tịch cổ. Nhưng, tôi cho rằng, đây đơn thuần là bộ chữ do tác giả tạo ra trong thế kỷ XXI và ông tin rằng đó chính là chữ Việt cổ đã tồn tại cách nay hơn 2 ngàn năm. Vậy cứ liệu nào để nói như vậy?

Chữ khoa đẩu

là gì?

Như trên đã trình bày, tác giả Đỗ Văn Xuyền dựa vào ghi chép của “Lĩnh Nam chích quái” và một số tư liệu khác cho rằng chữ Việt cổ (tương đương với thời vua Nghiêu) được gọi là chữ khoa đẩu, hay chữ nòng nọc. Nhưng, bất kỳ ai biết chữ Hán đều biết rằng “khoa đẩu” là một kiểu chữ của thư pháp chữ Hán. “Hán ngữ đại từ điển” (quyển 8, trang 931 ghi): Khoa đẩu được ghi bằng các chữ Hán là viết tắt từ các tên khoa đẩu thư, khoa đẩu văn, khoa đẩu văn tự, khoa đẩu triện văn, khoa triện, khoa đẩu điểu tích. Kiểu chữ này là một kiểu triện thư thuộc văn tự cổ của chữ Hán. Tô Thức thời Tống trong bài “Thạch cổ ca” có ghi: “nhớ Chu Tuyên hát bài Hồng Nhạn, khi ấy sử chữ triện đổi sang chữ khoa đẩu”. Củng Tự Trân trong tác phẩm “Cổ sử câu trầm luận” ghi: “Vách họ Khổng sáng ngời [khi phát hiện ra sách cổ giấu ở trong], chữ khoa đẩu rực rỡ”. Sách “Tự thể toàn thư” (Thư viện Quốc gia Việt Nam) có viết chữ “khoa” dưới dạng khoa đẩu và chú rằng loại chữ này do vua Chuyên Húc tạo ra. Sách này còn ghi nhiều thể chữ khác như long thư (chữ viết theo hình rồng) do Phục Hy sáng tạo, phượng thư (chữ hình chim phượng) do Thiếu Hạo chế tác, vân khánh (chữ theo hình mây lành) do Hoàng Đế làm ra, điểu tích (chữ theo vết chân chim) cho Thương Hiệt sáng tạo, tước thư (chữ hình chim sẻ)... Bản thân các kiểu chữ này vốn chỉ là các kiểu chữ trang trí dành riêng cho triện thư nhưng sau còn được áp dụng sang cho cả khải thư. Và, các nhà Nho đời sau, dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, cũng đã sáng tạo truyền thống bằng cách nghĩ ra các tác giả của các kiểu chữ này. Việc gán các thể chữ đó cho các vị vua là để nhấn mạnh công đức sáng tạo văn hiến của các vị đế vương huyền thoại. Với những hiểu biết như trên về chữ “khoa đẩu”, ta thấy rằng ghi chép của “Lĩnh Nam chích quái” về một kiểu chữ “khoa đẩu” cổ thời Việt Thường cũng là một kiểu sáng tạo truyền thống của các nhà Nho Đại Việt thế kỷ XIV nhằm hình dung về lịch sử cách thời điểm biên soạn sách đến vài ngàn năm.

Chữ Thái và thao tác sắp chữ cái

Đến đây, ta đi đến chứng cứ văn tự mà tác giả Đỗ Văn Xuyền dựa vào để xây dựng nên bảng chữ Việt cổ. Tôi cho rằng, ông đã sử dụng một bộ chữ Thái được chép trong “Thanh Hóa quan phong” và “Chữ Thái tổ tự” của Phạm Thận Duật và xắp xếp các chữ này theo ngữ âm tiếng Việt hiện đại. Nguyên ủy, Vương Duy Trinh sau khi liệt kê các mẫu tự ở phía Tây Thanh Hóa (đầu thế kỷ XX) đã nhận định rằng lối chữ này là “lối chữ nước ta” (Vương Duy Trinh, “Thanh Hóa quan phong”, Liễu Văn đường khắc in, năm 1904, tờ 69b). Dựa vào nhận định này mà tác giả Đỗ Văn Xuyền đã phát triển thành “chữ Việt cổ”. Bản thân Vương Duy Trinh chỉ liệt kê các chữ cái, mà không chép lại một văn bản trọn nghĩa đầy đủ, nên ông Đỗ đã dùng bộ chữ cái đó để chép một số văn bản tiếng Việt, ví dụ như câu: “Nghêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ hạc là người quen”, tiêu biểu hơn, ông đã dùng bộ chữ này để chép lại toàn bộ “Hịch khởi nghĩa” của Hai Bà Trưng (ảnh dưới).

Bộ chữ mà Vương Duy Trinh nêu ra là loại chữ Thái Đen ở phía Tây Thanh Hóa (xem Phan Anh Dũng, “Về chữ Thái Việt Nam trong tác phẩm Thanh Hóa quan phong”, Tạp chí Hán Nôm, số 2(99) 2010, tr. 24-30). Đây là một trong 8 bộ chữ Thái được sử dụng dùng để ghi tiếng Thái ở Việt Nam. Theo nhà dân tộc học nổi tiếng - Cầm Trọng (2005) cả 8 loại hình kí tự ấy đều có nguồn gốc từ chữ Sanskrit (Ấn Độ) thông qua mẫu tự Khmer. “Chúng hoàn toàn giống nhau về nguyên tắc dùng phụ âm, nguyên âm để ghép vần ghi được âm tiết Thái”. Như vậy, thao tác của ông Đỗ Văn Xuyền có thể trình bày như sau: Chữ khoa đẩu = chữ Việt cổ = chữ Thái của Vương Duy Trinh. Sau khi đánh được 2 dấu bằng giữa 3 thứ chữ khác nhau dùng để ghi 3 ngôn ngữ khác nhau ở 3 thời điểm khác nhau, ông đã sắp lại các chữ cái của Thái Đen thành một bảng chữ ghi âm tiếng Việt hiện đại theo đúng cách mà sách giáo khoa tiếng Việt vẫn dùng để dạy chữ cho học sinh tiểu học. Bước thứ ba, ông chép lại một văn bản được cho là có từ thời Hai Bà Trưng để thấy được hình dáng ban đầu của thứ chữ này. Nhưng, bài “Hịch khởi nghĩa” được chép trong sách của Phạm Quý Truật này cơ bản cũng là một tài liệu không rõ nguồn gốc. Đọc lời văn thì là tiếng Việt hiện đại chứ không phải tiếng Việt thế kỷ 17-18. Dù bản gốc là Nôm hay Hán thì tác giả đã “chuyển tự” từ bản dịch tiếng Việt hiện đại sang bộ chữ mà chính ông đã sáng tạo ra. Đến đây, chắc không ít bạn đọc đã nhớ ra truyện thám tử Connan cũng từng phá án bằng cách giải mã các “bộ chữ” tự đặt theo các nguyên tắc này. 

Tiếng Việt cổ và lịch sử tiếng Việt

Bây giờ ta sẽ đi đến vấn đề cuối cùng là tìm hiểu xem tiếng Việt cổ là gì. Về nguyên tắc, “chữ Việt cổ” sẽ ghi lại tiếng Việt cổ. Theo nghiên cứu của GS Nguyễn Tài Cẩn và nhiều nhà ngữ học quốc tế khác như Mark Alves (Mỹ), thì tiếng Việt mới chỉ có lịch sử 12 thế kỷ (từ thế kỷ 8-9 về sau), trước đó là các tiền thân của tiếng Việt như tiếng Việt Mường chung, hay Vietic. Trong 12 thế kỷ này, ngữ âm và ngữ pháp tiếng Việt biến đổi không ngừng, đến mức người ngày nay không thể đọc hiểu được một văn bản tiếng Việt thời Lý như bản dịch Nôm sách “Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh”. Trong 12 thế kỷ này, thì khái niệm “tiếng Việt cổ” là chỉ cho giai đoạn thế kỷ 13-15, tương đương với các bài phú Nôm của đời Trần và “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi. Vậy tại sao ông Đỗ Văn Xuyền bỏ qua các tri thức nền tảng chung của ngôn ngữ học để đi tìm chữ Việt cổ? Bởi vì, về tri thức luận, ông nghĩ rằng, người Việt cổ đã tồn tại cả ngàn năm bất biến từ xưa cho đến nay, nên ông suy ra rằng tiếng Việt cũng bất biến như người Việt trong suốt đôi ba thiên niên kỷ.

Ông dùng tri thức của người thế kỷ XX - XXI để phóng chiếu về quá khứ, cho rằng quá khứ là thống nhất, xuyên suốt, thường hằng, qua thời gian. Tình yêu và những nỗ lực ông dành cho văn hóa, cho lịch sử là không thể phủ nhận, nhưng tình cảm không thay thế được cho khoa học. Có những khoa học hòa chung với tình yêu đất nước, nhưng không phải tình yêu đất nước nào cũng trùng với kết quả khoa học.

Trần Trọng Dương

Các tin khác

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Tòa án Pháp ra phán quyết phạt tù lãnh đạo một tập đoàn đa quốc gia vì hành vi tài trợ khủng bố trong bối cảnh xung đột tại Syria giai đoạn 2013 - 2014. Động thái này không chỉ phơi bày mức độ gắn kết giữa hoạt động kinh doanh và các mạng lưới cực đoan, mà còn phát đi cảnh báo rõ rệt về ranh giới pháp lý mà doanh nghiệp không thể vượt qua khi hiện diện tại các khu vực chiến sự.

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.