“Chiến dịch Huyết Tử” của Đế Quốc Nhật

“Người Mỹ đến càng sớm càng tốt. Trăm triệu người sẽ chết trong kiêu hãnh”. Đó là câu khẩu hiệu của người Nhật trong mùa Hè năm 1945. Người Nhật âm thầm hành động, không hề phản kháng. Tiếp tục chiến đấu không còn là vấn đề tư duy quân sự Nhật Bản mà nó là một khía cạnh văn hóa và tâm lý của nước này.

Chiến lược phòng thủ

Với phần lớn sức mạnh quân sự Nhật ở nước ngoài và sản xuất công nghiệp không ngừng hứng chịu không kích của Mỹ, phòng thủ đảo quốc Nhật trở thành một thách thức khổng lồ cho Tổng bộ chỉ huy đế quốc Nhật (IGHQ). Ngày 8/4/1945, IGHQ hạ lệnh (có hiệu lực từ ngày 15/4) kích hoạt các Tập đoàn quân số 1, 2 chịu trách nhiệm cho việc phòng thủ trên bộ đảo quốc Nhật Bản. Ngày 8/4/1945, IGHQ hạ lệnh kích hoạt Quân đoàn không quân (có hiệu lực từ 15/4).

Cùng lúc đó IGHQ hạ lệnh tiến hành Chiến dịch Huyết Tử, chia lãnh thổ Nhật Bản thành 7 khu nhằm mục đích tiến hành các trận đánh quyết định cuối cùng. Chiến lược Huyết Tử được vạch ra vào ngày 8/4/1945 trong Chỉ thị quân đội với tuyên bố rằng quân đội Thiên hoàng sẽ nghiền nát quân Mỹ khi giặc ngoại xâm trên biển.

“Chiến dịch Huyết Tử” của Đế Quốc Nhật -0
Các nhà sư Nhật học cách chiến đấu bằng súng trường và lưỡi lê dưới sự giám sát của một sĩ quan Nhật. Ảnh nguồn: Warfare History Network.

Ban đầu họ lập kế hoạch hủy diệt càng nhiều tàu sân bay càng tốt, sử dụng các lực lượng tấn công đặc biệt của không quân, hải quân. Khi các lực lượng đổ bộ tiếp cận phạm vi các căn cứ không quân nội địa thì toàn bộ sức mạnh không chiến sẽ được triển khai tấn công cả ngày lẫn đêm chống lại các tàu đổ bộ. Một khi các lực lượng Mỹ đổ bộ thành công thì họ sẽ bị quân đội Thiên Hoàng đánh tan tác nhằm tìm kiếm chiến thắng quyết định. Mục tiêu chính của chiến dịch trên bộ là tiêu diệt lực lượng đổ bộ Mỹ trên biển. Chiến dịch Huyết Tử được thiết kế như một nỗ lực phòng thủ chung toàn diện với sự tham gia của lục, hải, không quân Nhật.

Kế hoạch căn bản của Chiến dịch Huyết Tử kêu gọi hải quân phòng thủ duyên hải bằng cách tấn công các đội tàu địch với sự kết hợp các lực lượng mặt nước, tàu ngầm và không quân. Quân đoàn không quân sẽ hợp tác chặt chẽ với hải quân trong việc xác định các hoạt động vận tải Mỹ và hủy diệt chúng trên biển. Bên cạnh đó nếu chiến đấu trên biển không kết thúc thành công thì sẽ chuyển sang chiến tranh nội địa. Khi đó, các đơn vị cảnh vệ và các quân đoàn phỏng thủ dân sự đóng vai trò là hạt nhân sẽ được triển khai trong vai trò lính kháng chiến nội địa. Họ sẽ diệt địch thông qua chiến tranh du kích, gián điệp, xáo trộn những khu vực tiếp tế, phong tỏa nguồn cung khi các lực lượng địch đổ bộ lên đảo.

Chiến dịch Huyết Tử được phân làm 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là chuẩn  bị phòng thủ và tổ chức các đơn vị quân tiếp tục xuyên suốt tháng 7/1945. Giai đoạn hai và ba chưa từng hoàn tất vì đã kết thúc chiến tranh. Do đó nếu được thực hiện cả 3 giai đoạn thì ngày X sẽ được triển khai khi các kế hoạch phòng thủ hoàn tất.

Cũng xin nhắc qua về chiến dịch Olympic khi đó các lực lượng Mỹ sẽ đổ bộ chống lại Tập đoàn quân số 2. Khu vực phòng thủ của Tập đoàn quân số 2 là phần phía Tây và các hòn đảo Shikoku và Kyushu. Chỉ trong vòng 3 ngày được kích hoạt, ngày 18/4/1945, Tập đoàn quân số 2 đã thiết lập trụ sở thường trực ở Hiroshima. Tập đoàn quân số 2 chỉ huy các tập đoàn quân khu số 15 và 16 (tương đương quân đội dã chiến Mỹ). 7 khu kiến tạo nên Chiến dịch Huyết Tử cùng có các kế hoạch phòng thủ riêng.

Tập đoàn quân số 2 ước tính rằng Mỹ sẽ mở rộng căn cứ ở Okinawa bằng cách thành lập các căn cứ không quân và bắt đầu tấn công quần đảo Nhật Bản qua phía Nam Kyushu. Người Nhật ước tính chính xác rằng mục tiêu của Mỹ là đảm bảo cho Kagoshima Wan trở thành nơi neo đậu an toàn cho việc xây dựng lực lượng. Tình báo Nhật Bản ước tính rằng Mỹ có thể xâm lược vào tháng 10 hoặc tháng 11/1945 khi đó cần tới sức mạnh của 10 sư đoàn.

Mục tiêu của Chiến dịch Huyết Tử là gây thương vong lớn cho các lực lượng Mỹ tiến tới làm giảm ý chí của người dân Mỹ tiếp tục chiến đấu đòi Nhật đầu hàng vô điều kiện. Tuyên bố này cho thấy rõ ràng vào mùa Hè 1945, các chiến lược gia Nhật đã xác định ý chí của người dân Mỹ là trọng tâm chiến lược của Mỹ, và điểm dễ bị tổn thương nghiêm trọng là nguyên nhân gây ra thương vong cao.

Phòng thủ đảo Kyushu

Người ta thường thừa nhận rằng Mỹ sẽ đổ bộ ban đầu lên Kyushu nên Tập đoàn quân số 16 được ưu tiên tiếp nhận vật tư và xây dựng sức mạnh quân đội. Việc xây dựng công sự cũng được chú trọng. Trong chiến dịch Huyết Tử, Quân khu 16 cũng tự lên kế hoạch phòng thủ chi tiết của riêng mình. Nổi tiếng với tên gọi Chiến dịch Mutsu, kế hoạch của Quân khu 16 đã phân Kyushu thành 3 phần với 7 sư đoàn phụ. Quân khu 16 ước tính rằng nỗ lực đổ bộ chính của người Mỹ là trực tiếp chống lại bờ biển Đông Nam gần Miyazaki, với cuộc tấn công thứ cấp dự kiến được thực hiện tại Ariake Wan và dọc theo bờ biển Tây Nam tại Fugiachi Hama thuộc bán đảo Satsuma. Chiến dịch Mutsu số 1 được ưu tiên hơn các chiến dịch khác. Người Nhật cực kỳ chính xác khi lần ra các khu vực đổ bộ của người Mỹ.

Được triển khai khắp Kyushu và những hòn đảo lân cận, Quân đoàn 16 có 3 đội quân và 2 lực lượng đặc nhiệm với tổng cộng 15 sư đoàn, 7 lữ đoàn hỗn hợp độc lập, 3 lữ đoàn tăng độc lập và đơn vị pháo. Trong trường hợp có giặc ngoại xâm, Quân đoàn 16 sẽ tập trung lực lượng gồm các sư đoàn quân dự bị và 3 lữ đoàn tăng. Nhiệm vụ của họ là diệt địch càng sớm càng tốt sau khi đổ bộ ban đầu thành công. Các nhóm được giao nhiệm vụ phòng thủ bờ biển có chức năng ngăn chặn quân thù, trong khi lính dự bị sẽ tập trung cho trận đánh quyết định hoặc trong một số trường hợp họ sẽ cầm cự trong thời gian dài cho đến khi giành chiến thắng quyết định ở một số khu vực khác. Những vị trí phòng thủ trên đảo Kyushu được xây dựng dựa trên 3 nguyên tắc căn bản để chống Mỹ, đó là: 1) Các vị trí nên được xây dựng ngoài phạm vi bắn phá của hải quân địch; 2) Nên xây dựng các vị trí trong hang động để chống lại không kích; 3) Chọn vùng đất cao khiến tăng phun lửa không thể tiếp cận được.

Kế hoạch ban đầu của người Nhật là kêu gọi cung cấp cho mỗi sư đoàn 1 đơn vị hỏa lực chiến lược, đến tháng 7/1945, số lượng này thuộc quyền sở hữu của các quân đội khu vực. Một đơn vị hỏa lực thường được hiểu là có đủ nguồn cung trong suốt 3 tháng. Cụ thể 1000 viên đạn/mảnh đất, 25.000 viên đạn/ khẩu súng máy, và 240 viên đạn/khẩu súng trường. Đến tháng 8/1945 khi quân số tăng lên thì số lượng kho đạn dược giảm còn ½ cho mỗi đơn vị.

Nếu quân Mỹ đổ bộ, các máy bay sẽ được tung ra theo từng đợt, nôm na là mỗi giờ sẽ có từ 300 đến 400 chiếc. Nhưng chỉ có 8.000 phi công trong tư thế sẵn sàng. Dù không được đào tạo bài bản như các phi công Mỹ, nhưng các phi công Nhật cũng khét tiếng về kỹ thuật tác chiến cảm tử của họ. Khi chiến cuộc kết thúc, Nhật có xấp xỉ 12.725 máy bay. Lục quân có 5.651 chiếc và Hải quân có 7.074 chiếc. Các hoạt động hải quân chống lại hạm đội tàu ngoại xâm sẽ được tiến hành theo 2 giai đoạn. Đầu tiên sẽ bao gồm việc tiêu hao hạm đội Mỹ khi nó tiếp cận đảo quốc Nhật. 38 tàu ngầm còn lại của Nhật Bản sẽ cố gắng tiêu diệt càng nhiều tàu vận tải địch càng tốt. Chúng được dùng làm bệ phóng cho ngư lôi tự sát có người lái mang tên “Kaitens”.

Ngoài ra các tàu ngầm 5 người mang tên “Koryu” cũng triển khai 2 ngư lôi hoặc đầu nổ để đánh cảm tử. Hải quân Nhật dự định có 540 Koryu sử dụng vào thời điểm giặc đổ bộ. Khi quân xâm lược tiếp cận các khu vực đổ bộ, giai doạn thứ 2 sẽ hình thành. 19 tàu khu trục sống sót sẽ tấn công các tàu vận tải Mỹ tại các bãi biển. Các tàu tấn công cảm tử được gọi là “Shinyo” sẽ chở theo 249,4 kg thuốc nổ giấu ở mũi tàu, sẽ tấn công địch dọc theo bờ biển.

Theo một ước tính thì hải, lục quân Nhật có tổng cộng 3.300 tàu tấn công cảm tử đặc biệt. Cuối cùng còn phải kể đến lực lượng người nhái “Fukuryu” thường lặn ở độ sâu 9m. Fukuryu nằm ở hàng ngoài cùng chuyên thả mìn đã neo hoặc mang mìn đến các tàu đi qua gần họ. Gần bờ hơn có 3 hàng thợ lặn luôn giữ ở khoảng cách hoạt động cách nhau 18m. Hang ổ đưới nước của Fukuryu được làm bằng bê tông kiên cố với các cửa sắt. Có khoảng 18 thợ lặn đóng đô trong mỗi “hang cáo” như thế.

“Chiến dịch Huyết Tử” của Đế Quốc Nhật -0
Những địa điểm đổ bộ chính của quân Mỹ trên đảo Kyushu. Các tài liệu tình báo được giải mật gần đây cho thấy người Nhật đã không chuẩn bị tốt. Ảnh nguồn: Warfare History Network.

Phòng thủ bờ biển và công sự

Người Nhật có nhiều kinh nghiệm về cách người Mỹ tiến hành các cuộc tấn công đổ bộ tại mặt trận Thái Bình Dương. Cuối năm 1944, người Nhật cũng biệt phái một toán sĩ quan nhằm hỏi thăm người Đức về cách họ phòng thủ ở Normandy, và cách Đồng Minh tái tấn công để giành lại châu Âu. Từ những kinh nghiệm này mà hàng rào phòng thủ của Nhật trên đảo Kyushu được chia thành 3 khu vực.

Khu vực 1 - Các vị trí bãi biển. Những công sự bờ biển được xây dựng trong các hang động dưới dạng khu ẩn  náu để chống bom, đặc biệt là từ hỏa lực hải quân. Chúng có khả năng tấn công ở cự ly gần và chống lại các cuộc tấn công bằng súng phun lửa, và khí gas. Khu vực 2 - Tiền cảnh. Các chướng ngại vật, những vị trí ẩn nấp, mìn hẹn giờ, và những địa đạo tấn công sử dụng những đặc điểm địa hình tự nhiên nhằm làm chậm cuộc tấn công và chiến đấu ngay trong phòng tuyến địch, nhằm giới hạn hiệu quả của hỏa lực hải quân và yểm trợ tầm gần. Khu vực 3 - Khu kháng chiến chính. Các tiểu đoàn và những đơn vị lớn hơn sẽ chiếm giữ những địa hình then chốt và hoạt động độc lập với nhau. Những vị trí này chủ yếu được tổ chức cho chiến tranh diệt tăng và khai hỏa đủ gần. 

Người Nhật đặc biệt chú ý đến công tác ngụy trang khi xây dựng các pháo đài ngầm. Những vị trí phòng thủ tránh xa tầm quan sát từ trên không, trên bộ và trên biển. Còn có những địa hình chiến đấu giả nhằm mục đích đánh lừa. Các công trình hang động được kiên cố hóa để chống lại hỏa lực hải quân. Mỗi cái hang như thế là nơi chứa nước, đạn dược, nhiên liệu, vũ khí chống tăng, muối, các viên vitamin, và vật tư y tế. Ngoài ra các công sự trên đất liền cũng được xây dựng nhằm củng cố chỗ che giấu những thiết bị hạng nặng như tăng, xe cơ giới, pháo binh hạng năng, cũng như các nhà kho chứa bom, đạn dược và nhiên liệu. Giống như nhiều hòn đảo ở Thái Bình Dương, những kho chứa này không bị tàn phá bởi các cuộc oanh kích của không quân, hải quân Mỹ.

Phòng thủ bán đảo Satsuma

Chiến dịch Mutso số 1 gồm việc phòng thủ phía Nam Kyushu của 2 tập đoàn quân 40 và 57. Khu vực trên đảo Kyushu có nguy cơ dễ bị xâm lược nhất. Đối với khu vực bán đảo Satsuma có sự tham gia bảo vệ của các sư đoàn 146, 206 và 303, ngoài ra còn có Lữ đoàn hỗn hợp độc lập 125 của Tập đoàn quân 40. Giai đoạn phản công sẽ được thực hiện bởi các lực lượng dự bị cơ động thuộc các sư đoàn 25, 57, 77 và 216, cùng với 3 lữ đoàn tăng.

Ngoài ra còn có việc tái triển khai 2 sư đoàn từ Quân khu 15 ở Honshu nhằm tăng cường phản công ở miền Nam Kyushu. Tập đoàn quân 40 đã tập trung nhiều súng cối và pháo binh ở mạn Tây của bán đảo Satsuma thuộc khu vực hành động của Sư đoàn 216. Nhiều đơn vị của Tập đoàn quân 40 được tổ chức và huấn luyện nghèo nàn. Các sư đoàn bộ binh 303 và 206 là đặc biệt kém cỏi. Sư đoàn 77 được dặt dưới sự kiểm soát của Tập đoàn quân 40 và đóng vai trò dự bị ở Bắc Kagoshima Wan.

Sư đoàn 25 được đặt dưới sự kiểm soát của Tập đoàn quân 57, đóng vai trò quân dự  bị ở thành phố Miyakonojo và chuẩn bị phản công khu vực Miyazaki. Nếu có những dấu hiệu ban đầu hướng tới cuộc xâm lược miền Nam Kyushu thì sư đoàn 57 và lữ đoàn tăng độc lập 4 của Tập đoàn quân 56 sẽ rút khỏi Fukuoka và hành quân tới Kirishima. Kế hoạch phòng thủ cũng kêu gọi Quân đoàn dân sự tình nguyện, với sự tham gia của đàn ông từ 15 đến 60 tuổi và phụ nữ từ 17 đến 40. Họ được dạy cách dùng lựu đạn, kiếm, kéo, dao, và cả giáo tre. Được trang bị các loại vũ khí hạng nhẹ và chất nổ, những người này sẽ xâm nhập vào cơ sở địch vào ban đêm. 1/3 phía Nam Kyushu có dân số 2.400.000 người trong phạm vi 325km2 bao gồm các tỉnh Kagoshima và Miyazaki. 

Người Nhật quyết tâm đánh trận cuối cùng ở Kyushu. Bằng bất cứ giá nào, các lãnh đạo quân sự Nhật cũng phải đẩy lùi mọi nỗ lực đổ bộ của địch. Người Nhật tổ chức các cuộc tấn công cảm tử nhiều hơn số lần mà người Mỹ đã thực hiện trong chiến tranh. Họ hy vọng phi đội Thần Phong sẽ cứu đất nước khỏi lâm nguy giống như cách người Mông Cổ đã đẩy lùi địch vào thế kỷ 13.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.